Lề luật chị em nhà Đức Chúa Giời thuộc Địa Phận Bùi Chu (1939)

0

LỀ LUẬT CHỊ EM NHÀ ĐỨC CHÚA GIỜI 

THUỘC ĐỊA PHẬN BÙI CHU

IMPRIMERIE BUI CHU 1939

IMPRIMATUR à Bùi-chu le 9 Janvier 1939

+ D. Hồ-Ngọc-Cẩn Vic. Ap.

TỰA

Cặp mọn này không phải là sửa đổi gì lề luật các nhà chị em đã có xưa nay, cũng chưa phải là lề luật Thày có ý lập để làm cho các nhà chị em vào lối nhà dòng chính thức, là điều Thày đã lưu tâm mà chưa đến kỳ thực hành. Vậy cặp mọn này chẳng qua là thu góp lại mấy điều cần đã có trong quyển Lề luật của chị em và chọn lấy những điều thích hợp cùng thời thế; những điều không thích hợp hoặc nói không rõ làm cho chị em sinh áy náy thì nói cho rõ hơn và thêm ít điều thích hợp hơn để bổ ích cho chị em trong đàng nhân đức cùng về phương diện tinh thần.

Vả trong quyển này, khi nói rằng: “chị em khấn” thì không phải là khấn thật như các dòng đâu, vì chưa có nhà tập theo lề lối. Vậy “khấn” nói đấy chẳng qua là một kỳ dốc lòng giữ lề luật cho giọn mà thôi.

Bởi Thày thấy chị em các nhà không cứ một lề lối như nhau, lại nhiều nơi vì ham công việc phần xác mà chẳng giữ mọi việc cho có thì giờ, v.v. nên Thày đã ban phép in quyển này ra cho chị em tiện dùng, ai nấy cũng có sẵn được trong tay mà xem đi đọc lại cho nhớ mà giữ. Vậy chị em bất luận dòng Ba hay là Dòng Mến Thánh Giá cũng hãy giữ tạm vậy, cho đến khi Thày ban quyển Lề luật khác có qui- củ theo luật dòng thật.

Chúc lành cho các nhà chị em thảy được bình an trong Chúa.

+ D. HỒ NGỌC CẨN. Vic. Ap.

 

LỀ LUẬT CHỊ EM NHÀ ĐỨC CHÚA GIỜI

THUỘC ĐỊA PHẬN BÙI CHU

ĐIỀU THỨ I: Về kẻ nên cho vào, và về tuổi nào sẽ nhận, sẽ cho mặc áo và cho khấn.

  1. Kẻ nên cho vào phải có tiếng tốt nết na và khỏe mạnh, không có tật lây, không mắc ngăn trở gì, cùng chưa quá 14 tuổi. Nhưng chỉ nên kể năm ở tự 18 tuổi.
  2. Đến 20 tuổi thì cho mặc áo, 25 tuổi thì cho khấn, ấy là khi thấy kẻ ấy ra sức giữ phép tắc nết na, cùng thật lòng muốn dâng mình cho Chúa.
  3. Trước khi khấn, dù Bà Nhất cùng quá nửa chị em đã khấn bằng lòng thì còn phải trình Thày Cả bản quản xét lại, rồi người chỉ ngày nào mặc áo hay khấn thì phải cấm phòng ít là 3 ngày cho được mặc áo và 5 ngày cho được khấn.
  4. Dù chị nào chưa mặc áo thì cũng có bum khăn trắng trong những dịp đi chầu lễ, đi lạy chung v.v.
  5. Khi trẻ nào xin vào nhà Phước thì phải tra hỏi trước có ở nhà Phước nào mà đã phải loại ra chăng, vì dù không có thư luân lưu nhưng cũng có khi có điều không đáng cho ở nhà Phước khác. Lại là người ở xứ khác thì phải có tờ khẩu cung Cha Xứ sở tại.

ĐIỀU THỨ II: Phải giữ mọi thì giờ cho giọn

I. Giờ thức dậy:Vừa nghe đánh hiệu, liền chỗi dậy đọc kinh cám ơn, kinh dâng, rồi đi rửa mặt, lên nhà nguyện hay ra nhà thờ tùy nơi; nếu ra nhà thờ, thì sẽ hội nhau gần cổng ngăn, khi lên hiệu, thì chị bé đi trước, chị lớn đi sau, phải đi kế tiếp nhau, lúc về cũng thế. Khi đi khi về, hãy nhắc trí lên và than thở củng Chúa, đừng nói chuyện trò hoặc trông ngang ngửa kẻo chia trí đi đàng khác.

II. Giờ đọc kinh nguyện ngắm.

  1. Đến giờ đọc kinh nguyện ngắm chung, thì phải làm chung vuối nhau, không được làm riêng, và phải đọc cho đều giọng.
  2. Phải giữ mình kẻo ngủ gật hay chia trí ra, nếu ngủ gật thì bấm chân, vả mắt hay ra ngoài rửa mặt; bằng chia trí ra, thì kíp phải cầm trí lại mà suy có Chúa đang ở trước mặt.

III. Giờ ở lặng.

  1. Sự ở lặng bề ngoài thì làm cho yên trí bề trong mà dễ nghe tiếng Chúa nói khó, nơi nào rộn ràng thì Chúa chẳng ở vuối. Vậy hãy ái mộ giờ ở lặng.
  2. Phải ở lặng từ lúc đánh thức sớm mai cho đến khi uống nước đoạn và từ khi đọc kinh tối cho đến khi đi ngủ. Ban ngày các giờ học hay là làm việc cũng ở lặng; khi cần phải nói thì nói đủ nghe, đừng dức lác, cười cợt to tiếng.
  3. Mỗi khi lên hiệu thôi việc này mà đi làm việc khác thì ở lặng mà đi cho mau mắn dường như nghe tiếng Chúa gọi.

IV. Giờ học hành.

  1. Mỗi nhà phải chọn một cô giáo nết na đạo đức coi sóc các chị bé cách riêng; nhưng về sự chia giờ, chia việc làm, thì phải bàn tính vuối bà nhất bà nhì, cô giáo chẳng được tự chủ đâu; còn các chị khác thì đừng pha mình vào việc coi sóc các chị bé làm chi.
  2. Trong giờ học thì không được truyện trò hay làm việc khác, phải chăm học các món cô giáo đã chỉ như tập đọc, tập viết, tập tính, ít là bốn phép gốc cho tinh tường và tập hát một hai bài mình thường quen hát khi làm phép lành để hát trong nhà nguyện mình thì được.
  3. Ai phải phiên đọc sách hay ngắm ở nhà cơm nhà nguyện thì phải xem đi xem lại cho kỹ lưỡng, phân câu phân triệt, đừng đọc tiếng nọ ra tiếng kia, hay kéo câu trên xuống câu dưới. Nếu điều gì hồ nghi thì trình hỏi trước.

V. Giờ nghỉ giải trí.

  1. Đến giờ được giải trí thì đi đi lại lại ở sân hay hè để nói chuyện với nhau cho vui song phải giữ lời nói, chớ nói hành nói xấu ai, hay cãi cọ dức mắng nhau bao giờ.
  2. Phải vui chơi với mọi người, đừng muốn truyện trò vuối kẻ nọ hơn kẻ kia, không nên yêu riêng ai. Lại đừng để lòng biềm khích ai mà không muốn truyện trò vuối kẻ ấy.

VI. Giờ ăn cơm.

  1. Việc ăn uống là điều bất đắc dĩ, cần phải có cho được nuôi xác cho sống chứ chẳng tìm cho được sướng nên phải lánh sự mê ăn uống.
  2. Khi nghe hiệu thì phải ra nhà cơm hết thảy, không ai được phép ăn cơm ở buồng trừ kẻ liệt nặng; còn kẻ liệt nhẹ, nếu không tiện ngồi chung vuối các chị em thì sẽ cho dọn nơi riêng ở nhà cơm cho các người bệnh ăn chung vuối nhau, cùng một trật vuối các chị em khác.
  3. Đến cả, đoạn sẽ làm phép xin Chúa làm phép lành cho của ăn được nên lành để nuôi cả xác liền hồn.
  4. Đang khi ăn phải đọc sách mà nghe kẻo miệng chịu lương mà lỗ tai khát lời Chúa nên hết thảy phải ở lặng hoặc có điều gì thì nói sẽ sẽ để kẻ giúp việc lấy cho, mà nếu có cần thì Bà Nhất được nói mà thôi.
  5. Dù của ăn kham khổ thì đừng lẩm bẩm hay tỏ dấu nào mà kẻ khác hiểu được mình không vừa lòng về của ăn, vì ta được cơm ăn đang khi có muôn vàn người phải chết đói.

VII. Giờ ngủ.
Sự ngủ giống như sự chết mà xưa nay có nhiều kẻ đi nằm ngủ rồi ngủ mãi cho đến ngày tận thế. Vậy:

  1. Chớ hề khi nào để mình mắc tội trọng mà đi nằm ngủ! Rủi có như thế hãy liệu xưng tội trước.
  2. Trước khi đi ngủ hãy đọc ba kinh Kính-mừng, kinh lạy Nữ- vương, dâng giót mình cho Đức Mẹ đã, đoạn mới nằm ngủ.
  3. Đêm nào khó ngủ hay thức giấc dậy, hãy nhớ sự chết, sự hỏa ngục, hay sự thương khó Chúa. Chớ để cho trí khôn để giông dài.

VIII. Giờ làm việc: Làm biếng ở nhưng là cội rễ mọi tội lỗi cùng mọi nết xấu. Vậy:

  1. Hễ sớm mai khi đã uống nước đoạn và nghỉ một khắc, ai phải làm việc gì thì đi làm việc ấy ngay.
  2.  Đang khi làm việc, hãy năng nhớ Chúa ở trước mặt và than thở cùng Người một hai nhời vắn tắt.
  3. Khi nào chị em phải làm việc vất vả, khó nhọc, hãy nhớ xưa Chúa đã chịu vác Thánh giá nặng ngã xuống nhiều lần, nên mồ hôi máu chảy ra nhỏ xuống đất, để giúp chị em được vui lòng chịu khó.
  4. Chúa cho ai sức ngần nào thì làm việc ngần ấy nên kẻ nào tuổi tác hay yếu sức thì hãy xin phép để đổi việc nhẹ cho, mà các kẻ khác chẳng nên phân bì.
  5. Ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng trong năm thì phả nghỉ việc xác để làm việc cầu nguyện và xem sách Thánh Giáo Thuyết Minh và học Lề luật này cho thuộc. Trừ các ngày lễ gặp trong hai mùa.

IX. Giờ gặp khách.

  1. Khi cha mẹ bà con đến thăm thì xin phép bà Nhất để ra gặp, miễn là giờ rỗi.
  2. Khi khách xin gặp giờ nào đang mắc làm việc chung thì phải đợi. Trừ khi có việc cần và đã có phép.
  3. Khi truyện trò cùng khách đừng theo tính nhẹ dạ mà nói những điều từ nhà Phước không nên cho người biết, một phải có ý tứ mà nói làm sao cho xứng người nhà Phước.
  4. Không nên gặp khách lâu quá, trừ khi cha mẹ xa xôi không mấy khi gặp; dù thế mặc lòng, nếu đến giờ phải đi làm việc chung cũng phải từ giã mà về
  5. Khi có khách thì bà Nhất hằng phải cắt một chị khác đi cùng, chẳng được ra một mình đâu.

ĐIỀU THỨ III: Luật phải giữ về nơi.

I. Nơi nhà nguyện

  1. Nhà nguyện là nơi cầu nguyện, là đền Vua cả, nên phải kính trọng cho lắm, chớ hề trò truyện nhỏ to.
  2. Khi vào nhà nguyện phải lấy nước thánh làm dấu Thánh- giá rồi đi nghiêm trang đến nơi đã chỉ mà quỳ một lát, chớ khi nào vào nhà nguyện hay nhà thờ mà ngồi tức thì.
  3. Khi đi dép hay là guốc thì phải có ý đi se sẽ; khi vào nhà nguyện lấy đồ gì thì trước sau phải quỳ thầm thĩ một hai phút, đoạn mới nên đi ra.
  4. Nếu có để Mình Thánh thì phải cắt người cẩn thận coi đèn chầu, chẳng nên để tắt bao giờ, vì luật buộc cách nặng.
  5. Đồ lễ phải xếp đặt lớp lang, nhất là chén lễ, đĩa Thánh, bình Cômônhong thì chớ cầm tay không, phải lót khăn trắng sạch mà cầm.
  6. Khi đốt nến phải lo kẻo đổ sáp trên khăn bay trên bàn thờ lại đốt vừa giờ đừng đốt sớm quá.
  7. Khăn thánh, khăn lau chén và tấm palla, trước khi giặt thì đưa cho một Cha giặt trước đã; còn các khăn áo khác, hễ thấy hơi bẩn thì giặt liền.

II. Nơi phòng ngủ.

  1. Nhà ngủ là nơi thanh vắng tịch mạc, cho nên trừ ra giờ ngủ thì chẳng được tự ý mà vào.
  2. Khi vào nhà ngủ phải ở yên lặng, chẳng nên chùm đôi khóm ba, giường này giường khác mà truyện trò kháo láo.
  3. Buổi sáng uống nước về thì được phép vào để thu chăn chiếu, cuốn màn, mở cửa cho thanh khí, rồi phải ra ngay.
  4. Các buồng nên treo hoặc mẫu ảnh Đức Bà, hoặc tượng Chịu- nạn; còn gần cửa buồng thì phải có một bát nước phép để khi ra vào thì làm dấu thánh trên mình.

ĐIỀU THỨ IV: Luật phải giữ về một ít việc.

I.- Về việc phải làm mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi năm.

A. – MỖI NGÀY. 

  1. Ba giờ 3 khắc đánh thức, tư giờ đọc kinh, sẽ đọc kinh Đức Chúa Thánh Thần, kinh Tin, Cậy, Mến, năm chục hạt mùa vui, đoạn vừa ngắm vừa suy đủ 2 khắc.
  2. Ngắm đoạn thì đọc kinh lạy Thánh Mẫu v .v. và kinh ông thánh Phanxicô, rồi nguyện kinh Truyền Tin.
  3. Xem lễ, rước lễ, cám ơn.
  4. Nơi nào phải ra nhà thờ xem lễ mà lo không kịp thì lên nhà nguyện đọc 5 chục kinh rồi đi xem lễ ngay; xem lễ về lại lên nhà nguyện suy ngắm 2 khắc rồi đi uống nước.
  5. Uống nước về nghỉ ngơi một khắc rồi lên hiệu đi làm việc đến 10 giờ 3 khắc thì nghỉ, 11 giờ ăn cơm. Ăn cơm đoạn giải trí đến giờ 12 nguyện kinh Truyền Tin rồi đi làm việc.
  6. Đến 1 giờ 30 thì lên hiệu đọc 5 chục mùa thương, thêm kinh ông thánh Đôminicô, kính bà thánh Catarina và bà thánh Rosa, nếu có Mình Thánh thì viếng Mình Thánh rồi lại đi làm việc cho đến giờ 5 thì ăn cơm. Ăn cơm đoạn rồi đi làm việc cho đến 6 giờ 30 thì nghỉ.
  7. Sáu giờ 3 khắc đọc kinh, sẽ đọc 5 chục mùa mừng, kinh cầu, ngắm và suy nửa giờ, kinh ăn năn tội, kinh vực sâu, trông cậy.
  8. Đọc kinh xong, ví bằng không có việc gì cần thì hội tại nơi chung xem sách, đến 8 giờ 45 lên nhà nguyện viếng Mình Thánh, xét mình cám ơn, 9 giờ đi ngủ. Các điều nói đây cũng chỉ về hai tháng mùa; dẫu vậy, khi có việc cần vội thì bà nhất cũng có phép xê xếp cho chị em làm việc lâu giờ hơn ít nhiều.
  9.  Các ngày thứ sáu Quanh Năm và các ngày thứ tư Mùa Chay khi đã đọc kinh tối đoạn thì sẽ đọc kinh ăn năn tội và đánh tội cho được nhớ sự thương khó Chúa đã chịu đánh nát cả và mình, và xưng ra mình là kẻ có tội, song không nên làm cách nào hạ thân xác như đánh cho để máu ra.

B.- MỖI TUẦN.

  1. Ngày thứ sáu viếng Đàng Thánh Giá
  2. Ngày thứ 7 ngắm 7 sự đau đớn Đức Mẹ thay vì năm chục hạt chiều tối, lại chọn một ngày mà xưng tội; siêng năng rước lễ hay nhất là rước lễ mọi ngày.

C. – MỖI THÁNG và MỖI NĂM.

  1. Mỗi thứ 5 đầu tháng thì cấm phòng chung; mỗi năm một kỳ cấm phòng 5 ngày giọn.
  2. Những tháng có kính riêng như tháng ông thánh Giu-se, tháng Đức Bà, tháng Lái – tim, tháng Cầu hồn, thì chiều tối hãy làm việc theo tháng như trong sách đã chỉ thay vì ngắm nửa giờ.

II. – Về việc ăn chay kiêng thịt và đánh tội.

  1. Đừng kể phải ăn chay kiêng thịt các ngày Hội – Thánh buộc, lại phải ăn chay ngày áp lễ ông thánh Đôminicô, bà thánh Catarina.Còn các ngày thứ 4 về mùa chay và thứ 6 mùa át thì khuyên.
  2. Thứ 6 quanh năm nên hãm mình một món đồ ăn.

III. – Về việc coi sóc kẻ liệt.

  1. Trong năm phải đăt riêng mấy chị giúp kẻ liệt.
  2. Khi có kẻ liệt năng thì phải coi sóc cơm cháo thuốc thang cùng năng đọc sách cho kẻ liệt nghe và cũng phải rước Thầy Cả cho kẻ liệt được ăn mày các phép khi còn tỉnh cho chắc phần riêng .
  3. Phải liệu sẵn một buồng riêng để tiện bề coi sóc và khỏi ngăn trở cho người khác. Vì vậy, hễ ai đã không xuống nhà cơm được thì phải xuống buồng kẻ liệt .

IV. – Về việc nhà có người qua đời phải báo tin và cầu nguyện thể nào?

  1. Khi trong nhà có người qua đời thì bà Nhất phải làm thư trình Bề – trên ngay để Người thông tin cho các nhà Phước được hay. Nhà nào được thư phải kí nhận rồi gửi đi nhà khác, đừng để chậm trễ.
  2. Theo nhời giao thì hễ người nào trong dòng qua đời thì nhà ấy mỗi người phải lần hạt 3 tràng, xưng tội rước lễ 3 lần cầu cho linh hồn mới qua đời.
  3. Chị nào đã nhận vào sổ song chưa mặc áo, thì nhà ấy sẽ xin một Mi-sa hàng, một Mi-sa mồ.
  4. Chị nào đã mặc áo thì sẽ cho 1 Mi-sa mồ và 2 Mi-sa hàng. Còn các nhà khác thì mỗi người lần hạt một tràng trăm rưỡi, xưng tội rước lễ một lần cầu cho những linh hồn này. Lại xin thêm 1 tràng hạt cầu cho linh hồn kẻ đã mặc áo.
  5. Chị nào đã khấn thì sẽ xin cho một Mi-sa mồ và 4 Mi-sa hàng. Ví bằng chị ấy có công nhiều thì sẽ trình vuối thầy cả bản quản mà thêm lễ tùy nghi.
  6. Khi Bà Nhất qua đời thì phải trình vuối Thầy Cả bản quản mà tùy công bà ấy đã siêng năng coi sóc chị em cửa nhà thể nào. Vậy khi có công nhiều thì sẽ xin 2 Mi-sa mồ và 15 Mi-sa hàng; có công vừa thì xin 2 Mi-sa mồ, 10 Mi-sa hàng. Ví bằng chẳng có sinh ích gì phần hồn phần xác, chốc ấy sẽ xin như các chị em đã khấn. Còn các nhà khác, mỗi nhà phải xin 1 lễ Mi-sa chỉ cho các linh hồn ấy.
  7. Lại mỗi nhà, mỗi năm, phải xin 3 lễ Mi-sa cầu cho kẻ còn sống và kẻ đã qua đời.
  8. Sau hết, trong nhời giao này có ý nóii về những kẻ chết còn ở vuối chị em trong một nhà cùng kẻ mặc áo và đã khấn khi còn khỏe; chẳng có ý nói về kẻ đã bỏ chị em mà đi ở nhà khác và kẻ bởi bệnh mà khấn đoạn liền qua đời. Vì vậy khi làm thư thì phải nói cho rõ là người bậc nào.

V. – Về việc gửi thư, nhận thư hay đồ vật gì.

  1. Khi chị em có việc cần phải gửi thư cho ai thì phải xin phép bà nhất trước; viết xong phải đưa bà xem rồi bà sẽ gửi hay không tùy có cần hay chăng.
  2. Chị em chẳng được gửi hay nhận trộm vụng và khi có thư lại cũng phải đưa cho bà xem trước đã, các đồ vật khác cũng vậy.
  3. Khi Bề- trên gửi thư cho chị em thì bà nhất cũng cứ mở ra song khi thấy chữ Bề- trên ký thì phải trao cho chị em, chẳng nên xem nữa.
  4. Khi chị em có cần gửi thư hầu Bề -trên, viết rồi đem đến cho bà nhất phong lại rồi gửi đi, chứ chẳng nên xem hay tra hỏi điều gì về thư ấy.

VI. – Về việc chị em khi phải ra ngoài nhà.

  1. Không ai được tự ý ra khỏi cổng ngăn dù ban ngày ban đêm khi chưa xin phép; nên phải khóa cửa và cắt một người chắc chắn và đã quá 45 tuổi canh cửa.
  2. Khi có việc phải ra khỏi nhà thì phải lên nhà nguyện cầu xin Đức Mẹ và thánh Thiên thần bản mạnh gìn giữ mình khi đi khi về được bằng an. Khi về cũng thế.
  3. Khi đi đâu chẳng hề được đi một mình bao giờ, ít là hai người phải đi làm một. Dù đang khi đi đàng, dù đã đến nơi, cũng chẳng được lìa nhau. Lại trong hai người phải có một người phải quá 40 tuổi.
  4. Khi đã được phép đi nơi nào và đi bao lâu thì không được mượn dịp ấy mà đi nơi này nơi khác, cũng phải cứ hẹn đã chỉ mà về.
  5. Khi đi bán thuốc, rửa tội, dạy kinh, coi nhà thương, coi sở ruộng, thì trong hai chị ít là phải có một chị đã quá 40 tuổi, một chị quá 30 tuổi và có phần đạo đức chắc chắn; chẳng vậy thì đừng sai đi làm chi. Lại hai chị ấy chẳng được lìa nhau.
  6. Khi phải bệnh đã lo liệu thuốc thang vừa phải mà không khỏi thì được cho đi nhà thương Bùi -chu hay về nhà quê. Còn khi cần lên nhà thương tỉnh thì phải có phép Cha Xứ.

VII. – Về việc bầu Bà Nhất, Bà Nhì.
Các chị em phải giữ luật Dòng dạy hai điều này:

  1. Các Bề – Trên coi từng nhà chỉ được bầu từng khóa 3 năm, hết khóa thì còn được tái bầu; mãn khóa thứ hai thì thường chẳng nên bầu lại.
  2. Nên bầu kể từ 40 tuổi chẵn giở lên, miễn là đã khấn đủ 10 năm. Vậy cho được liệu việc này nên thì:
  • Chị em phải xưng tội rước lễ cầu cho Chúa soi sáng cho biết chọn người nào nối việc ấy cho sáng danh Chúa cùng sinh ích cho chị em.
  • Phải trình Bề trên chung để người định chọn những ai và chỉ ngày nào hoặc người đến hay Thày Cả nào đến thay người.
  1. Thày Cả cùng các chị em cùng đọc kinh Đức Chúa Thánh Thần, kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng, kinh Tin Kính.
  2. Thày Cả sẽ dán tên 3 người Bề Trên đã chọn ngoài 3 lọ để chị em muốn chọn ai mặc ý.
  3. Sẽ phát cho chị em mỗi người một hạt đỗ trắng, hai hạt đỗ đen, chị em sẽ bỏ trong 3 lọ ấy mỗi lọ một hạt, ai muốn chọn người nào thì bỏ hạt đỗ trắng vào lọ đã dán tên người ấy.
  4. Người nào đã có tên mình dán ngoài lọ thì chẳng nên bỏ hạt vào lọ có tên mình.
  5. Bỏ xong, Thày Cả đổ ra trước mặt chị em một khi một lọ, lọ nào nhiều đỗ trắng hơn nửa phần chị em thì người ấy trúng tuyển.
  6. Hoặc chẳng có lọ nào được nhiều đỗ trắng quá nửa phần chị em, chốc ấy phải bỏ lại.
  7. Ví bằng tự khi bầu đã được một tháng, chị em chẳng thuận nhau, cho nên chẳng có lần nào hợp nhau mà được hơn nửa phần, chốc ấy Bề Trên đặt người nào thì phải chịu người ấy.
  8. Có muốn chọn ai làm Bà Nhì thì cũng cứ như vậy.
  9. Đã bầu xong, Thày Cả sẽ dạy Bà Nhất, Bà Nhì ngồi nơi quen chỉ, rồi Thày Cả và các chị em sẽ đọc kinh cám ơn Đức Chúa Giời. Sau hết, chị em lạy tạ Thày Cả và mừng Bà mới.

VIII.- Về việc bổn phận Bà Nhất, Bà Nhì.

  1. Thường lề: trên làm dưới bắt chước, nên Bà Nhất, Bà Nhì hằng phải thuận hòa vuối nhau như một xác một linh hồn mà trong nhời nói việc làm cách ăn ở phải ra sức ở cho có nhân đức cùng giữ các phép trong dòng để nên tấm gương sáng láng cho hết các chị em trong nhà được soi mà bắt chước.
  2. Chính việc bổn phận bà nhất, bà nhì là phải coi sóc cho các chị em vâng giữ các điều trong lề luật cho kỹ lưỡng, nhất là về sự đọc kinh nguyện ngắm, xưng tội rước lễ cùng tập tành các nhân đức.
  3. Phải năng xem xét cho biết trong chị em có tính mê nết xấu nào như tính buồn giận, tính gắt gỏng, tính hay nói hành, mà khuyên dạy sửa tính đổi nết.
  4. Khi thấy ai sai lỗi thì phải quở trách sửa phạt, đừng cứ làm thinh; nếu cũng chẳng chừa cải thì sẽ loại ra.
  5. Phải lo liệu cho khỏi vay công mượn nợ: nên phải năng đi lại coi sóc cho các chị em siêng năng làm việc phần xác cùng chia việc ra mỗi người một việc, tùy sức tùy tài.
  6. Khi có lẽ phải thì bà nhất cũng được tha cho chị em khỏi giữ một hai phép trong nhà, nên khi có ai ngăn trở không giữ được thì phải xin bà chước cho; song chẳng nên lấy làm khinh thường mà tha vô cớ hay vì những lẽ nhỏ mọn, kẻo chầy kíp sẽ ra tồi tàn.
  7. Bà Nhất cũng không được lấy ý riêng mà gia thêm những việc lành vốn luật chẳng có buộc như sự đọc kinh, ăn chay, đánh tội, một là luật dạy thể nào thì sẽ cứ đấy.
  8. Bà nhất chẳng nên bỏ vắng nhà, nếu có cần phải đi đâu thì bà nhì phải xem sắp các việc như khi bà nhất ở nhà vậy.
  9.  Trừ Bà Nhất, Bà Nhì còn phải chọn 4 hoặc 3 chị khác có phần khôn ngoan, liêm chính, chẳng hay vị nể để vào ban Hội – Đồng. Vậy hai Bà và các chị đã khấn phải bỏ thể mà bầu ban Hội – Đồng, không phải bà nhất muốn kẻ vừa ý mình đâu.
  10. Khi có việc gì lạ thường thì phải thu tiêu một số bạc khá như việc làm nhà, tậu ruộng, thuê ruộng, bán ruộng, mua trâu, v.v. thì phải bàn vuối ban Hội –Đồng có thuận phần nhiều mới nên.

ĐIỀU THỨ V: Về mấy điều răn truyền.

  1. Về ngôi thứ các chị em vuối nhau thì Bà Nhất ngồi trên rồi đến Bà Nhì. Còn các chị em khác thì cứ thứ tự theo ngày khấn dù Bà Nhất, Bà Nhì đã nghỉ việc cũng ngồi theo thứ tự ấy.
  2. Khi thuê canh điền con ở thì nên thuê những người họ khác, xứ khác, càng xa càng hay, lại có tính thật thà ngay lành và ít là có 1 người 40 tuổi giở lên đứng đầu coi sóc các người làm khác.
  3. Phải có 2,3 gian trống trải và sạch sẽ liền cổng ngăn để khi có khách chẳng kỳ ai cũng phải cứ đấy.
  4. Nhà canh điền ở phải có cửa chắc chắn để ngăn ra nhà chị em ở. Chính Bà Nhất phải giữ chìa khóa và khi có việc mới được mở mà thôi.
  5. Phải lo liệc cho chị em đủ áo mặc nên hằng năm phải phát ít là một bộ quần áo hay một tấm vải thâm; lại thỉnh thoảng phải cho chị em nghỉ việc một hai ngày để khâu vá.
  6. Quyển sổ thu tiêu hàng năm phải biên rõ ngày nọ tháng kia đã thu tiền ấy bởi đâu, đã tiêu việc gì. Sổ thóc cũng vậy. Sổ ấy có bán tại nhà in Bùi (cũng như sổ nhà xứ.)
  7. Hằng năm phải làm 4 sổ: một sổ để nhà còn 3 sổ kia thì nộp 3 nơi chung; sổ ấy các chị vào hội quản-lý chính tay mình phải ký; bằng không biết ký thì vạch dấu Thánh giá thế này † chứ không mượn ai vạch cũng được đâu.
  8. Khi còn công nợ người ta hay người ta công nợ mình hay ai gửi gắp tiền, thóc để xin lễ hay cách nào thì cũng phải biên vào sổ tất-niên cho rõ ràng, kẻo nhỡ chết bất ưng chẳng kịp giối mà thiệt cách nào.
  9. Khi Bề-Trên đến thăm viếng chị em thì buộc mọi người trong nhà phải trình người về sự lề luật phép tắc, có ai lấy làm thị thường chẳng giữ để Người sửa phạt; bằng giấu giếm đến sau Người biết thì người sẽ cứ phép thẳng mà phạt chung các chị em. Còn Bà Nhất chẳng được nói nhời gì hay tỏ dấu nào, mình chẳng bằng lòng khi chị em cứ sự thật mà trình người.

ĐIỀU THỨ VI: Về mấy điều nghiêm cấm.

  1. Cấm chị em khi ai lên làm Bà Nhất, Bà Nhì ăn mừng trọng thể, dọn cỗ bàn rượu chè để tiếp đãi khách ngoài, một được dọn bữa khác thường để ăn mừng chị em vuối nhau trong nhà mà thôi.
  2. Cấm Bà Nhất, Bà Nhì cắt chị em đi coi lúa ngoài đồng ban đêm, chỉ nên giao cho những người đã thuê giúp quanh năm làm thay.
  3. Không ai được nhận kẻ nào làm con nuôi hay mượn ai làm giúp trong nhà như con nuôi mà rồi đứng làm cửa làm nhà, dựng vợ gả chồng, tậu ruộng nương; một thuê mướn ai thì cứ giả công cho người ta là xong.
  4. Cấm không được tự ý cho ai vay mượn hay vay mượn ai hay đứng bảo lĩnh khi chưa lĩnh ý Thày Cả bản quản và quá nửa phần chị em bằng lòng.
  5. Cấm tự ý mua bán ruộng đất trâu bò, bán nhà cũ, xây nhà mới cùng cấm mượn người ngoài đứng tên trong văn tự.
  6. Cấm giữ các tự khế về nhà Phước, một phải niêm phong rồi nộp tại công hàm Bùi chu.
  7. Cấm lập sở nọ sở kia hay vốn đã lập rồi mà bãi đi, khi có cớ phải thay đổi chị này chị khác thì phải trình Cha bản quản.
  8. Cấm các chị em coi sóc sở ruộng tự tiện cho vay các bổng lộc về các ruộng ấy, một phải làm sổ về mỗi một mùa mà nộp ngay cho Bà Nhất.
  9. Cấm chẳng ai được buôn bán riêng hay là để của nào riêng. Nếu có của nào riêng thì để làm của chung cho được sinh bổng lộc chung, khi mình gần qua đời muốn giối cho ai mặc ý; bằng có ra, thì cũng được lấy của ấy về.
  10. Cấm không được cho phép hay là sai chị em đi tết, đi ăn mừng nơi này nơi khác, chỉ trừ một hai dịp đã nói trong thư Đức Cha Già.
  11. Cấm không được để cho người nhà Thày, người phần đời vào trong nhà Phước, vào phòng nào hay là ăn uống ở đấy. Trừ ra canh điền con ở, thày lang và thợ khi có việc phải chữa sửa thì mới nên cho vào.
  12. Cấm khi vô cớ đi xem lễ, xem rước, xem chầu lượt ngoài họ nhà xứ sở tại.
  13. Cấm không được vào các nhà xứ, các nhà giáo; có việc gì cần phải đến thì cứ nhà khách hay nơi nào trống trải. Lại cũng cấm đi lại nhà canh điền con ở.
  14. Cấm không được đi thuyền, đi xe đi bộ vuối người nhà Thày, cấm trọ bên ở nhà xứ nhà giáo. Khi đi đàng mà gặp người nam nào, bất luận người phần đới hay nhà Thày, thì đừng chuyện trò cười cợt, đưa giầu cau kẻo trái mắt người ta mà làm mất tiếng nhà Dòng.
  15. Cấm sự kết nghĩa riêng dù chị em trong dòng, dù người nhà Thày hay phần đời, vì là một thứ ôn dịch rất dữ sinh ra nhiều tội.
  16. Cấm chị em đấm bóp cho người nam nào dù phải là người có tiếng nhân đức, dù đấng bậc nào chẳng kì kẻo liều mình hư đi. Lại cũng đừng đấm bóp cho nhau trừ khi có việc rất cần.
  17. Cấm chị em lớn bé nằm chung vuối nhau một buồng, mà nếu ngăn trở thì ít là phải chỉ hẳn một phần buồng cho các chị bé.
  18. Cấm chị em uống rượu hay để trong hòm; hoặc ai bệnh nặng mà thày thuốc dạy uống thì phải xin phép.
  19. Cấm cãi cọ dức mắng nhau, giận dữ bất thuận, làm cho trong nhà sinh ra ba bè bảy buối. Nếu vậy thì chẳng còn là chị em và nhà Dòng nữa, một đã ra ma quỷ và hỏa ngục.
  20. Cấm chị em bỏ thẻ bầu Bà Nhất, Bà Nhì cùng các đẳng vị về hội quản-lý, cho những người:
  • Có tiếng hay giữ của tư hay buôn bán và cho vay trộm phép.
  • Có nghĩa riêng vuối người nào.
  • Kẻ hay đưa điều đơm đặt, đem công việc nhà Phước này sang nhà Phước khác hay người ngoài đời.

ĐIỀU THỨ VII: Hình phạt

I- Về những giống hình phạt.

  1. Loại về thế gian.
  2. Phải xuống bậc.
  3. Ăn chay một tuần 3 ngày, trong 3 ngày ấy khi ăn phải quì nhà cơm mà ăn cơm vuối muối.
  4. Quì nhà cơm mà ăn một mâm riêng.
  5. Quì nhà cơm đang lúc chị em ăn rồi chị ăn sau.
  6. Giúp bàn khi chị em ăn, sau thì ăn cơm với người giúp.
  7. Đọc sách nhà cơm một, hai bữa.
  8. Quì nơi nào cho chị em xem thấy và giang tay.
  9. Quì mà không phải giang tay.
  10. Lạy mà xin lỗi.
  11. Nói mà xin lỗi.

Vậy các Bà Nhất phải tìm theo lỗi nặng nhẹ mà ra hình phạt cho xứng đáng; xong nếu lỗi kín thì phải sửa phạt cách kín, lỗi trống thì mới sửa phải trống. Lại cũng có khi nên tha hay giảm bớt, ấy là khi kẻ có lỗi đã tỏ ra dấu phàn nàn cùng thật lòng sửa mình lại và chịu phạt một cách vui lòng. Hai hình phạt trên phải làm thư trình Cha Bề-Trên chung trước đã, người có ơn mới được thi hành. Còn hình phạt thứ 3 giở xuống, khi Bà Nhất, Bà Nhì đã xét đáng lỗi thì nên dùng.

II- Về hình phạt vuối lỗi.

  1. Lỗi đáng cho về thế gian: như thân thiết cùng người nam, kết nghĩa riêng mà bắt được có làm điều mất nết, tỏ sự kín trong nhà ra cho người ngoài biết, để mất tiếng tốt chị em về sự trọng, chống cự với Bà Nhất, Bà Nhì cách tỏ tường, tội ăn trộm của trọng.
  2. Nếu các lỗi ấy không chứng hiển nhiên, chỉ đáng tình nghi như thế thì giảm nhất đẳng, là phải theo hình phạt thứ hai.
  3. Phạt qùi tại nhà cơm cũng là những lỗi nặng nhưng còn dong thứ chưa đuổi: như cãi giả, nói nhời vô phép vuối Bà Nhất, Bà Nhì; giữ thư hay nhận thư lậu người nam gửi cho; đem điều đơm đặt để cho chị em buồn giận ghen ghét nhau lâu, nói hành hay tỏ sự lỗi khí nặng chị em ra cho người ngoài biết; nói nhời ô uế; đi nằm nơi khác hay ra khỏi cổng ban đêm khi không có phép và khi lỗi các điều đã nghiêm cấm ở trên.
  4. Phải giúp bàn, phạt đọc sách, quen dùng mà phạt lỗi nửa nặng nửa nhẹ: như nửa mùa làm việc chung mới đến; nói chuyện hay cười cợt đang lúc đọc kinh xem lễ; đến phiên phải ngắm phải đọc sách mà chẳng xem nên đọc sai đến 4, 5 tiếng; kẻ theo cơn nóng giận mà mắng trách ai nhiều nhời.
  5. Hình phạt thứ 7 thứ 8 dùng mà phạt những lỗi nhẹ như khi lên hiệu đi làm việc chung mà chậm chạp chẳng đến cho kịp; khi giận dữ cãi mắng nhau qua loa; khi đọc kinh xem lễ hay quay ngang ngủ gật; vô ý đánh vỡ đồ vật.
  6. Phải lạy mà xin lỗi là khi nói, làm sự gì vô phép với Bà Nhất, Bà Nhì cùng các bà già mà không nặng đến nỗi phải quì nhà cơm hay đuổi ra.
  7. Phải nói mà xin lỗi là khi chị em nói làm mất lòng nhau mà không nặng đến nỗi phải phạt nặng hơn.
  8. Ấy là những phép phạt kẻ có lỗi, song le cũng được phạt cách khác là phạt làm những sự nghịch cùng nết xấu như:  kẻ hay nói dông dài thì phải ở lặng 1, 2 ngày; kẻ có tính kiêu ngạo cậy mình thì phải quét nhà rửa bát, chăn lợn, hôn đất; kẻ ăn uống ngoài bữa thì cũng cầm đũa bát, xong chị em ăn đoạn mới được ăn; kẻ mê ngủ thì phải quì hay đứng đang khi chị em ngồi v.v.
  9. Còn Bà Nhất, Bà Nhì khi lỗi nặng trong những điều đã nghiêm cấm thì Cha bản quản sẽ tư cho cha Bề–Trên chung để Người thân Đức Cha rồi sẽ định ra hình phạt cho đáng.

Comments are closed.