Lời tự hạ trong tác phẩm của Thánh Catarina Siena

0

LỜI TỰ HẠ TRONG TÁC PHẨM CỦA CATARINA SIENA

Trong bầu khí của những ngày sau lễ “Truyền Tin cho Đức Mẹ” và mừng lễ Thánh nữ Tiến sĩ Catarina Siena hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu một số hình ảnh mà thánh nữ Tiến sĩ Catarina đã dùng để diễn tả sự “hạ cố” của Lời Thiên Chúa trong mầu nhiệm Nhập thể và Cứu chuộc[1]. Những hình ảnh này là những “lời” diễn tả hành động yêu thương cao độ của Thiên Chúa, đã dâng hiến Con Một duy nhất của Người cho nhân loại. Hành động này cũng gắn liền khăng khít với thái độ khiêm cung và yêu mến của Đức Maria trước các mầu nhiệm: Thiên Chúa đã đoái thương, đã ban tặng cho Trinh Nữ làng Nagiaret những ân ban đặc biệt (Lc 1,48) và thu hút toàn tâm toàn ý của Trinh Nữ về với Người. Người trao ban Con Một cho Maria cách trực tiếp và riêng tư, để hiến mình cho nhân loại và thế giới chúng ta cách gián tiếp và phổ quát.

Sự khiêm hạ của Lời trong ngôn ngữ của Catarina được giới hạn vào bốn từ ngữ sống động và giàu ý nghĩa biểu tượng: lửa-tro, cái bao, bột mì và người thân thuộc.

  1. Hình ảnh lửa và tro

Hình ảnh này được tìm thấy trong lời cầu nguyện của thánh nữ Catarina vào ngày lễ Đức Mẹ Truyền Tin 25/3/1379, tại thánh đường Santa Maria sopra Minerva (Rôma): “Ôi Maria, cỗ xe chở lửa. Mẹ đã mang lửa bí nhiệm và đã giấu lửa ấy dưới làn tro của nhân loại” (Cầu nguyện 11). Thật vậy, vào lúc sứ thần truyền tin cho Đức Maria, xảy ra sự kết hợp nhiệm mầu giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại nơi Ngôi Lời. Sự kết hợp đó được diễn tả bằng ngôn ngữ biểu tượng của người phụ nữ thành Siena trong hai từ lửa-tro.

a) Trước hết, chúng ta dừng lại biểu tượng lửa. Hình ảnh lửa chỉ đến bản tính của Thiên Chúa cách trừu tượng, chung chung hay tượng trưng cho Ngôi Lời xét như một chủ vị cụ thể? Câu trả lời không đơn giản bởi vì trong các tác phẩm của Catarina, biểu tượng lửa được trình bày dưới nhiều sắc thái khác nhau.

Bản tính của Thiên Chúa được ví như lửa, lửa tình yêu: “Lạy Thiên Chúa vĩnh cửu, ôi lửa và vực thẳm của tình yêu” (Đối thoại 153). “Cha là lửa thiêu đốt mãi mãi mà không bao giờ tàn lụi” (Đối thoại 167). Nhưng “lửa” cũng chỉ đến từng ngôi vị trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Con cũng là lửa, lửa nồng nàn tình yêu, xét vì bản tính Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,8.16).

“Ngôi Lời, Con của Chúa Cha đã đến trong cỗ xe của nhân loại chở đầy lửa tình yêu. Ngài tỏ cho chúng ta ý muốn của Chúa Cha bằng giá máu, để thánh ý Người được thực hiện trong chúng ta: với ý muốn thật dịu êm, Người đã dựng nên chúng ta, đã tác tạo chúng ta để ban cho chúng ta sự sống đời đời. Thánh ý đó đã không được hoàn trọn, đã bị đánh mất vì tội lỗi của chúng ta. Tuy nhiên Ngài đã ban người Con cho chúng ta, giao nộp người Con cho cái chết tủi hổ trên thập giá, để làm cho thánh ý của Ngài trở nên rõ ràng và hiển lộ” (Tâm Thư 122).

Giống như Cha và Con, Thánh Thần cũng được biểu trưng bằng lửa (Cầu nguyện 24). Nhưng trong khung cảnh Kitô học, dường như Catarina sử dụng hình ảnh lửa để mô tả mầu nhiệm Nhập thể. Lửa không những ám chỉ đến thiên tính chung chung mà còn ám chỉ đến Ngôi vị của Lời. Catarina ý thức về điều đó, nhưng không tập trung suy xét đến nguyên do nào đã tạo nên cấu trúc duy nhất của Ngôi Lời nhập thể, vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Cái gì ở đằng sau sự hiệp nhất này? Tình yêu! Vì bản tính của tình yêu là kết hợp nên một. Chính tình yêu của Thiên Chúa đã kết hợp thiên tính với nhân tính. Như vậy tình yêu cứu độ của Người đã có mặt trong giây phút nhập thể rồi.

Nếu tình yêu đã hiện diện trong Mầu nhiệm Nhập thể, thì tại sao tình yêu ấy vẫn còn phải tiếp tục biểu lộ trong Thập giá và Phục sinh? Đối với Catarina trong mầu nhiệm Nhập thể, có mọi thứ cho ơn cứu độ của con người rồi. Lửa đã nằm ở dưới tro rồi, mạnh mẽ và cháy bỏng. Nhưng cũng cần phải nghĩ đến lửa tình yêu của Đức Kitô trong cái chết và sự phục sinh nữa: không phải nói về sự gia tăng của lửa tình yêu về lượng và phẩm, mà đó là vấn đề trương độ của sự tỏ hiện và nhận biết tình yêu này:

–  Vào lúc Nhập thể có ít người nhận biết mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa còn chôn vùi dưới lớp tro nhân loại;

–  Trong cuộc khổ nạn, tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ rõ ràng hơn nơi thân thể đầy thương tích của Đức Kitô. Tình yêu là nguyên nhân sâu xa nhất đã gây ra các vết thương trên thân thể của Ngài;

–  Đặc biệt trong mầu nhiệm Phục sinh, sự nhận biết tình yêu này mới đến với tất cả mọi người.

Chắc chắn Catarina không phải là người đầu tiên so sánh Đức Giêsu với lửa bừng cháy tình yêu. Có lẽ thánh nữ đã biết đến sách ngôn sứ Malakia trong lời loan báo về ngày chung thẩm, vị ngôn sứ dùng hình ảnh lửa và một hình ảnh khác để nói về tình yêu: “Ai đứng được khi Người xuất hiện? Quả thật Người như lửa của thợ luyện kim và như thuốc tẩy của người thợ giặt” (Mlk 3,2b). Hơn nữa, Catarina hẳn đã biết đến các sách Tin mừng, trong đó chính Đức Giêsu cũng đã nói rằng Ngài đến để ném lửa xuống thế gian (x. Lc 12,49a).

Tương tự với hình ảnh “lửa” Catarina cũng dùng một hình ảnh khác để ám chỉ Ngôi Lời:

“Đến với nhân loại là cỗ xe lửa của Con Một Cha. Ngài mang lửa đức ái của Cha đến với các con bằng lòng thương xót dạt dào” (Đối Thoại 58). “Tuy nhiên, Chúa Cha bị thúc đẩy bởi lửa đức ái, đã ban Ngôi Lời, người Con duy nhất của Người cho chúng ta. Người Con đó đã đến giống như một cỗ xe lửa, giãi bày lửa tình yêu khôn tả và lòng thương xót của Cha vĩnh cửu; Ngài đã dạy cho chúng ta giáo lý về sự thật và chỉ cho chúng ta con đường tình yêu mà chúng ta phải giữ lấy” (Tâm Thư 35).

Thánh nữ thành Siena cũng xác định ý nghĩa của ngôn ngữ biểu tượng đầy màu sắc này mà chị đã dùng. “Cỗ xe” ám chỉ nhân tính chở Ngôi Lời là “lửa” tình yêu: “Ai tỏ cho chúng ta thấy rõ ràng ý muốn của Thiên Chúa? Ngôi Lời, Con của Người đã đến trong cỗ xe nhân loại chúng ta, chở đầy lửa tình yêu” (Tâm Thư 122). Cũng vậy thành ngữ “cỗ xe lửa” trong ý nghĩa Kitô học xem ra quy chiếu về hai khung cảnh Thánh Kinh: cuộc thăng thiên của ngôn sứ Êlia trên cỗ xe bằng lửa (x. 2V 2,11) và di ngôn của Đức Giêsu: “Thầy đến để mang lửa xuống thế gian” (Lc 12,49a).

Ngoài ra chúng ta cũng nhớ rằng hình ảnh này còn mang một ý nghĩa thánh mẫu học. Thật vậy, không kể bài Cầu Nguyện 11 như đã nói ở trên, chúng ta còn thấy một tâm thư khác nhắc đi nhắc lại biểu tượng này:

“Mẹ là phương tiện và chính là cỗ xe lửa, khi trong lòng mình thụ thai Ngôi Lời, Con Một duy nhất của Thiên Chúa, Mẹ đã mang và đã ban lửa tình yêu cho chúng ta, tuy nhiên chính Ngài mới chính là tình yêu” (Tâm Thư 184)

b) Bây giờ chúng ta sẽ xét đến biểu tượng tro. Trước hết từ “tro” chỉ xuất hiện 5 lần trong toàn bộ bút tích của Catarina: 1 lần trong Cầu Nguyện 11; 1 lần trong Cầu Nguyện 12; 2 lần trong Cầu Nguyện 14 và 1 lần trong Đối Thoại 135. Như vậy hình ảnh này hoàn toàn vắng mặt trong các Tâm Thư.

Trong Cầu Nguyện 11 như được trích ở trên, chúng ta dễ dàng thấy tro tượng trưng cho nhân tính của Ngôi Lời mà đã lãnh nhận từ Đức Maria khi nhập thể. Biểu tượng tro ám chỉ cụ thể hơn đến nhân tính của Đức Maria đã được Con Thiên Chúa mặc lấy trong giây phút hoài thai. Trong Cầu Nguyện 12, tro cũng tượng trưng cho nhân tính của Ngôi Lời, nhưng lần này không quy chiếu đến thân xác của Đức Maria. Khung cảnh mà Catarina đưa vào biểu tượng “tro” là cuộc Nhập thể và Khổ nạn của Đức Kitô:

“Lạy Chúa, tình yêu và sự kết hợp này thật là bí nhiệm đến nỗi ít có ai biết được điều đó, vì điều đó mà linh hồn vẫn chưa lường cho hết sự cao cả của Ngài. Nhưng như con đã thấy, linh hồn đạt tới sự nhận thức hoàn hảo về tình yêu đức ái của Ngài, trong ánh sáng của Ngài, trong cuộc khổ nạn của Ngôi Lời, bởi vì lúc bấy giờ, lửa vốn ẩn giấu dưới làn tro của chúng con mới bắt đầu xuất hiện lan rộng và trọn vẹn, phơi bày thân xác rất thánh của Ngài trên gỗ cây thánh giá” (Cầu Nguyện 12).

Trong Cầu Nguyện 14, vào ngày lễ Cắt Bì cho trẻ sơ sinh Giêsu, Catarina mô tả thân xác của Đức Kitô giống như tro, để nhấn mạnh đến khía cạnh hay vấp ngã và chết chóc của nhân tính. Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa đã mặc lấy sự yếu đuối và tính hay chết, tiêu biểu của bản tính con người:

“Hôm nay Ngài đã cho thấy thân phận bụi tro hay chết của chúng con ở trong Ngài. Vì điều đó mà chúng con nhận biết chính mình trong tro bụi của Ngài và nhờ Ngài. Ngài đã chứng tỏ mình phải chịu đau đớn để chuộc lại và canh tân chúng con trong tình yêu của cuộc khổ nạn chí thánh, để qua mẫu gương của Ngài, chúng con sẵn sàng chịu đựng những đau khổ của chúng con”(Cầu Nguyện 14)

Trong một đoạn sách Đối Thoại, ý nghĩa tro bụi cũng được làm sáng tỏ: tro chỉ đến bản tính nhân loại mà Con Thiên Chúa đã mặc lấy: “Cha đã sưởi ấm con người, tỏ cho nó biết Con Một yêu dấu của Cha, qua vết mở trên thân thể Ngài, thấy lửa của tình yêu Cha đã ẩn giấu dưới làn tro nhân tính của các con” (Đối Thoại 135)

Tóm lại, lửa ám chỉ thiên tính nói chung và Ngôi Lời nói riêng, còn tro ám chỉ đến nhân tính hay chết mà Con Thiên Chúa đã nhận lấy từ Đức Maria. Ngoài ý nghĩa Kitô học, Catarina cũng thấy lửa sinh ra ánh sáng, sức nóng và thanh luyện, cưu mang và biểu trưng cho sự sống; còn tro thì biểu tượng cho những cái đã tàn phai, những gì không còn sức sống nơi mình nữa, tức là sự chết.

Catarina đã kín múc hình ảnh tro bụi này ở đâu? Chúng ta biết rằng Tân ước không bao giờ so sánh nhân tính của Ngôi Lời với tro bụi. Khi Catarina nói rằng Ngôi Lời mặc lấy bụi tro nơi mình, điều đó có nghĩa là Ngài cũng làm người như chúng ta, với tất cả những gì là hệ lụy của tội lỗi do Ađam nguyên tổ gây ra. Như thế có thể nói rằng Catarina cũng tìm thấy dấu vết của tro bụi trong nguồn suối Cựu ước. Khía cạnh hay chết của nhân loại tội lỗi đã được Cựu ước diễn tả trong thành ngữ: “Ngươi là bụi đất và sẽ trở về với đất bụi” (St 3,19); “Làm sao tro bụi dám kiêu căng?” (Hc 10,9); “Nhân loại hết thảy chỉ là đất là tro” (Hc 17,32). Ápraham khi cầu khẩn Thiên Chúa đừng giáng phạt hai thành Sôđôm va Gômora, ông cũng tự nhận mình là thân phận tro bụi (St 18,27). Ngoài ra, chắc chắn Catarina cũng nghĩ đến ý nghĩa phong phú của tro trong phụng vụ Thứ Tư Lễ Tro, với những lời nhắc nhớ: “Người ơi hãy nhớ mình là bụi tro” (x. St 3,19).

2. Hình ảnh cái bao

Từ ngữ “cái bao” (sacco) xuất hiện 6 lần trong các Tâm Thư 3, 96, 310, 362 và 334 (2 lần) nhưng lại không tìm thấy trong sách Đối Thoại. Còn “cái túi” (trong tiếng địa phương của Catarina là saccuccio một hình thức giảm thiểu của từ sacco, có nghĩa là cái bao) chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong các tác phẩm của ngài. Trong Cầu Nguyện 11, Catarina cũng sánh ví sự tự hạ đó giống như Ngôi Lời khép mình vào trong cái túi thấp hèn của bản tính nhân loại:

“Ngài đã chứng tỏ rằng Ngài yêu thương con người trước khi nó hiện hữu, Ngài chỉ muốn kéo nó về với Ngài bằng tình yêu. Nhưng tình yêu lớn lao mà Ngài bày tỏ cho con người là khi Ngài trao ban chính mình, khép mình vào trong cái túi rẻ rúng của bản tính nhân loại” (Cầu Nguyện 11).

Xét về phía Thiên Chúa, Nhập thể là trở nên nhỏ bé. Đấng thu mình vào trong xác thể con người chính là Đấng Vô biên. Dù vẫn là vô biên, Ngài kết hợp với biên giới, Đấng Vô hạn nên một với hữu hạn. Tuy vốn siêu việt trên hết mọi sự, trên cả không gian và thời gian, Ngài đã làm người, chịu chi phối bởi thời gian và không gian.

Trong Cầu Nguyện 11, tính từ “rẻ rúng” đi theo “cái túi” để nhấn mạnh đến mặt tiêu cực của thân xác con người. Nó cũng muốn gợi lên trong tâm trí chúng ta cái thân nhỏ xíu của Đức Giêsu trong tấc dạ của Đức Maria. Trong khi đó “cái bao” luôn luôn ám chỉ thân xác nhân loại với các mặt tiêu cực: đó là một thân xác đầy mùi hôi thối (Tâm Thư 362), ô uế và mục nát, làm thức ăn cho giòi bọ và cái chết. Chúng ta thử trích một đoạn làm ví dụ:

“Đời sống xác thịt của chúng ta thật là xấu xa. Từ mỗi phần của thân xác chúng ta văng ra mùi hôi thối: đơn giản đó chỉ là một cái bao đầy phân bớn, thức ăn của giòi bọ và của cái chết. Cuộc sống của chúng ta và cái đẹp trẻ trung đã biến mất rồi, giống như cái đẹp của bông hoa bị thu quén theo cây cỏ: không ai có thể cứu lấy cái đẹp này, giữ gìn nó khỏi bị bứng đi, khi quan tòa tối cao muốn hái những bông hoa sự sống bằng cái chết; và chẳng ai biết được khi nào sẽ xảy ra” (Tâm Thư 310).

Hình ảnh mặc “bao bố”, khoác “áo nhặm” vào thân được nhắc tới nhiều lần trong Thánh Kinh (Tv 35,13; 69,12; Is 22,12), nhưng dường như những câu này không ảnh hưởng chi đến tư tưởng của Catarina. Có lẽ ngài cũng biết đến một số thánh nhân đã sử dụng hình ảnh “cái bao”. Ví dụ, thánh Bernađô ví “Đức Kitô là cái bao đầy lòng thương xót, trên thánh giá cái bao đó đã bị tả tơi mọi bề, bị xuyên thủng và mở ra nhiều phía” (x. Domenico Cavalca, Lo spechio della croce, a cura di Canti, Bologna 1992, tr. 298).

3. Hình ảnh bột mì

Một biểu tượng khác quen thuộc trong đời sống nội trợ mà thánh Catarina sử dụng để nói về sự tự hạ của Ngôi Lời, đó là “bột” của Đức Maria:

“Ôi Maria người được chúc phúc giữa các người phụ nữ từ đời nọ đến đời kia, bởi vì hôm nay Mẹ đã ban cho chúng con bột của Mẹ. Hôm nay thần tính kết hợp và nhào trộn với nhân tính của chúng con rất mãnh liệt đến nỗi không ai, kể cả cái chết, kể cả sự vô ơn bội nghĩa của chúng con, có thể tách sự kết hợp này ra được. Nhưng thần tính luôn luôn kết hợp nên một với thân xác của Đức Kitô ở trong mồ, với linh hồn của Ngài ở trong ngục lâm bô, và ở cùng với linh hồn và thân xác của Đức Kitô. Như thế sự khăng khít này được ký kết như một khế ước chung, đến nỗi chẳng bao giờ phân ly, và muôn đời không bao giờ bị tháo gỡ” (Cầu Nguyện 11).

Xem ra Catarina chuyển ý rất tự nhiên, từ biểu tượng “bột” đến biểu tượng “nhào bột” làm bánh, rồi mô tả điều này trong những từ mà Kitô học gọi là ngôi hiệp (sự kết hiệp chặt chẽ giữa hai bản tính trong một ngôi vị). Vị thánh tiến sĩ này cũng cho mầu nhiệm Nhập thể màu sắc của Bí tích Thánh thể: nói đến Thánh thể là giả định có Nhập thể rồi. Bột này là bản tính nhân loại được Ngôi Lời mặc lấy nơi Đức Maria: caro Christi, caro Mariae (xác thịt của Đức Kitô là xác thịt của Maria). Sự nhào bột, sự kết hợp giữa thiên tính và nhân tính, là hồng ân vĩnh viễn của Thiên Chúa và không thể bị thu hồi, cũng không thể bị giảm sút, cho dù ở giữa là cái chết và sự bất trung của con người. Thật vậy, vào ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, khi xác của Đức Kitô được nghỉ yên trong mồ, và linh hồn của Ngài xuống dưới ngục âm ti, thì thần tính của Ngài vẫn không thể chia lìa nhân tính (x. Cầu Nguyện 16). Trong trường hợp này tư tưởng của Catarina hòa hợp với tư tưởng của thánh Tôma Aquinô (STh III, q. 50, a. 2-3).

Trước khi bước sang hình ảnh khác, chúng ta lưu ý rằng hình ảnh “bột” chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong toàn bộ bút tích của Catarina. Có lẽ Catarina đã chịu ảnh hưởng tư tưởng qua bài giảng của các cha dòng Đa Minh, trong đó phải kể đến Bài giảng Chúa Nhật của cha Iacopo da Varagine: “Trong cung lòng trinh khiết vẹn sạch, tấm bánh này được làm bằng ba thứ bột: bột cũ, bột mới và bột vĩnh cửu, nghĩa là xác thịt, linh hồn và thần tính đích thực của Ngôi Lời” (Sermones Dominnicales, Venetiis 1589, 150v).

4. Hình ảnh người thân thuộc

Cũng trong ngày lễ Đức Mẹ Truyền Tin, Catarina cất tiếng than thở: “Linh hồn tôi ơi, hãy xấu hổ nhìn xem, Thiên Chúa hôm nay đã trở nên thân thuộc với ngươi trong Đức Maria” (Cầu Nguyện 11). Mầu nhiệm Ngôi Lời mặc lấy nhân tính một lần nữa là một mầu nhiệm hôn ước, kết hợp đôi bên xa lạ thành một nhà, một huyết thống, một ruột thịt. Nơi quan trọng diễn ra sự xe duyên này là cung lòng của Đức Maria, đại diện cho tất cả nhân loại. Hôn ước này được ký kết giữa hai tự do, tự do của Thiên Chúa và tự do của Đức Maria.

Khi sử dụng biểu tượng này, Catarina không khẳng định điều gì mới mẻ. Từ xưa trong Phụng vụ người ta thường trình bày mầu nhiệm Nhập thể giống như mầu nhiệm của hôn ước. Nhưng rất có thể ở đây, Catarina lệ thuộc trực tiếp vào thánh Augustinô (+430) và các cha dòng Đa Minh như: Iacopo da Varagine, Giordano da Rivalto và Domenico Cavalca. Trước hết, chúng ta cùng đọc một đoạn của thánh Augustinô trong bài chú giải trình thuật tiệc cưới Cana của thánh Gioan (Ga 2,1-12).

“Nhận lời mời, Chúa liền đi dự tiệc cưới. Ta hãy tự hỏi xem Ngài đến dự tiệc cưới trong căn nhà đó hay là Ngài đến dự tiệc cưới trong thế gian? Nếu Ngài không đến dự tiệc cưới thì sẽ không có cô dâu ở đây… Thật vậy, Ngôi Lời là chàng rể còn thân xác nhân loại là tân nương, và cả hai đều chỉ là Con Thiên Chúa, đồng thời cũng là con loài người. Lòng dạ của Đức trinh Nữ Maria là khuê phòng, đó là nơi Ngài trở thành đầu của Giáo hội, và nơi đó, Ngài tiến ra giống như chàng rể ra khỏi loan phòng, theo như lời đã nói trước trong Sách Thánh: “Ngài như tân lang rời khỏi loan phòng và vui sướng lên đường như tráng sĩ” (Tv 18,6). Từ loan phòng Ngài bước ra giống như chàng rể; nhận lời mời, Ngài đi dự tiệc cưới” (S. Augustinô, In Iohannis Evangelium Tractatus, 8,4).

Cha Iacopo da Varagine cũng cho rằng nếu trong cuộc sống có 4 mối dây kết hợp giữa đôi bên: xác thịt (giữa người chồng và người vợ); tự nhiên (giữa cha và con); xã hội (giữa bạn bè) và thiêng liêng (giữa Thiên Chúa và linh hồn), thì sự kết hợp giữa Ngôi Lời nhập thể và Đức Maria được coi như một cuộc hôn nhân: Đức Kitô đã ký kết với Đức Maria một hôn ước và đã đón nhận Mẹ như tân nương. Như chàng rể Ngài bước ra khỏi khuê phòng mà Ngài hết tình yêu thương. Như đức vua yêu thương vô vàn hoàng hậu hơn bất cứ phụ nữ nào, Ngài đã kết hợp với Đức Maria và trở thành một xương một thịt, bởi vì xác thân của Đức Kitô chính là thân xác của Đức Trinh nữ. Cả hai đều là một thân xác (Iacopo da Varagine, Sermones 147).

Cha Domenico Cavalca cũng sử dụng hình ảnh này, khi viết: “Thánh Gioan Tẩy giả đã gọi Đức Giêsu là chàng rể của Giáo hội, nghĩa là Ngài kết hợp với bản tính nhân loại trong sự hiệp nhất của con người. Từ đó ngài lại nói Qui habet sponsam sponsus est … (ai có cô dâu người đó là chú rể …). Nhưng mà thánh Phaolô lại dạy rằng bí tích hôn nhân tượng trưng cho Đức Kitô và Giáo hội. Chính Đức Kitô cũng đưa ra một dụ ngôn về đức vua làm tiệc cưới cho con trai mình và có ý nói tiệc cưới này là cuộc Nhập thể, xét như chính Con Thiên Chúa đã kết hợp với bản tính nhân loại” (La Esposizione del Simbolo degli Apostoli, II Milano 1842, 350)

Những hình ảnh của cuộc hôn ước thiêng liêng này ắt hẳn đã ảnh hưởng đến tư tưởng của Catarina, khi thánh nữ muốn diễn tả mầu nhiệm nhập thể của Ngôi Lời trong cung lòng Đức Maria, giống như một cuộc hôn ước giữa Ngôi Lời với bản tính nhân loại hèn hạ của chúng ta.

Trong mầu nhiệm nhập thể, Catarina đã nhìn thấy Lời kết ước với bản tính nhân loại để thành một huyết thống luân chuyển trong con người của Đức Giêsu Nagiaret, và mối thân thuộc này được ký kết giữa hai tự do, tự do của Thiên Chúa và tự do của Đức Maria. Ta sẽ thấy điều đó được tái diễn trong cuộc khổ nạn: “Đức Giêsu lại chứng tỏ mình là Lời của Giao ước mới và vĩnh cửu. Tự do của Thiên Chúa và tự do của con người cuối cùng lại gặp nhau trong thân xác bị đóng đinh của Người, trong một minh ước không thể hủy bỏ và có giá trị muôn đời”[2].

Kết luận

Trong sự hạ cố của Ngôi Lời nhập thể, Đức Maria có một vai trò rất đặc biệt và duy nhất. Mẹ là cỗ xe chở lửa thiên tính của Lời, tuy lửa đó còn ẩn giấu dưới làn tro của nhân tính con người. Mẹ là nơi nhào bột để cho hai bản tính của Lời được hòa quyện nên một tấm bánh, một Thánh Thể. Mẹ đã chung chia xác thể và máu huyết của mình cho Đức Giêsu, đến nỗi có thể nói với Người: đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Mẹ cũng là hiện thân của nhân loại cùng ký kết với Lời một khế ước yêu thương. Mẹ là khuê phòng nhiệm lạ, trong đó chàng rể Lời và hiền thê nhân loại được hiệp hoan hạnh phúc.

Qua Mẹ, nhân loại và thế giới trở thành “nhà” của Lời và chúng ta được gọi là “người nhà” của Ngài. Nhờ vâng phục khiêm hạ và thái độ sẵn sàng đón nhận Lời, Mẹ trở thành mẫu gương của những người biết tiếp rước Lời đi vào thế gian, cho phép Lời đến thăm “nhà của mình”. Một khi đã chân thành mở ra đón nhận Lời, để cho Lời ở giữa chúng ta và ở giữa cộng đoàn, thì dù có mỏng giòn và tội lỗi, chúng ta cũng sẽ bắt đầu một sự thay đổi tận căn: “Những ai đón nhận Người thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,13). Ước gì mỗi chúng ta sẽ được sinh ra như một thọ tạo mới, được làm con dân của Chúa. Ước gì cộng đoàn chúng ta không những là “chiếc lều”, là “nhà tạm” trong sa mạc của trần gian lữ thứ, để cho ánh vinh quang của Thiên Chúa ngự xuống và chiếu tỏa, mà còn trở nên một dân mới, một đền thờ sống động và chắc chắn, để Ngôi Lời và Thánh Thần của Chúa Cha cùng cư ngụ trong chúng ta, hôm nay và mãi mãi.

Nt. Maria Đinh Thị Sáng, OP


[1] Bài này dựa theo E. M Musso, “Gesù dolce, Gesù amore” il Cristo di Caterina da Siena, Dissertatio ad Lauream, PIST, Roma 2005, tr. 35-46. Các bài cầu nguyện được trích từ S. Caterina da Siena, Le Orazioni, a cura di G. Cavallini, Edizioni cateriniane, Roma 1978 và Edizioni cantagalli, Siena 1993.
[2] ĐGH Bênêđitô XVI, Tông huấn Verbum Domini, 30/09/2010, số 12. 

Comments are closed.