Người tu sĩ trẻ nhập thể giữa lòng dân tộc

0

NGƯỜI TU SĨ TRẺ “NHẬP THỂ” GIỮA LÒNG DÂN TỘC

TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY

Sự sống! Sự sống sinh động sôi sục với một sức năng động mới đang diễn ra. Lời hứa mang đầy hy vọng tốt tươi về một sự sống dồi dào (Ga 10,10) vẫn còn đó. Một thực tế mới xuất hiện đòi hỏi Giáo Hội, đặc biệt người tu sĩ trẻ một sự dấn thân mới, đầy sức năng động, hầu Lời Chúa có thể bén rễ và tình thương của Ngài có lời đáp trả từ phía con người.

Trong một bối cảnh như thế, câu hỏi của mọi người: “Tu sĩ, người là ai?” phải được đặt lại và phải có câu trả lời mới. Câu trả lời đó sẽ không xuất phát từ ai khác ngoài chính người tu sĩ, đặc biệt là người tu sĩ trẻ hôm nay.

Trong nỗ lực đi tìm câu trả lời cho chính mình, chúng tôi, những tu sĩ trẻ Học Viện Dòng Chúa Cứu Thế, thử phác thảo vài nét đơn sơ về vấn đề này.

“Chính anh em là muối cho đời….Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt5,13-14). Phải, đó là một định đề căn bản. Đúng hơn, đó là một thực tế đòi người tu sĩ phải suy xét vì người tu sĩ được “tách riêng” ra khỏi thế giới, nhưng sống giữa lòng thế giới và sống với thế nhân, cùng thế nhân chia sẻ tình yêu và hy vọng, niềm vui và nỗi buồn, thành công và thất bại, cũng như những âu lo của cuộc đời. Người tu sĩ chỉ định nghĩa được bản thân mình khi hoàn tất nơi mình định đề căn bản đó, bởi vì đời tu luôn gắn liền với một sứ mạng, sứ mạng giải thoát con người khỏi những gì là bất công, những gì gây thương tổn cho phẩm giá con người. Đó chính là sứ mạng nhập thể để cứu thế nhân mà người tu sĩ  đã nhận lãnh từ  Thiên Chúa.

Để giải thoát và làm thăng tiến con người, người tu, cách riêng là các tu sĩ trẻ, không còn cách nào khác là phải “nhâp thể” giữa lòng đời, đi vào đời tức là sống giữa những người khác như men, như muối để biến cải thế giới nên trời mới đất mới, nơi công lý và tình yêu ngự trị.

1. Những thách đố của thời cuộc

Chúng tôi luôn xác tín rằng đó là một nhiệm vụ không đơn giản, nhưng vô cùng khó khăn, bởi vì, hiện nay Việt Nam  đang ở vào một giao điểm lịch sử quan trọng.

Trên đà tiến về thế kỷ 21, Việt Nam đang chứng kiến cảnh tượng những đợt phát triển tân kì và lí thú dồn dập phủ lên cuộc sống con người. Những công nghệ tân tiến ngày càng tân tiến hơn. Thông tin đến với mọi người mọi nhà. Thông tin ồ ạt, các phương tiện giải trí  đa dạng đang tạo ra nơi xã hội một hệ thống  các giá trị lẫn lộn tốt xấu. Giới trẻ chạy theo và bị ảnh hưởng bởi thứ khái niệm “ngoại lai”: đồ ngoại, chồng ngoại…Từ đó, những giá trị truyền thống thuộc bản chất Á đông của người Việt Nam đang bị đe dọa. Đạo đức con người giờ đây được cân đo đong đếm và định nghĩa bằng những tiêu chí mới. Những giá trị thiêng liêng vượt thoát khỏi tâm trí con người.

Song song với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật có tính toàn cầu, kinh tế Việt nam đang trên đà tiến phát. Từ đó, một mặt, đời sống kinh tế mỗi ngày một nâng cao;  mặt khác nó cũng kéo theo những  hệ quả khốc liệt. Đó là những thay đổi trong cách suy nghĩ, cách làm việc đã biến những quan hệ cá nhân và cộng đồng, đã biến những con người thành những bộ phận máy móc trong qui trình sản xuất. Người ta chỉ còn biết lao vào cơn lốc của thị trường mà quên đi hay không còn thì giờ để đặt lại những vấn đề cốt tuỷ của đời sống. Thiên Chúa ư? Quá xa vời. Tình làng nghĩa xóm ư? Không cần thiết. Giá trị thiêng liêng ư? Không thực tế chút nào….

Tóm lại, một xã hội mới đang hình thành. Một ý thức hệ mới đang bắt đầu tràn ra như con nước len lỏi vào mọi hang cùng ngõ hẻm của đời sống, thấm vào mọi tầng lớp dân chúng. Một trật tự thế giới mới đang hình thành trong đó người giầu càng giầu thêm, người nghèo càng mạt kiếp đi. Tình trạng bóc lột đang ngấm ngầm diễn ra một cách tinh vi, đôi khi mặc một hình thức “làm phúc” và hiện tượng những người “bị khai trừ” trở thành phổ quát.

Trước những thay đổi sâu rộng đó trong xã hội, chúng tôi thiết nghĩ đó là những thực tế,  là hệ quả tất yếu của công cuộc phát triển. Người tu sĩ nhập thể là nhập thể vào chính môi trường đó. Hội nhập là hội nhập vào đó chứ không ở đâu khác. Tuy nhiên, chúng tôi không ảo tưởng hay “lạc quan tếu” mà cho rằng sẽ giải quyết được tình trạng  giầu nghèo, bởi vì thứ nhất tình trạng giầu nghèo xuất phát từ sự phân định của ý thức, trong thực tế thế nào là giầu, nghèo lại là chuyện bàn cãi; thứ hai khi nào còn người giầu thì vẫn có những người ít giầu hơn còn gọi là người nghèo; thứ ba muốn biến đổi tình trạng đó, nhập thể vào hạng nghèo thôi chưa đủ mà phải làm một cuộc nhập thể sâu rộng vào mọi lãnh vực của cuộc sống, cùng với toàn Giáo Hội và xã hội.

Chúng tôi nghĩ rằng tình trạng giầu nghèo, những vấn nạn xã hội, những đổi thay nơi con người luôn có và gắn liền với nhịp sống xã hội. Đó là những thực tế của cuộc đời mà con người luôn phải đối diện và sống với.  Chúng luôn có đó như  là một dấu hỏi lớn, như là lời chứng về một thế nhân cần ơn cứu độ, và có đó như là một thách thức cho lòng tin của con người, đòi người tu sĩ trẻ dấn thân và sống với. Nhập thể, vì thế là một cái gì rất lớn đòi một cuộc lên đường liên lỉ và chỉ kết thúc khi thế giới này qua đi, lúc những thực tại thế trần mang trong nó chính những thực tại thiên quốc.

Thành ra, đảm nhận sứ mạng này, sứ mạng nhập thể vào giữa lòng dân tộc, đi vào những cảnh huống của cuộc đời, người tu sĩ trẻ không gánh vác một mình nhưng là cùng với Nhà Dòng, với dân tộc, với xã hội, với những tín ngưỡng khác nhau, với những giá trị muôn thuở là những giá trị mà “Lời hằng sống” đã gieo trong tâm khảm con người, chia sẻ và lãnh nhận. Chỉ có sự liên kết như thế, thì hy vọng một sự sống dồi dào, một sự sống mới xuất phát từ ngay trong chính những thực tại đang diễn ra hằng ngày mới có cơ thành sự.

2. Những lãnh vực ưu tiên

Sau khi đã xác định đâu là những thách đố của thời cuộc, nhưng lại là những thực tại không tránh khỏi, chúng tôi thấy rằng có lẽ cần phải phân định lại đâu là lãnh vực mà người tu sĩ trẻ phải coi là ưu tiên hàng đầu. Hẳn nhiên, muốn phục vụ tốt, người tu sĩ cần phải biết và phải thấy đâu là những lãnh vực ưu tiên hơn hết và trước hết, bởi vì, nếu không xác định trước chúng ta sẽ biến sứ mạng của mình thành một cái gì không cần thiết cho xã hội và con người. Bạn có thể là ông vua sân cỏ, nhưng điều đó không có nghĩa: bạn  cũng sẽ là ông vua trên thương trường. Dầu sao, cũng phải nhận định  rằng bất cứ sự dấn thân nào cũng có giá trị của nó, nhưng chỉ những cuộc dấn thân đúng sứ mạng và vì sứ mạng, đúng với khả năng và với tình yêu mới mang lại “thóc lúa dồi dào”.

 Vẫn biết, người tu sĩ trẻ được kêu gọi tham gia vào công tác cổ xuý và thăng tiến đời sống con người, tức là tham gia những hoạt động trần thế nhằm biến đổi xã hội. Công việc này được thể hiện qua việc dấn thân sống tình liên đới với tất cả những ai bị tước đoạt mất quyền sống về mặt kinh tế, liên đới với những ai “bị khai trừ” cách ngấm ngầm hoặc công khai, vật lộn và đấu tranh cho công lý và hòa bình, tham gia vào công tác chăm sóc sức khỏe con người, cũng như thiết lập những phương án nhằm nâng cao mức sống kinh tế… Tóm lại, nơi đâu có tiếng mời gọi tha thiết của con người nơi đó người tu sĩ  được mời gọi dấn thân nhằm giúp con người thăng tiến về mọi mặt của đời sống.

* Nhưng, chúng tôi thiết nghĩ, lãnh vực cần dành ưu tiên trước hết và trên hết phải là giáo dục. Trong Tông huấn về đời sống thánh hiến Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II quả quyết: “Giáo dục là một yếu tố chính yếu trong sứ mạng của Giáo Hội”       và “ Những người thánh hiến phải giữ vai trò đặc biệt trong lãnh vực này”(số96). Giáo dục ở đây hẳn nhiên không phải chỉ dừng lại ở việc bồi dưỡng kiến thức văn hóa, nhưng trước hết còn là giáo dục nhân bản và kiến thức tôn giáo. Giáo dục phải được ưu tiên bởi vì đó là sứ mạng của chính chúng ta, mặt khác một nền giáo dục tốt sẽ giải thoát con người khỏi hình thức trầm trọng của cảnh bần cùng do thiếu hiểu biết, sẽ giúp người khác hiểu thế giới và thế nhân để từ đó họ có một thái độ sống ám hợp với đòi hỏi của tình liên đới và của lòng mến.

Chúng tôi trộm nghĩ: muốn cải tạo thế giới, muốn cải hóa con người, trước hết phải bắt đầu từ việc đào tạo con người để con người “làm người” và “là người” . Được như thế, một xã hội mới, trong đó “mọi người được yêu và biết yêu” mới có cơ may trở thành hiện thực

* Theo thiển ý của chúng tôi, lãnh vực thứ hai cũng thiết yếu và quan trọng mà người tu sĩ, cách riêng là người tu sĩ trẻ, được mời gọi dấn thân là tham gia vào công cuộc hòa giải và phúc âm hóa các nền văn hóa. Nhưng văn hóa nào đây? Chúng tôi thiết nghĩ: chúng ta cần phân định rõ ràng, trước khi làm một cuộc phúc âm hóa thực sự. Hẳn nhiên, việc “khóc thương” và luyến tiếc một nền văn hóa đã qua đi trong thời gian. Một nền văn hóa mà chỉ còn lại những dấu tích nho nhỏ và chẳng được con người ngày nay đảm nhận và chia sẻ nữa sẽ thật là vô ích. Tệ hơn nữa là sống hôm nay, nhưng lại cố gắng Phúc âm hóa nền văn hóa của thế kỷ 19. Thành ra, người tu sĩ trẻ hôm nay được kêu gọi và có trách nhiệm mang sự sống Tin Mừng vào trong chính nền văn hóa mà người tu sĩ hôm nay đang sống. Phúc âm hóa là phúc âm hóa chính nền văn hóa đương thời, chứ không phải nền văn hóa nào khác, một nền văn hóa Việt Nam đang bị xâm lấn bởi những lối sống, lối nghĩ Âu tây. Chính ở điểm này Lời Chúa mới thiết thân đụng chạm và có sức hoán cải những con người thời đại. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng công cuộc phúc âm hóa đòi hỏi nhiều thời gian, vì hội nhập văn hóa là biến đổi thâm sâu những giá trị văn hóa chân thật bằng cách hội nhập những giá trị đó vào     Ki-tô giáo và ngược lại là làm cho Ki-tô giáo hội nhập vào chính nền văn hóa đó để chính Tin Mừng  thanh tẩy nền văn hóa đó, giúp nền văn hóa đó trở nên những công cụ phục vụ cho ơn cứu độ.

* Lãnh vực thứ ba mà người tu sĩ của thời đại được đặc cách mời gọi tham gia là lãnh vực truyền thông xã hội. Đây là một lãnh vực mới mẻ, nhưng nó lại cần thiết để mang Tin Mừng sự sống đến cho mọi người, vì ngày nay phương tiện này có được khả năng tỏa rộng khắp nơi, đến tận các vùng xa xôi nhất. Trong Tông huấn về đời thánh hiến, Đức Giáo Hoàng viết: “Phải khuyến khích mọi cố gắng trong lãnh vực quan trọng và mới mẻ này của công việc tông đồ, ngõ hầu Tin Mừng Chúa Ki-tô được loan báo bằng những phương tiện hiện đại” (số 99). Chúng tôi nghĩ rằng ngày hôm nay, nếu chúng ta, những tu sĩ trẻ, vẫn an phận thủ thường trong những hình thức tông đồ cổ kính, thì hiệu năng mà công việc đó đem lại sẽ không đáng kể. Thánh Phao-lô nói rằng: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy như người khôn ngoan, biết tận dụng thời buổi hiện tại, vì chúng ta đang sống những ngày đen tối” (Ep5,15-16). Phải, chỉ trong chính thời buổi hôm nay, với những phương tiện thông tin hiện đại, việc giáo dục con người mới có cơ may mang lại kết quả dồi dào. Nhưng, để làm được điều đó, người tu sĩ “phải có một sự hiểu biết nghiêm túc về ngôn ngữ của các phương tiện truyền thông”, phải là chứng tá trong chính môi trường đó. 

3. Những nguyên tắc nền tảng

Sau khi xác định những lãnh vực ưu tiên, chúng tôi thấy vẫn chưa đủ. Cần phải xác định đâu là những nguyên tắc căn bản để việc nhập thể của người tu sĩ  trẻ không “xập xí, xập ngầu”, để  việc nhập thể không trở nên lí do gây nên sự vong thân cho người tu sĩ.

a. “Nhập thể” cùng với Đức Ki-tô nhập thể

Khi đi tìm cho mình một cung cách phục vụ, một mẫu hình nhập thể, chúng tôi nhận ra rằng Đức Ki-tô nhập thể chính là mẫu gương mô phạm mà chúng tôi phải học đòi. Ngài là Thiên Chúa làm người nhưng Ngài vẫn là Thiên Chúa, đồng hóa với mọi người nhưng lại không bị con người đồng hóa. Ngài sống giữa con người như mọi người. Ngài đã hủy mình ra không hầu kết giây liên đới với mọi người, với những ai bị ngược đãi là những người nghèo đói và túng quẫn, những người bị ruồng rẫy và bị gạt ra ngoài lề xã hội, những người bị áp bức và chà đạp, những người bị coi thường, trẻ em và phụ nữ… Ngài đi giữa họ, sống với họ, bênh vực họ trước những thế lực trần thế chà đạp.

Ngài phá vỡ những hàng rào phân cách trong xã hội, chống lại những lập trường tôn giáo cố chấp. Ngài không ngại chung đụng với tiện dân. Ngài tha thứ và hòa giải. Ngài mạnh mẽ đối đầu với những hạng quyền thế bất kể họ là ai, tố cáo lòng tham, tật hư đốn và những hành động áp bức của con người. Nhưng, Ngài cũng không bao giờ quên nói cho họ về Chúa Cha, về Tin Mừng cứu độ… Trên hết, Ngài đã chết cho con người và vì con người, và Ngài đã trở nên cuộc chiến thắng của nhân loại đau khổ.

Chúng tôi nghĩ rằng Đức Ki-tô nhập thể như thế phải là mẫu mực cho chúng tôi. Ngài nhập thể nhưng không bị hủy diệt, nhập thể nhưng không bị đồng hóa, yêu thương với một tình yêu vô vị lợi, đi vào chính dòng đời nhưng không bị dòng đời cuốn trôi. Ngài trước sau và muôn thuở vẫn là Thiên Chúa.

Nhưng, chúng tôi thiết nghĩ: để công cuộc nhập thể có hiệu năng, cần thiết phải là một cuộc nhập thể trong và cùng với Đức Ki-tô, Đấng đã huỷ mình ra không để con người có thể đến kín múc nơi Ngài sự sống mới, sự sống thần linh. Đó là điều cần thiết, bởi vì chúng ta đang mang và sống chính sứ vụ của Đức Ki-tô cứu thế. Sứ mạng mà người tu sĩ mang là sứ mạng của chính Đức Ki-tô: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21; 17,18). Không phải người tu tự đặt ra cho mình một sứ mạng, nhưng chính mầu nhiệm Đức Ki-tô đang hoạt động qua những người tu sĩ dấn thân cho công lý và hòa bình, cho tự do và hạnh phúc… :“Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt28,20). Vì thế, có thể nói rằng Chúa Giê-su đang thực hiện sứ mạng của mình qua những người tu sĩ. Ngài đang nhập thể vào đời lúc này, hôm nay. Vì thế, một mặt người tu sĩ phải biết Chúa muốn gì và cần chúng ta làm gì cho những người con nghèo khổ của Ngài; mặt khác, chúng ta cần ơn trợ giúp của Ngài để hoàn thành sứ mạng đó: “Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

Nhưng, để nhập thể vào lòng đời cùng với Chúa Giê-su, chúng tôi trộm nghĩ người tu sĩ phải sống mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa làm người ngay trong chính cuộc đời mình: “Anh em là muối cho đời, nếu muối nhạt đi thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt5,13). Nói cách khác, người tu sĩ phải mang chính Chúa Giê-su  nơi cuộc đời mình, phải sống như Đức Ki-tô đã sống; nếu không tất cả những gì chúng ta nói chỉ là nói suông và những việc chúng ta làm có nguy cơ trở thành một công cụ “tôn vinh chính mình”.

Vì nhập thể giữa lòng đời, người tu sĩ trẻ không đi ra ngoài nguyên tắc căn bản và nền tảng này, bởi vì chỉ trong Đức Ki-tô nhân loại mới thực sự được tôn vinh và chỉ trong Ngài  công cuộc giải thoát con người mới bền vững. Thánh Phao-lô nói: “Không phải chúng tôi, chúng tôi có khả năng nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng chúng tôi là do Thiên Chúa” (2Cr 3,5).

b. Nhập thể bằng việc sống tư cách ngôn sứ của đời thánh hiến

Nhưng, chúng tôi nghĩ rằng trong một xã hội mà những dấu vết của Thiên Chúa dường như bị xóa nhòa. Các nấc thang đạo đức đang bị giảm trừ. Con người chạy theo một nền văn hóa hưởng thụ. Vật chất được tôn thờ và “phong thánh”, kéo theo sự thèm khát sở hữu và dửng dưng với những nhu cầu, những đau khổ của con người. Những quan niệm mới về tự do xuất hiện tạo nên một lối sống buông thả… Trong một bối cảnh xã hội như thế, việc sống trọn vẹn đặc tính ngôn sứ của đời thánh hiến  khẩn thiết hơn bao giờ hết. Tự nó, việc sống trọn vẹn các lời khấn dòng trở nên những dấu chỉ loan báo vị thế trổi vượt của Thiên Chúa và của những giá trị Tin Mừng. Chính khi sống trọn vẹn cho Tin Mừng, người tu sĩ trẻ đã là lời ngỏ cho con người về một thực tại cao hơn, xa hơn những gì họ đang sống. Cuộc đời họ sẽ là lời  khẳng định hùng hồn cho mọi người, về vị thế tuyệt đối của Thiên Chúa và sự tương đối mau qua của thế gian này.

Chúng tôi nghi rằng chỉ khi sống trọn vẹn căn tính của đời tu là tính cách ngôn sứ của mình, lời loan báo của người tu sĩ mới có hiệu năng cứu độ và việc họ làm mới thực sự có sức giải thoát con người, vì sự trọn lành Ki-tô giáo và nền linh đạo của người tu sĩ hệ tại ở việc thực thi lòng mến: mến Chúa và yêu tha nhân. Lòng mến đó muốn có tính cách cứu độ thì phải nhập thể trong những hoàn cảnh lịch sử và phải dấn thân vì chính nghĩa của con người. Chính vì thế mà lòng mến đó có tính cách dấn thân. Việc chúng ta dấn thân vì con người xuất phát từ sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và việc kết thân với Thiên Chúa đưa ta tới sự phục vụ anh em cách hữu hiệu. Đó là nội dung và nguyên lý của việc bác aí tông đồ. Và, vì sự liên kết chặt chẽ giữa cuộc sống và lời loan báo luôn có sức thuyết phục người khác và làm cho hình ảnh của Thiên Chúa nên cụ thể.

c. Nhập thể với Hội Thánh và cộng đoàn Dòng

Ngoài hai nguyên tắc căn bản và nền tảng đó, chúng tôi thiết nghĩ người tu sĩ “nhập thể” là nhập thể với Hội Thánh và với cộng đoàn Dòng. Bởi vì sứ mạng được giao cho chúng tôi là sứ mạng của toàn thể Hội Thánh , đặc biệt là sứ mạng của Hội Dòng mà trong đó chúng tôi chia sẻ và dấn thân.

Người tu sĩ, trước tiên, sống trong Hội Thánh. Họ gắn kết đời mình với Hội Thánh như cây với cành. Vì thế, họ mang trong mình hình ảnh của Hội Thánh  Hiền Thê Chúa Ki-tô. Hội Thánh dẫn đưa người tu sĩ vào trong sứ vụ và vào trong ơn thánh sủng. Bởi đó người tu không được tách mình ra khỏi Hội Thánh khi thực hiện sứ vụ vì nơi Hội Thánh người tu kín múc được dòng sữa nuôi sống sứ vụ.

Và, Hội Dòng là nơi người tu sĩ trẻ được sai đi. Vì thế, người tu sĩ nhập thể và mang trong mình cộng đoàn Nhà Dòng. Họ thực hiện sứ vụ Chúa trao phó cho Nhà Dòng. Họ làm điều này, điều kia với tư cách cộng đoàn Dòng chứ không phải chỉ với tư cách cá nhân. Chúng tôi nghĩ rằng khi dấn thân người tu sĩ cần phải ý thức điều đó. Chính điều này sẽ giúp người tu sĩ không chểnh mảng với sứ vụ và sứ vụ mà người tu sĩ thực hiện sẽ đem lại kết quả như lòng Chúa ước mong.

Vì vậy, theo chúng tôi lên đường với Hội Dòng để thực hiện sứ vụ của Chúa, cũng là một nguyên tắc căn bản. Chính nguyên tắc đó cho phép chúng tôi dù đi đâu, làm việc gì cũng không đánh mất chính mình, tức đánh mất căn tính làm nên khuôn mặt một tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế.

 d. Nhập thể với tất cả con người

Nhưng, có lẽ điều quan trọng nhất theo chúng tôi chính là cá nhân mỗi tu sĩ sống và đón nhận ơn gọi và sứ mạng của mình như  thế nào. Một Tê-rê-xa Nhỏ suốt đời không ra khỏi bốn bức tường tu viện, chẳng nhập thể vào đời, nhưng tinh thần của Thánh nữ đã thổi một luồng sinh khí vào đời, để tinh thần đó đến hôm nay vẫn  là vấn nạn cho thế nhân giúp thế nhân trở về với những thực tại căn bản của đời người. Thành ra, điều quan trọng của việc nhập thể trước tiên chính là sống sứ mạng của mình.

Sống sứ mạng chính là để cho sứ mạng lên tiếng và cật vấn. Sống sứ mạng còn là để cho sứ mạng đó trước tiên xảy ra nơi chính cuộc đời mình, như các Ngôn sứ đã để cho Lời Chúa phanh thây mình trước tiên. Nói cách khác, muốn làm một cuộc nhập thể đích thực, người tu sĩ trẻ phải nên nghèo như người nghèo, phải để cho người nghèo cật vấn và rao giảng Tin Mừng cho chính mình, phải vui niềm vui được nên nghèo như Chúa Giê-su nghèo khó và phải sống chính kinh nghiệm nghèo khó của những người nghèo khổ nhất. Điều này đòi người tu sĩ trẻ một sự dấn thân trọn vẹn, chi phối con người gồm thể xác, tâm hồn, lý trí, tình yêu và hy vọng. Cũng cần phải nói rằng nếu bạn không hạnh phúc trong sứ vụ thì bạn cũng khó có thể mang hạnh phúc cho người khác.

Vì thế, nhập thể là nhập thể với tất cả con người, là biến đời mình thành lời cật vấn cho thế gian và để thế nhân là lời cật vấn cho chính mình, là lên đường theo lời mời gọi thiết tha của thế nhân để giúp thế nhân tìm được bình an trong cuộc đời họ. Chỉ có như thế cuộc nhập thể của người tu sĩ mới mang lại một mùa màng bội thu.

4. Tất cả luôn chỉ là khởi điểm

Đó là những gì chúng tôi xác tín và với tinh thần đó chúng tôi cố gắng thực hiện sứ mạng của mình. Nhưng, chúng tôi nghĩ rằng tất cả luôn chỉ là khởi điểm, vì thế giới không ngừng biến chuyển. Sự thay đổi nhanh chóng của đất nước và của con người đòi hỏi người tu sĩ, cách riêng là người tu sĩ trẻ, phải mỗi ngày mỗi giờ lập lại lời “xin vâng”, lời “xin vâng” thốt ra trong mỗi thời điểm của lịch sử, trong mỗi khoảnh khắc của thời gian và trong những đổi thay của thời thế. Vì thế, cuộc nhập thể của người tu sĩ trẻ phải là cuộc nhập thể  mỗi ngày và mỗi ngày lại là một khởi điểm mới cho một sứ mạng trường kì: “sứ mạng cứu độ thế gian”.

 Sưu tầm

 

 

 

 

Comments are closed.