Bài giảng Mùa Chay thứ III của Lm. Cantalamessa

0

THÁNH BASILIÔ VÀ NIM TIN VÀO CHÚA THÁNH THN

Bài ging Mùa Chay th ba ca linh mc Cantalamessa

Đây là bài suy niệm Mùa Chay thứ ba của Linh mục Raniero Cantalamessa dòng Anh Em Hèn Mọn. Vị giảng thuyết của Phủ Giáo Hoàng đã giảng sáng Thứ Sáu 23/03/2012.

1. Đức Tin hướng tới thực tại

Triết gia Edmund Husserl tóm tắt chương trình hiện tượng học của mình trong phương châm: Zu den Sachen selbst!, đến với bản thân các sự vật, đến những sự vật như nó có trong thực tại, trước khi đi tìm khái niệm và định hình chúng trong một công thức. Một triết gia khác đến sau ông, Sartre, nói rằng “ngôn từ, nghĩa của sự vật và những cách sử dụng ngôn từ” là “những dấu hiệu nhỏ bé để nhận biết rằng con người đã để lại những dấu vết trên bề mặt chúng”: ta cần phải đi xa hơn những dấu hiệu đó để có được mạc khải kinh ngạc đến lặng người về sự “hiện hữu” của sự vật[1]

Trước đó rất lâu, thánh Tôma Aquinô đã xây dựng một nguyên tắc tương tự liên quan đến những sự vật hoặc các đối tượng của đức tin: “Fides non terminatur ad enunciabile, sed ad rem”: đức tin không kết thúc trong những lời phát biểu, nhưng đến với thực tại[2]. Các Giáo phụ là các kiểu mẫu trổi vượt của đức tin này, một đức tin không dừng lại ở công thức, mà đi vào thực tế. Thời kỳ vàng son của các Giáo phụ và các tiến sĩ đã qua đi, chúng ta chứng kiến ​​gần như ngay lập tức điều mà một học giả nghiên cứu về tư tưởng của các Giáo phụ mô tả là “chiến thắng của chủ nghĩa hình thức”[3]. Khái niệm và thuật ngữ như bản chất, ngôi vị, bản vị, được phân tích và nghiên cứu cho bản thân chúng, nhưng không quy chiếu thường xuyên tới thực tại, mà những người xây dựng nên tín điều đã tìm cách diễn tả bằng các khái niệm và thuật ngữ đó.

Có lẽ thánh Athanasiô, là trường hợp điển hình nhất của một đức tin bận tâm nhiều đến thực tại hơn là những phát biểu của thực tại. Trong một thời gian, sau Công đồng Nicêa, ngài dường như làm ngơ thuật ngữ homoousios, đồng bản thể, mặc dù bảo vệ nội dung của nó một cách bền bỉ như chúng ta đã thấy lần trước, cụ thể là bảo về thiên tính trọn vẹn của Chúa Con và sự ngang bằng của Người với Chúa Cha. Ngài cũng nhanh chóng chấp nhận các thuật ngữ tương đương đối với ngài, để làm rõ rằng ý định của ngài là duy trì đức tin kiên vững của Công đồng Nicêa. Chỉ vào thời điểm thứ hai, khi ngài nhận ra rằng thuật ngữ đó là thuật ngữ duy nhất không để lại lỗ hổng cho lạc giáo lọt vào, thì ngài mới sử dụng nhiều hơn bao giờ hết.

Sự kiện này đáng chú ý bởi vì chúng ta biết đến những thiệt hại đã gây ra cho sự hiệp thông của Giáo hội, do việc người ta coi việc nhất trí về các thuật ngữ thì quan trọng hơn nội dung đức tin. Trong những năm gần đây, ta có thể tái lập sự hiệp thông với một vài Giáo hội Đông Phương, được gọi là những người theo thuyết Nhất tính hoặc thuyết Nestôriô. Họ đã thừa nhận rằng việc họ không chấp thuận đức tin của Công đồng Canxêđônia (451) nằm trong các ý nghĩa khác nhau được gán cho các thuật ngữ ousia (bản thể) và hypostasis (ngôi vị), chứ không nằm trong bản chất của giáo lý. Cũng vậy, sự thỏa thuận giữa Giáo hội Công giáo và Liên hiệp Thế giới của Giáo hội Lutherô về chủ đề công chính hóa nhờ đức tin, được ký kết vào năm 1998, cho thấy rằng cuộc tranh cãi mang tính đời này dừng lại ở các thuật ngữ hơn là ở thực tại. Một khi các công thức được đặt ra, chúng có xu hướng hóa thạch, trở thành biểu ngữ và dấu hiệu thuộc về hội viên, hơn là những biểu hiện của một đức tin sống động.

2. Thánh Basiliô và thiên tính của Chúa Thánh Thần

Hôm nay chúng ta leo lên vai một người khổng lồ khác, thánh Basiliô Cả (329-379), để cùng với ngài xem xét kỹ lưỡng một thực tại khác của đức tin, đó là Chúa Thánh Thần. Chúng ta sẽ thấy ngay lập tức làm thế nào ngài cũng là mẫu gương của đức tin, một đức tin không dừng lại ở công thức, mà đi vào thực tại.

Về thiên tính của Chúa Thánh Thần, thánh Basiliô không nói lời đầu tiên hoặc cuối cùng, có nghĩa là ngài không phải là người mở ra hay kết thúc cuộc tranh luận. Người bắt đầu diễn luận về tình trạng hữu thể học của Chúa Thánh Thần là thánh Athanasiô. Trước ngài, học thuyết về Đấng Bào Chữa vẫn còn trong bóng tối và ta cũng có thể hiểu lý do tại sao địa vị của Chúa Thánh Thần ở trong thần tính đã không được xác định, trước khi xác định thiên tính của Chúa Con. Vì thế, trong tín biểu chỉ giới hạn lặp lại điều này: “Tôi tin Đức Chúa Thánh Thần” và không thêm điều gì nữa.

Trong Thư gửi cho Serapion, thánh Athanasiô mở cuộc tranh luận dẫn đến định nghĩa về thiên tính của Chúa Thánh Thần trong Công đồng Constantinople năm 381. Ngài dạy rằng Thánh Thần là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con. Người không thuộc về thế giới thụ tạo, nhưng thuộc về Đấng Tạo Hóa, và bằng chứng là mối liên lạc với Ngài sẽ thánh hóa chúng ta, thần hóa chúng ta. Ngài sẽ không thể làm được điều này nếu bản thân Ngài không phải là Thiên Chúa.

Tôi đã nói rằng thánh Basiliô không nói lời cuối cùng. Ngài tránh áp đặt cho Đấng Bào Chữa danh xưng “Thiên Chúa” và “đồng bản thể”. Ngài khẳng định rõ ràng niềm tin vào thiên tính của Thánh Thần bằng cách sử dụng các cách nói tương đương, chẳng hạn: ngang hàng với Cha và Con trong việc tôn thờ (isotimia), đồng nhất tính (homogeneity) chứ không phải khác thể tính (heterogeneity) trong mối tương quan với Cha và Con. Đây là những thuật ngữ được dùng để xác định thiên tính của Chúa Thánh Thần tại Công đồng chung Constantinople năm 381 và tạo nên điều khoản đức tin về Chúa Thánh Thần mà ngày hôm nay chúng ta vẫn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: Chúng tôi tin Thánh Thần là Thiên Chúa, Đấng ban sự sống. Người phát xuất từ Cha (và Con). Ngài được phụng thờ và tôn vinh cùng với Cha và Con. Người đã nói qua các tiên tri.

Thái độ thận trọng của thánh Basiliô muốn tránh phe đối lập Maceđônia xa hơn nữa, đã lôi kéo sự chỉ trích của Grêgôriô Nazianzô, người đã kể bạn mình vào số những người có đủ can đảm nghĩ rằng Thánh Thần là Thiên Chúa, nhưng không đủ can đảm tuyên bố điều đó một cách rõ ràng. Phá vỡ sự chần chừ, ngài viết: “Thánh Thần có phải là Thiên Chúa không? Chắc chắn rồi! Có đồng bản thể không? Có, nếu thật sự Người là Thiên Chúa “[4].

Do đó, nếu xét về thần học Chúa Thánh Thần, Basiliô không nói lời đầu tiên và cuối cùng, thì tại sao chúng ta chọn ngài làm thầy dạy niềm tin vào Đấng Bào Chữa? Đó là bởi vì thánh Basiliô, giống như thánh Athanasiô trước kia, quan tâm nhiều đến “thực tại” hơn là công thức phát biểu thực tại, quan tâm nhiều đến thiên tính trọn vẹn của Thánh Thần hơn các thuật ngữ được dùng để bày tỏ cùng một đức tin. Để diễn tả theo ngôn từ của thánh Tôma Aquinô, ngài quan tâm đến thực tại hơn là công bố thực tại. Ngài đưa chúng ta vào trung tâm sống động của ngôi vị và hoạt động của Chúa Thánh Thần.

Giáo lý của thánh Basiliô là Thánh Linh học cụ thể, sống động, không giáo điều nhưng “chức năng” trong ý nghĩa tích cực nhất của thuật ngữ này, và nó là những gì làm cho thần học đó đặc biệt hợp thời và hữu ích cho chúng ta ngày hôm nay. Vì vấn đề nổi tiếng Filioque, Thánh Linh học trải qua nhiều thế kỷ, đã đi tới chỗ hầu như chỉ giới hạn vào một vấn đề nhiệm xuất của Chúa Thánh Thần mà thôi: phát xuất từ một mình Chúa Cha, như theo cách nói của người Đông Phương, hoặc cũng phát xuất từ Chúa Con (Filioque), như Giáo Hội La Tinh tuyên xưng. Thánh Linh học cụ thể của các Giáo phụ cũng có phần nào chuyển sang các khảo luận về “Bảy ơn của Chúa Thánh Thần”, nhưng giới hạn trong phạm vi thánh hóa cá nhân và đời sống chiêm niệm.

Công Đồng Vatican II đã khởi xướng một cuộc canh tân trong lĩnh vực này, ví dụ, chuyển các đặc sủng từ hạnh các thánh (cuộc đời của các thánh) tới Giáo hội học (cuộc sống của Giáo Hội), được nói trong Hiến Chế Lumen Gentium [5]. Tuy nhiên, đó chỉ mới bắt đầu, vẫn còn một chặng đường dài để đưa ra ánh sáng những hoạt động của Chúa Thánh Thần trong tất cả kinh nghiệm sống của dân Thiên Chúa. Nhân dịp kỷ niệm 16 thế kỷ nhóm họp Công đồng chung Constantinople năm 381, Chân Phước Gioan Phaolô II đã viết một tông thư trong đó ngài cho biết: “Tất cả các công việc canh tân Giáo hội, mà Công đồng Vatican II đã đề xuất và đã khởi sự theo ý Chúa… không thể được thực hiện nếu không ở trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là, với sự giúp đỡ của ánh sáng và sức mạnh của Ngài”[6]. Chúng ta sẽ thấy thánh Basiliô hướng dẫn chúng ta trên con đường này.

3. Chúa Thánh Thần trong lịch s cứu độtrong Giáo hội

Sẽ rất thú vị khi biết nguồn gốc của khảo luận về Chúa Thánh Thần. Lạ thật, nó được liên kết với lời cầu nguyện Gloria Patri! Trong phụng vụ, thánh Basiliô có lúc đọc câu tung hô theo công thức: “Vinh danh Chúa Cha, qua Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần,” khi khác lại theo công thức: “Vinh danh Chúa Cha và Con và Chúa Thánh Thần”. So với công thức thứ nhất, công thức thứ hai cho thấy rõ Ba Ngôi ngang hàng với nhau, phối hợp với nhau hơn là phụ thuộc nhau. Trong bầu khí sôi nổi của các cuộc thảo luận về bản tính của Chúa Thánh Thần, điều này đã gây ra các cuộc phản đối, và thánh Basiliô đã viết tác phẩm của ngài để biện minh cho việc làm của mình; trong thực tế, để bảo vệ thiên tính của Chúa Thánh Thần và chống lạc giáo Maceđônia.

Tuy nhiên, bây giờ chúng ta đi ngay đến điểm mà tôi đã nói, học thuyết của thánh Basiliô chứng tỏ nó rất kịp thời: ngài vận dụng khả năng để đưa ra ánh sáng hoạt động của Chúa Thánh Thần trong mọi thời điểm của lịch sử cứu độ và trong mọi lĩnh vực của đời sống Giáo hội. Ngài bắt đầu với hoạt động của Chúa Thánh Thần trong cuộc sáng tạo.

Trong việc tạo dựng các hữu thể, nguyên nhân đầu tiên làm cho muôn vật được hiện hữu là Chúa Cha, nguyên nhân dụng cụ là Chúa Con, và nguyên nhân hoàn thiện là Chúa Thánh Thần. Chính bởi ý muốn tốt lành của Chúa Cha mà các loài thiêng liêng được tồn tại; chính bởi sức mạnh hoạt động của Chúa Con, mà chúng được dẫn tới hiện hữu, và bởi sự hiện diện của Chúa Thánh Thần mà chúng đạt tới mức hoàn hảo… Nếu ta thử loại trừ Chúa Thánh Thần ra khỏi công cuộc sáng tạo, tất cả muôn loài sẽ hỗn tạp và cuộc sống của chúng xem như không có quy luật, không có trật tự, không có gì là xác định”[7].

Thánh Ambrôxiô có lẽ đã lấy lại tư tưởng này của thánh Basiliô, để đưa đến một kết luận kích thích sự suy nghĩ. Đề cập đến hai câu đầu tiên của Sáng Thế (“trái đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm”), ngài quan sát: “Khi Thần Khí bắt đầu bay là là bên trên loài thụ tạo, chúng chưa có gì đẹp cả. Tuy nhiên, khi muôn loài thụ tạo lãnh nhận tác động của Chúa Thánh Thần, nó có được tất cả vẻ đẹp lộng lẫy làm cho nó tỏa sáng như “thế giới” [8].

Nói cách khác, Chúa Thánh Thần là Đấng làm cho loài thụ tạo bước từ hỗn mang đến thành hình vũ trụ, làm cho thế giới trở nên một cái gì đó rất đẹp, có trật tự: một thế giới “sạch sẽ” (Mundus), theo ý nghĩa gốc của từ “cosmos” (vũ trụ) trong tiếng Hy Lạp. Bây giờ chúng ta biết rằng hành động của Thiên Chúa sáng tạo không giới hạn vào lúc khởi nguyên theo quan điểm của thần luận thuyết hay theo quan điểm cơ giới hóa về vũ trụ. Thiên Chúa không phải “đã có một thời” là Tạo Hóa, nhưng Ngài luôn luôn “là” Tạo Hóa. Điều này có nghĩa rằng Chúa Thánh Thần là Đấng liên tục làm cho vũ trụ, Giáo hội và tất cả mọi người, đi từ hỗn loạn đến trật tự, từ lẫn lộn đến hài hòa, từ biến dạng đến xinh đẹp, từ cũ kỹ đến mới mẻ. Dĩ nhiên không phải theo cách máy móc và đồng bộ, nhưng với ý nghĩa Người đang làm việc ở trong đó và dẫn dắt quá trình tiến hóa đạt đến đích điểm. Người là Đấng luôn luôn “sáng tạo và đổi mới bộ mặt trái đất” (x. Tv104, 30).

Điều này không có nghĩa là Chúa Cha đã tạo ra một cái gì đó không hoàn hảo và “hỗn loạn” cần sửa chữa – thánh Basiliô giải thích trong cùng một văn bản – đơn giản đó là kế hoạch và ý muốn của Chúa Cha, để Ngài tạo dựng nhờ Chúa Con và dẫn dắt mọi loài đến sự hoàn thiện qua Chúa Thánh Thần.

Từ việc sáng tạo, các vị Tiến sĩ thánh thiện đã minh họa sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong công trình cứu chuộc: Liên quan đến kế hoạch cứu rỗi con người (oikonomia), công việc của Thiên Chúa cao cả và Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Độ của chúng ta, được hình thành theo ý muốn của Thiên Chúa; ai dám nghi ngờ về sự viên mãn của công trình này nhờ ân sủng của Thánh Thần? [9] .

Ở điểm này, thánh Basiliô thả mình vào sự chiêm ngắm sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời Đức Giêsu. Đây là một trong những đoạn đẹp nhất trong tác phẩm của ngài và mở ra cho Thánh Linh học một lĩnh vực nghiên cứu, mà chỉ gần đây mới bắt đầu được xem xét lại[10]. Chúa Thánh Thần đã tác động trong lời rao giảng của các tiên tri và trong việc chuẩn bị đón Đấng Cứu Độ đến; chính bởi quyền năng của Người, mà việc nhập thể đã được thực hiện trong lòng Đức Maria; Người là dầu thánh Thiên Chúa đã xức cho Đức Giêsu trong Phép Rửa. Mọi công việc của Đức Giêsu được thực hiện với sự hiện diện của Thánh Thần. Người hiện diện khi Đức Giêsu bị ma quỷ cám dỗ, khi làm các phép lạ; Thánh Thần đã không rời bỏ Ngài sau khi Ngài sống lại từ cõi chết, và vào ngày Phục Sinh, Ngài tuôn đổ Thánh Thần trên các môn đệ (x. Ga 20,22). Đấng Bào Chữa là “bạn đồng hành không thể tách rời” của Đức Giêsu trong toàn bộ cuộc đời của Ngài.

Từ cuộc đời của Đức Giêsu, thánh Basiliô chuyển sang minh họa cho sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong Giáo hội: Chẳng lẽ tổ chức Giáo hội không làm sáng tỏ công việc bất khả tranh luận của Chúa Thánh Thần sao? Thánh Phaolô nói, chính Người đã ban cho Giáo hội, đầu tiên các Tông đ, sau đó là các tiên tri, tiếp đến là các thầy dạy… Thứ tự này được tổ chức theo sự đa dạng của các ân huệ của Thánh Thần”[11] .

Trong Kinh nguyện Thánh Thể Đông Phương (Anaphora) mang tên thánh Basiliô, mà Kinh nguyện Thánh Thể IV ​​hiện nay của chúng ta theo rất sát, Chúa Thánh Thần chiếm một vị trí trung tâm.

Trình bày cuối cùng là sự hiện diện của Đấng Bào Chữa trong thời cánh chung: “Vào lúc diễn ra biến cố chờ đợi sự tỏ hiện của Đức Chúa từ trời mà đến– thánh Basiliô viết – cũng sẽ không vắng mặt Chúa Thánh Thần”. Thời điểm này đối với những người được cứu độ sẽ là bước chuyển từ “hoa quả đầu mùa” tới sở hữu trọn vẹn Thánh Thần, còn đối với kẻ tội lỗi, đó là sự phân chia dứt khoát giữa tâm hồn và Thần Khí [12].

4. Tâm hồn và Thần Khí

Tuy nhiên, Thánh Basiliô không dừng lại ở hoạt động của Thần Khí trong lịch sử cứu độ và trong Giáo Hội. Là một người có đời sống khổ hạnh và tâm linh, mối quan tâm chính của ngài là hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống cá nhân của mỗi Kitô hữu. Mặc dù chưa thiết lập được sự phân biệt và thứ tự của ba giai đoạn của đời sống thiêng liêng mà sau này sẽ trở thành cổ điển, ngài đã làm sáng tỏ rất tuyệt vời hoạt động của Chúa Thánh Thần trong việc thanh tẩy linh hồn khỏi tội lỗi, chiếu sáng và thần hóa, mà giáo phụ này cũng gọi là “sự thân mật với Thiên Chúa”[13]. Chúng ta không thể không đọc trang sách trong đó thánh nhân liên tục quy chiếu về Sách Thánh để miêu tả hành động này, và chúng ta hãy để cho lòng nhiệt tình của ngài đưa chúng ta đi:

Mối liên hệ thân mật của Thần Khí với tâm hồn, không phải là sự gần gũi xét về không gian, như thể ta đến gần loài vô hình bằng thân xác, mà hệ tại việc loại bỏ những đam mê như hậu quả của sự hấp dẫn về xác thịt. Những đam mê này đến với linh hồn và tách linh hồn ra khỏi sự kết hiệp với Thiên Chúa. Được rửa sạch khỏi nhơ bẩn của đam mê, nó được sàng lọc qua tội lỗi và trở về với nét đẹp tự nhiên, như khôi phục lại một hình ảnh hoàng gia, trở lại hình dạng xưa kia nhờ sự thanh tẩy, và chỉ như vậy nó mới có thể đến gần Đấng Bào Chữa. Ngài giống như một mặt trời, khi nhận biết con mắt đã được thanh tẩy, Ngài sẽ tỏ cho bạn thấy trong đó hình ảnh của Đấng vô hình. Trong việc chiêm ngắm hình ảnh ấy, bạn sẽ thấy vẻ đẹp của nguyên mẫu không thể diễn tả được. Qua Ngài, tâm hồn được nâng cao, kẻ yếu được bàn tay dẫn dắt, người đang tiến bước đạt đến sự hoàn thiện. Ngài chiếu sáng những người đã được thanh tẩy khỏi mọi vết nhơ, giúp họ trở nên linh thiêng qua sự hiệp thông với Ngài. Giống như vật thể trong suốt và sáng sủa khi có một tia nắng soi dọi, thì trở nên rực rỡ và phản chiếu một tia nắng khác thế nào, thì linh hồn mang Thần Khí được thắp sáng bởi Chúa Thánh Thần cũng trở thành thần thiêng hoàn toàn và phản dội ân sủng trên người khác như vậy. Từ đây, phát sinh sự biết trước những điều trong tương lai; hiểu biết các mầu nhiệm; nhận thức về sự vật ẩn kín; phân phối các đặc sủng; địa vị công dân trên trời; nhảy múa với các thiên thần; niềm vui không tàn phai; trường tồn trong Thiên Chúa; giống như Thiên Chúa; hoàn trọn khát niềm khao: trở thành Thiên Chúa”[14].

Đối với các học giả, không khó khăn gì để khám phá ra đằng sau bản văn của thánh Basiliô, những hình ảnh và các khái niệm bắt nguồn từ tác phẩm Enneads của Plotinus, và để nói về sự thấm nhập từ bên ngoài vào trong Kitô giáo. Trong thực tế, đó là một chủ đề Thánh Kinh và của thánh Phaolô rất tinh tế, được diễn tả đúng và thích hợp bằng những thuật ngữ quen thuộc và có ý nghĩa cho nền văn hóa của thời đại. Basiliô không đặt các hoạt động của con người – sự chiêm niệm – làm nền tảng cho mọi sự, nhưng là các hoạt động của Thiên Chúa và bắt chước Đức Kitô. Chúng ta đang ở điểm đối lập với quan điểm của Plotinus và của mọi triết lý. Đối với Basiliô, tất cả mọi sự được bắt đầu với Bí tích Rửa Tội là một cuộc sinh hạ mới. Hành động quyết định không phải là lúc kết thúc, nhưng là khởi đầu của cuộc hành trình:

Như trong cuộc chạy đua kép của các sân vận động, một trạm dừng và một trạm nghỉ tách những vòng chạy đua theo chiều đối nghịch, thì cũng vậy, trong sự thay đổi cuộc sống, xem ra cần phải có cái chết đến giữa hai cuộc sống để chấm dứt những gì đi trướcmở đầu cho những điều tiếp theo… Làm thế nào để có thể xuống âm phủ? Bằng cách bắt chước sự mai táng của Đức Kitô trong phép Rửa[15].

Lược đồ cơ bản giống như của thánh Phaolô. Trong chương thứ sáu của Thư gửi tín hữu Rôma, thánh Tông đồ nói về sự thanh lọc triệt để khỏi tội lỗi xảy ra trong Bí tích Rửa tội. Và trong chương thứ tám, thánh nhân mô tả cuộc chiến đấu mà, được Thần Khí trợ lực, người Kitô hữu phải giao chiến trong cuộc sống còn lại của mình, chống lại ham muốn của tính xác thịt, để được thăng tiến trong đời sống mới:

“Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an. Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được. Những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa […]. Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8, 5-8. 12-13).

Chúng ta không nên ngạc nhiên nếu thánh Basiliô đã sử dụng một hình ảnh của Plotinus để minh họa nhiệm vụ được thánh Phaolô miêu tả. Hình ảnh này là nguồn gốc của một trong những phép ẩn dụ phổ quát nhất của đời sống thiêng liêng, và nó nói với chúng ta ngày nay không kém so với các Kitô hữu thời đó:

Nào, hãy trở về với chính mình và xem! Và nếu bạn vẫn không nhìn thấy mình xinh đẹp, hãy bắt chước tác giả của một bức tượng phải thành công trong việc làm cho nó trở nên đẹp: phần ông đục đẽo, phần ông san bằng; đánh bóng chỗ này, mài sắc chỗ kia, cho đến khi ông diễn đạt được một khuôn mặt xinh đẹp trong bức tượng. Tương tự như vậy, bạn cũng phải lấy đi những gì không cần thiết, uốn thẳng những gì quanh co, và mạnh mẽ thanh tẩy những gì là tối tăm, làm cho nó trở nên sáng sủa, không ngừng đẽo gọt bức tượng của bạn cho đến khi vẻ huy hoàng của nhân đức thần linh tỏa sáng trước bạn”[16].

Nếu điêu khắc là nghệ thuật cắt bỏ như nhà họa sĩ Leonardo da Vinci nói, thì nhà triết gia Plotinus có lý khi so sánh việc thanh tẩy và nên thánh với điêu khắc. Tuy nhiên, đối với Kitô hữu, nó không nói đến việc đạt được một vẻ đẹp trừu tượng hoặc xây nên một bức tượng đẹp, nhưng là mang lại ánh sáng và làm cho hình ảnh của Thiên Chúa rực rỡ hơn bao giờ hết, trong khi tội lỗi có xu hướng liên tục che phủ nó.

Người ta kể lại rằng một ngày kia nhà họa sĩ và điêu khắc Michelangelo, đi dạo trong sân của thành phố Florence, thì nhìn thấy một khối cẩm thạch thô phủ đầy bụi và bùn. Ông dừng lại và ngắm nghía nó, rồi dường như được chiếu sáng bởi một đèn pha lê bất ngờ, ông nói với những người có mặt ở đó: “Trong khối đá này ẩn giấu một thiên thần: tôi muốn kéo thiên thần này ra ngoài!” Và ông bắt đầu công việc đục đẽo để tặng cho thiên thần một hình hài mà ông đã nhìn thấy. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta vẫn còn là những tảng đá thô phủ đầy đất và có nhiều mảnh vô dụng. Thiên Chúa Cha nhìn thấy chúng ta và nói: “Trong phiến đá này ẩn giấu một hình ảnh của Con Ta; Ta muốn kéo hình ảnh đó ra, để nó tỏa sáng mãi mãi với Ta ở trên trời!” Thế là Ngài đã dùng cái đục của thánh giá mà gọt tỉa chúng ta (x. Ga 15,2).

Những người quảng đại nhất không chỉ chịu đựng những cú đục đẽo đến từ bên ngoài, mà còn cộng tác với nó, vì tất cả được ban cho họ, thì họ biết tận dụng những hãm mình tự nguyện lớn hay nhỏ và hãm dẹp ý muốn cũ của họ. Một giáo phụ trong sa mạc đã nói:

Nếu chúng ta muốn được hoàn toàn giải phóng, chúng ta hãy biết hãm dẹp ý chí của chúng ta, và như thế, từng chút một, với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, chúng ta sẽ được giải thoát hoàn toàn khỏi những đam mê. Ta có thể hãm dẹp ý chí của ta gấp mười lần trong một thời gian rất ngắn và tôi sẽ cho bạn biết làm thế nào. Một người đang đi dạo và nhìn thấy một điều gì đó; tư tưởng của anh ta nói với anh: ‘Hãy nhìn kìa!‘ nhưng anh ấy trả lời cho tư tưởng của mình: ‘Không, tôi sẽ không nhìn!’ và anh đã hãm dẹp ý muốn của mình”[17].

Vị Giáo phụ cao tuổi này đưa ra một ví dụ khác được rút ra từ đời sống đan tu của mình. Nếu một người đang nói xấu ai đó, có lẽ nói xấu Bề trên, ông già của bạn bảo bạn: “Cả anh nữa cũng tham gia đi. Hãy nói lên những gì anh biết”. Nhưng bạn trả lời: “Không!”. Và bạn làm mất thể diện của ông” … Chẳng khó khăn gì kể ra những hành vi bỏ mình khác nữa, theo tình trạng ta sống và công việc ta đang nắm giữ.

Do đó, nếu chúng ta sống theo những ham muốn của xác thịt, chúng ta giống như hai “tượng đồng Riace” nổi tiếng, tại thời điểm chúng được kéo lên từ dưới đáy biển, bị bao phủ với lớp vỏ dày cứng và khó nhận ra hình người. Nếu chúng ta cũng muốn sáng bóng như hai kiệt tác sau khi được phục hồi, Mùa Chay là thời gian thuận lợi để làm công việc này.

5. Sự hãm mìnhthiêng liêng

Có một điểm trong đó việc chuyển đổi ý tưởng của Plotinus thành ý tưởng của Kitô giáo vẫn còn bất toàn, hay ít ra là chưa rõ ràng lắm. Chúng ta đã nghe thánh Phaolô nói: “Nhờ Thần Khí anh em hãy làm cho công việc của thân xác chết đi, thì anh em sẽ được sống”. Do đó Thần Khí không chỉ là hoa quả của việc hãm mình, mà còn giúp cho việc ấy có thể thực hiện được; không phải ở thời điểm kết thúc cuộc hành trình mà là điểm bắt đầu. Các Tông đồ đã nhận được Thần Khí trong ngày Lễ Ngũ Tuần, không phải bởi vì họ đã nhiệt thành; họ trở nên nhiệt thành vì họ đã nhận được Thần Khí.

Ba Giáo Phụ Capađôxia chủ yếu là những nhà khổ hạnh và đan sĩ. Đặc biệt với những Tu Luật của ngài (Asceticon!), Basiliô trở thành một trong những người sáng lập ra lối sống khổ hạnh Kitô giáo. Điều này đã đưa ngài tới chỗ nhấn mạnh rõ ràng đến nỗ lực của con người. Grêgôriô thành Nyssa, người em và môn sinh của Basiliô, có lẽ đã viết điều này: “Bạn phát triển những cuộc chiến đấu cho việc đạo đức trong chừng mực nào, thì sự cao cả của tâm hồn bạn cũng được phát triển qua những cuộc chiến đấu và những nỗ lực cũng trong chừng mực đó” [18 ].

Trong thế hệ tiếp theo, quan điểm về lối sống khổ hạnh này đã được các tác giả đời sống tâm linh lấy lại và triển khai, chẳng hạn như John Cassian, nhưng họ đã loại bỏ cơ sở thần học vững chắc đã có trong tư tưởng của thánh Basiliô và Grêgôriô thành Nyssa. Tác giả Bouyer ghi nhận rằng từ điểm này mà lạc thuyết Pelagiô, chủ trương đề cao nỗ lực của con người trên ân sủng, sẽ đặt bước khởi đầu”[19]. Tuy nhiên, ta không thể quy cho Basiliô hoặc các Giáo phụ Capađôxia hậu quả tiêu cực này.

Để kết thúc, chúng ta hãy quay trở lại lý do làm cho giáo lý của thánh Basiliô về Chúa Thánh Thần mãi mãi có giá trị, và ngày hôm nay, như tôi đã nói, hơn bao giờ hết, rất kịp thời và cần thiết: tính cụ thể và gắn bó với đời sống của Giáo Hội. Chúng ta Giáo hội La Tinh có một phương tiện đặc biệt để làm của riêng và biến Thánh Linh học này thành lời cầu nguyện, đó là thánh thi Veni Creator.

Từ đầu đến cuối bài thánh thi là một lời chiêm niệm những điều Thánh Thần hoạt động  một cách cụ thể trên trái đất và trong nhân loại như Thần Khí sáng tạo; trong Giáo Hội, như Thần Khí thánh hóa (hồng ân của Thiên Chúa, nước hằng sống, lửa, tình yêu và xức dầu thiêng liêng) và như Thần Khí đặc sủng (các ân điển của bạn dưới nhiều hình thức, ngón tay của bàn tay phải của Thiên Chúa, người đặt lời trên môi miệng); trong đời sống của mỗi tín hữu, như ánh sáng cho tâm trí, tình yêu cho trái tim, chữa lành cho thể xác; là đồng minh của chúng ta trong cuộc chiến chống lại sự ác và hướng dẫn chúng ta biện phân điều tốt.

Chúng ta hãy kêu cầu Ngài bằng những câu đầu tiên của bài thánh thi, xin Ngài biến chuyển thế giới và tâm hồn chúng ta, từ sự hỗn mang đến chỗ thành hình vũ trụ, từ phân tán đến hiệp nhất, từ xấu xa của tội lỗi đến vẻ đẹp của ân sủng.

Veni, Creator Spiritus,
mentes tuorum visita,
imple superna gratia
quae tu creasti pectora.

 Xin ngự đến, Lạy Thánh Thần sáng tạo,

Đến viếng thăm và tuôn đổ ơn trời

Xuống cõi lòng và tâm trí đoàn con

Là sản phẩm do tay Ngài mà có

(Thánh Thi Kinh Chiều Lễ Hiện Xuống)

— — —

[1] J.P. Sartre, La Nausea, Ital. trans., Milan 1984, p. 193 f.

[2] Thomas Aquinas, Summa theologica, II-IIae, q. 1, a. 2, ad 2.

[3] Cf. G. Prestige, God in Patristic Thought, London 1936, chapt. XIII (Ital. trans., Dio nel pensiero dei Padri, Bologna, il Mulino, 1969, pp. 273 ff).

[4] Gregory Nazianzen, Oratio 31, 5.10; cf. also Oratio 6: “Until when will we keep the lamp hidden under the bushel and not proclaim in a loud voice the full divinity of the Holy Spirit?”

[5] Cf. Lumen Gentium, 12.

[6] John Paul II. “To the Constantinopolitan Council I,” in AAS 73, 1981, p. 521.

[7] Basil, On the Holy Spirit, XVI, 38 (PG 32, 137B); Ital. Trans. By E. Cavalcanti, L’esperienza di Dio nei Padri Greci, Rome, 1984.

[8] Ambrose, On the Holy Spirit, II, 32.

[9] Basil, On the Holy Spirit, XVI, 39.

[10] J. D. G. Dunn, Jesus and the Spirit, London 1988.

[11] Basil, On the Holy Spirit, XVI, 39.

[12] Ibid. XVI, 40.

[13] Ibid., XIX, 49.

[14] Ibid., IX, 23.

[15] Ibid., XV, 35.

[16]Plotinus, Enneads I, 9 (Ital. trans. By V. Cilento, vol. I, Laterza, Bari 1973, p. 108).

[17] Doroteus of Gaza, Teachings 1,20 (SCh 92, p. 177).

[18] Gregory of Nyssa, De instituto christiano (ed. W. Jaeger, Two Rediscovered Works, Leida 1954, p. 46.

[19] L. Bouyer, La spiritualità dei Padri, Edizioni Dehoniane, Bologna 1968, p. 295.

 Sr. Ngô LiênÁnh Sáng chuyển ngữ

từ http://www.zenit.org/article-34512?l=english

Comments are closed.