Mẹ Bề trên Agnès Đỗ Thị Tươi (Sâm)

0

MẸ BỀ TRÊN AGNÈS ĐỖ THỊ TƯƠI (SÂM)

Nhiệm kỳ:  1966 – 1969

Mẹ Agnès Đỗ Thị Sâm sinh ngày 12 tháng 6 năm 1905 tại Trung Lễ, Xuân Trường, Bùi Chu. Con Ông Cố Nguyễn Văn Bảo và Bà  Đỗ Thị Nguyện.

Năm 1925 Mẹ gia nhập Nhà Phước Bùi Chu, cùng với chị em sống một cuộc đời nhiệm nhặt theo Lề luật Nhà Phước. Mẹ đã sống theo lý tưởng cao đẹp là thánh hóa bản thân và cứu rỗi các linh hồn trong những việc thường ngày như làm thuốc viên, thêu áo lễ, đan ren, may áo, dệt vải, dệt chiếu, chăn nuôi, làm ruộng…

Năm 1951, Nhà Phước Bùi Chu được cải tổ thành Dòng. Ngày 3 tháng 8 năm 1951 Mẹ vào Nhà Tập và ngày 4 tháng 8 năm 1952 khấn lần đầu tại Nhà Mẹ Bùi Chu.

Sau khi khấn lần nhất, mẹ được chỉ định làm Bề trên Nhà Bùi Chu và phụ trách các em cô nhi tại Nhà “Thương Xót” Bùi Chu.

Ngày 6 tháng 6 năm 1954, tại Nhà Mẹ Bùi Chu, dưới sự chủ tọa của Đức Cha Bùi Chu Phêrô Phạm Ngọc Chi, đã bầu cử Ban Tổng Điều Hành cho Dòng theo như Hiến pháp Dòng ấn định, nhiệm kỳ là 6 năm, Mẹ đã đắc cử với vai trò là Tổng Cố vấn II trong Ban Tổng Điều Hành.

Cuối tháng 6 năm 1954, một biến cố lịch sử đã xảy đến cho Dòng, với quyết định của Đức Cha Phêrô Phạm Ngọc Chi, cùng với Mẹ Bề trên Cả Emilia Nguyễn Thị Sê, Mẹ đã đưa hầu hết chị em và Nhà Tập di cư vào Nam Việt Nam[1]. Vào đến Sài Gòn, chị em được chia thành 3 nhóm, một nhóm ở Trung tâm cư trú Biên Hòa (bệnh viện tâm thần); một nhóm ở Mỹ Hảo; một nhóm ở Hàng Xanh do Mẹ phụ trách.

Sau khi nhà cửa tại trụ sở Nhà Mẹ Tam Hiệp ổn định, Mẹ Agnès và các chị em ở Hàng Xanh – Sài Gòn trở về trụ sở chính năm 1955. Cũng trong năm này, Mẹ Agnès được chỉ định làm Bề trên Nhà huấn luyện chung tại Hố Nai, Biên Hòa của 5 giáo phận di cư là Bùi Chu, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình và Lạng Sơn. Đến năm 1958, Hội Dòng Đa Minh Việt Nam được thành lập gồm các chị thuộc ba địa phận Bắc Ninh, Hải Phòng và Thái Bình, trụ sở chính đặt tại Trung tâm huấn luyện chung của 5 địa phận di cư. Chính vì vậy, Hội Dòng Đa Minh Bùi Chu (Tam Hiệp) rút nhà Tập về lại Tam Hiệp. Trở về trụ sở nhà Mẹ, Mẹ Agnès được trao công tác làm Giám đốc Đệ Tử.

Từ năm 1961 đến năm 1965, Mẹ lãnh trách nhiệm làm Bề trên Tu viện Gò Vấp, Tu xá Kiến Thiết, Sài Gòn.

Năm 1966, Mẹ đắc cử Bề trên Cả của Hội Dòng với nhiệm kỳ 6 năm[2]. Trong những năm này, tình hình xã hội Việt Nam cũng như thế giới có nhiều biến chuyển, đặc biệt trong Giáo hội Công giáo, vừa diễn ra một biến cố lịch sử đó là Công đồng Vaticanô II. Công đồng Vaticanô II bế mạc ngày 8/12/1965 mở ra cho cuộc canh tân vĩ đại trong lịch sử Giáo hội. Và đời sống tu trì – một bộ phận thiết yếu của đời sống Giáo hội cũng phải được canh tân để trở nên mới mẻ trong nhiệm thể Chúa Kitô.

Ngày 6 tháng 8 năm 1966, Đức Thánh Cha Paulô VI đã ra Tự sắc Ecclesiae Sanctae bắt buộc hết các Dòng trong toàn thể Giáo hội phải nhóm họp Đại hội đồng canh tân để cải tiến Dòng, và phải nhóm họp sau tối đa 3 năm kể từ ngày ra Tự sắc[3]. Vì vậy, ngay những ngày đầu nhiệm kỳ của Mẹ, đã phải bận tâm lo cho việc chuẩn bị một Đại Hội Đồng nhằm canh tân Hội Dòng theo đường hướng Công Đồng Vaticanô II.

Năm 1969, Đại Hội Đồng Canh Tân của Dòng được mở ra, sau phiên họp IV của khóa I, ngày 5/2/1969, Đức Giám mục Địa phận Xuân Lộc Giuse Lê Văn Ấn đã tuyên bố Mẹ Antonina Nguyễn Thị Phượng chính thức đắc cử Mẹ Bề Trên Cả của Hội Dòng, từ đây Mẹ Agnès đã hoàn tất nhiệm vụ lèo lái con thuyền Hội Dòng mà Chúa trao phó.

Từ năm 1969 đến năm 1971, Mẹ Agnès sống tại Tu xá Kiến Thiết – Sài Gòn trong công tác thường nhật như bao chị em khác. Năm 1971 đến năm 1986, Mẹ tiếp tục lãnh trách nhiệm làm Bề trên Tu viện Thánh Giuse – Tân Mai.

Từ năm 1986, sức khỏe ngày một suy yếu, Mẹ Agnès về tĩnh dưỡng tại Nhà Mẹ Tam Hiệp sau bao ngày tháng vất vả lao nhọc và vào lúc 19g30 ngày 26 tháng 5 năm 1989, Mẹ đã được Chúa gọi về, hưởng thọ 84 tuổi.

Nhìn lại những mốc điểm của cuộc đời Mẹ Agnès, hẳn đã bừng nóng lên trong mỗi chúng ta một sự hăng say sống, sống cho Chúa và tha thân. Đối với Chúa, Mẹ là một người trung tín được Chúa tín nhiệm trao cho bao trọng trách, và Mẹ, trong niềm tín thác vào Thiên Chúa quan phòng, đã can đảm lãnh nhận trách nhiệm và chu toàn một cách tốt nhất. Từ nhiệm vụ “chị trưởng nhà tập” (năm 1951), đến những nhiệm vụ khó khăn hơn như làm Giám đốc Đệ Tử, làm Bề trên các Tu xá, Tu viện, và đặc biệt với nhiệm vụ là Bề trên Cả của Dòng, hẳn Mẹ hơn ai hết cảm nhận được sự đồng hành của Chúa, tin tưởng phó thác nơi Ngài những khó khăn, thử thách đã xảy ra trong nhiệm kỳ của Mẹ để Mẹ đưa dẫn chị em trong Hội Dòng đi đúng đường hướng của Chúa.

Đối với Dòng, Mẹ là một trong những “viên đá nền” tạo nên sự kiên vững cho Dòng hôm nay. Thật vậy, không chỉ Mẹ đã có mặt ngay từ những ngày đầu khi Dòng mới được thành lập, mà Mẹ còn là người gắn bó và không ngừng làm triển nở đoàn sủng Dòng qua đời sống của Mẹ với một đức tin vững vàng, một lòng mến thiết tha. Mẹ đã chung tay xây dựng Hội Dòng, đã hy sinh để lãnh những trách nhiệm trong Dòng, đặc biệt với vai trò là Bề trên Cả, Mẹ đã thực hiện cho Dòng một việc lớn lao là chuẩn bị và khai mở cho Dòng một Đại Hội Đồng Canh Tân theo đường hướng Công Đồng Vaticanô II. Trong buổi dạ hội mừng Đại Hội Đồng Canh Tân kết thúc ngày 13/6/1969, các Đại biểu đã nói về những gì Mẹ Agnès đã làm cho Dòng cùng những tâm tình tri ân như sau: “Mẹ và Ban Tổng đã tận tụy hy sinh cho Dòng trong nhiệm kỳ 1966 – 1969 nói chung và cách riêng trong việc thực hiện Đại Hội Đồng Canh Tân cho Dòng. Các quyết định của Đại Hội Đồng Canh Tân là hướng đường mới sẽ dẫn đưa Dòng đến một tương lai xán lạn, đến một chân trời bao la đầy ánh sáng huy hoàng của Nước Trời.

Để chuẩn bị cho Dòng có một hướng đi vững vàng chắc chắn, … Chúa đã dùng Mẹ như một cộng sự viên cần mẫn, trung thành và ngoan thảo, để Mẹ chăm sóc Dòng lớn lên theo tinh thần Phúc Âm, Hiến Pháp, Giáo Luật, các Văn kiện Công Đồng Vaticanô II… làm cho Dòng hiểu biết và quý trọng ơn thiên triệu đặc biệt của mình. Thật Chúa quan phòng đã ưu tiên Mẹ, như dồn cả những việc vĩ đại vào nhiệm kỳ của Mẹ, để rồi quyền lực và ân phúc dư đầy của Người lại cũng đổ tràn trên Mẹ, giúp Mẹ chu toàn sứ mạng Chúa trao phó.

Đúng thế, còn việc nào quan trọng bằng việc Mẹ lo công bố, phổ biến để thi hành nghiêm chỉnh các quyết định Đại Hội Đồng Tam Hiệp III, hầu phục hồi kỷ luật, trật tự thánh thiện cho Dòng?

Còn việc nào khó khăn đại hệ, cấp bách, phức tạp và tế nhị, liên quan mật thiết đến sự mất còn của Hội Dòng, bằng việc chuẩn bị để thực hiện kịp thời Đại Hội Đồng Canh Tân Dòng? Đã vậy ma quỷ còn xui lên những trở ngại, để ngăn chặn, để phá hoại tan hoang, để lung lạc và làm đảo lộn tất cả bậc thang giá trị của tinh thần Phúc Âm mà Dòng đã bao năm xây dựng bằng mồ hội nước mắt….

Việc chuẩn bị Đại Hội Đồng tuy có gấp rút nhưng rất đầy đủ, quy củ. Tâm lý và tinh thần của chị em được chuẩn bị ráo riết. Ba giai đoạn của Đại Hội Đồng Canh Tân nói lên công việc làm có phương pháp và khoa học…”

Vâng, là những người con của thế hệ tiếp nối Mẹ, chúng con cảm thấy thật vui vì có Mẹ, chúng con cũng sẽ theo Mẹ dấn bước cho sứ vụ, cùng chung tay xây dựng Hội Dòng, một lòng tin tưởng vào Thiên Chúa – Đấng luôn yêu thương, đồng hành với Hội Dòng chúng ta, đã ban cho Mẹ và ban cho mỗi người chúng con cảm nghiệm được niềm vui của đời thánh hiến.


[1] Có tất cả 32 chị em vào Nam, ở lại Bắc 12 chị em.

[2] Theo đúng nhiệm kỳ thì đến năm 1972 Mẹ Agnès mới hết khóa, nhưng do có Đại Hội Đồng Canh Tân bất thường nên Mẹ và Ban Tổng Điều Hành đã bãi nhiệm vào năm 1969, khi diễn ra Đại Hội Đồng Canh Tân với việc bầu cử Ban Tổng Điều Hành mới.

[3] Tự sắc Ecclesiae Sanctae, số 3.

Comments are closed.