Điển ngữ Thần Học Thánh Kinh – A

0

ĐIỂN NGỮ THẦN HỌC THÁNH KINH

PHÂN KHOA THẦN HỌC GIÁO HOÀNG HỌC VIỆN THÁNH PIÔ X ĐÀ LẠT – VIỆT NAM

Nguyên văn bản Pháp ngữ: Vocalulaire de Théologie Biblique, tái bản lần thứ II: 1971

Bản quyền của Éditions du Cerf, Paris. Nihil obstat

Dalat, die 1 julii 1973

Philippus Gomez, s.j.

A

AARON

 1-Qua các thế kỷ, bộ mặt tổ tiên của giai cấp tư tế (Lv 1,5) thuộc “nhà Aaron” (Tv 118,3), dần dần được thành hình. Theo truyền thống xưa, Aaron “dòng Lêvi” (Xh 4,14), anh của Myriam (15,20) là phát ngôn viên của Môsê* (4,14-17) nơi dân Israel (4,27-31) hoặc ngay cả trước mặt Pharaon (5,1-5). Ông đã nâng cánh tay Môsê trong trận chiến chống lại dân Amalecta (17,10-13), và đã đi với Môsê lên núi Sinai (19,24), ở đó Thiên Chúa đã chấp nhận cho ông “thấy* Ngài” (24,10-11). Nghĩ đến ông, chúng ta không thể không nhắc đến một vài lỗi lầm của ông: Aaron mang trọng trách trong câu chuyện bò vàng (Xh 32; x. Cv 7,40) cũng như trong việc nổi loạn chống lại Môsê (Ds 12,1-15).

Về sau, theo truyền thống tư tế, có lẽ vì âm hưởng những cuộc xung đột chống lại giai cấptư tế* trong thời kỳ tái lập đền thờ lần thứ hai, Aaron được xem như chuyên viên của những vấn đề tôn giáo, danh tổ của giai cấp “con cái Aaron” (Xh 28,1; x. Lc 1,5). Người ta miêu tả ông là người* được xức dầu, như Thượng Tế (Xh 29,1-30); ông mặc phẩm phục và khai mào các cử điệu của vị Thượng Tế (39,1-31). Thiên Chúa đã chứng thực đặc quyền trên bằng một phán quyết (Ds 16) và bằng phép lạ cây gậy nở hoa (Ds 17,16-26) mà sau đó được cất giữ trong hòm bia (Dt 9,4). Từ đó ông hợp lực với Môsê, khi Thiên Chúa ban truyền những huấn lệnh cho ngài (Xh 9,8-10; 12,1…) hoặc khi dân bất mãn (Xh 16,2; Ds 16,3). Ông cũng đã tham dự vào sự cứng lòng tin* tại Mêriba (Ds 20,1-21), và vì thế số phận ông là phải chết trước khi vào Đất hứa (20,22-29). Aaron muôn đời vẫn là Thượng Tế tuyệt hảo (Hc 45,6-22), đấng bầu cử đáng khâm phục làm nguôi cơn giận của Thiên Chúa (Kn 18,20-25). Sau cùng theo phái Esseniô thời Chúa Giêsu, họ chờ đợi không những chỉ một ĐấngMessia* Vua, con của Đavid, nhưng nhất là một Đấng Messia của Aaron, Đấng Messia tư tế tối cao.

 2-Trong tất cả Tân ước, chỉ có thư gởi Do thái đề cập đến Aaron thôi. Nó giữ lại phương diện của hình bóng kỳ diệu này. Đức Kitô đã không tự phong cho mình chức vụ Thượng Tế từ nhân, nhưng Người “đã được kêu gọi như Aaron” (Dt 5,2-5; x. Xh 28,1; Ds 18,1). Đàng khác, chức tư tế của Aaron được truyền lại như một gia nghiệp, không tiên báo chức tư tế của Đức Kitô, và khác biệt với chức tư tế của Melkisêđê mà người ta không thể phác họa lại gia phả (Dt 7,3.15-21). Cuối cùng, chức tư tế của Aaron không thể đạt tới sự toàn thiện*đặc biệt nơi chức tư tế của Đức Kitô (7,11.23-27).

 XLD

 →Chức tư tế Cựu ước I 3.4; Tân ước I 3 – Messia Cựu ước II 2 – ơn gọi I – xức dầu III 3.

 ABBA

 →Ân sủng V – Cha V 1, VI – Con Thiên Chúa Tân ước I 1 – kinh nguyện IV 2, V 2 d – sứ mệnh Tân ước III 2 – Thần Thiên Chúa Tân ước V 5 – Thiên Chúa Tân ước VI – thờ lạy II 3 – tim II 2 b.

ABEL

 1-Abel, người công chính.

Câu chuện Cain và Abel mở đầu cho đề tài người công chính* đau khổ*. Được người thuật chuyện đặt ngay ở thế hệ đầu tiên, nên câu chuyện trên mang một giá trị mẫu mực và trình bày cách cụ thể một trong những nét đại cương của thân phận con người trong mọi thế kỷ của lịch sử: sự chống đối ngấm ngầm giữa các anh em nhân loại, tuy rằng được sinh ra từ một nguồn gốc duy nhất (Cv 17,26), đã đưa đến những cuộc cãi vã giết hại lẫn nhau. Trái với hy tế* của Cain, hy tế của Abel dã được vừa lòng Thiên Chúa (St 4,4t). Điều đó hệ trọng ở ý định nội tâm của người dâng hơn là ở bản chất lễ vật. Đối diện với kẻ ác bị khước từ, Abel đại diện cho người Công Chính đẹp lòng Thiên Chúa. Nhưng kẻ ác luôn chực chờ cơ hội để giết chết người Công Chính (Tv 10,9-11). Đó là một luật phổ thông về máu* người Công Chính lan tràn từ đầu qua các thế kỷ gào thét từ trái đất lên tới Thiên Chúa kêu nài công lý (St 4,10).

 2-Hình bóng của Chúa Giêsu.

Luật ấy, luật của một thế giới cứng cỏi, sẽ áp dụng triệt để vào trường hợp của Chúa Giêsu. Người, Đấng Thánh và Công Chính (Cv 3,14) sẽ bị giết bởi những kẻ đồng đạo với mình. Tội ác kinh khủng nhất! Cũng thế, “máu của những người công chính đã đổ ra từ một Abel công chính cho đến một Dacaria bị mưu sát giữa cung thánh và bàn thờ”, sẽ đổ xuống trên dòng dõi sát nhân này (Mt 23,35t). Viễn tượng đen tối này không chỉ nhắm vào trường hợp đặc biệt của các đầu mục Do thái, những kẻ mang trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu; nhưng nó còn lan rộng tới toàn thể thế giới, vì khắp nơi đều có những người vô tội phải chết: máu họ đổ ra kêu đòi báo thù* nợ máu (Kh 16,6; 18,24). Tuy nhiên, đối diện với tiếng kêu báo thù ấy, có một dòng máu khác, cảm kích hơn máu của Abel: máu thanh tẩy của Chúa Giêsu (Dt 12,24). Máu đó, sẽ nài xin Thiên Chúa tha thứ*: “Lạy cha, xin tha thứ cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,34). Vậy thì, cảnh ngộ gây ra bởi cái chết của người Công Chính Abel đã bị lật đổ nơi Chúa Giêsu, Người Công Chính khổ đau nhất. Nhưng trái với Cain, tượng trưng cho sự vắng bóng thê thảm của tình bác ái trong con tim nhân loại (1Ga 3,12), Abel vẫn là mẫu mực của sự chính trực nội tâm của lòng tin dẫn đưa đến sự công chính; và vì thế tuy đã chết, vẫn còn lên tiếng (Dt 11,4).

 PG

 →anh em Cựu ước 1 – báo thù 1 – bạo lực II – hận thù I 1.2 – máu Cựu ước 1.

ABRAHAM

 Là ông Tổ của Chúa chọn, Abraham đã chiếm một chỗ ưu tiên trong lịch sử Cứu rỗi. Ơn gọi* của ông không chỉ là bước đầu trong ý định của Thiên Chúa*, mà còn ấn định những chiều hướng căn bản của chương trình này.

 I-ƠN GỌI CỦA ABRAHAM

 Khi đề cập đến đời sống của Abraham, thay vì chỉ đưa ra một tập niên sử đơn sơ, sách Sáng Thế Ký đã thuật lại một câu chuyện tôn giáo với dấu tích của ba dòng truyền thống: truyền thống Giavista nhấn mạnh đến những ân huệ và lời hứa của Thiên Chúa; truyền thống Elohista nhấn mạnh đến niềm tin vào mọi thử luyện của tổ phụ; còn truyền thống tư tế thì lại nhấn mạnh tới Giao ước và việc cắt bì. Nhờ đó, chúng ta mới biết rõ Abraham là một người Thiên Chúa đã lôi kéo đến với Ngài, rồi thử luyện để làm ông trở nên người Cha sung mãn ngoài sức tưởng tượng của một dân tộc đông vô kể.

 1-Abraham, kẻ Chúa chọn.

Cuộc đời của Abraham hoàn toàn diễn tiến dưới biểu hiệu sáng kiến tự do của Thiên Chúa. Thiên Chúa là người đầu tiên can thiệp vào cuộc đời ông. Ngài chọn Abraham trong một gia đình “thờ những thần khác” (Gs 24,2), “dẫn ra khỏi đất Ur” (St 11,31) và đưa đường* dẫn lối tới một xứ lạ (Dt 11,8). Đây là một sáng kiến yêu đương: ngay từ đầu, Thiên Chúa đã tỏ ra vô cùng đại lượng đối với Abraham. Những lời hứa* của Thiên Chúa đã vạch ra cho Abraham cả một tương lai huy hoàng tuyệt diệu. Chúa luôn nhắc đi nhắc lại: “Ta sẽ ban cho”. Ngài sẽ cho Abraham một giải đất (St 12,7; 13,15tt; 15,18; 17,8); Ngài sẽ cho ông được sung mãn và cho dòng dõi ông nên cực kỳ đông đúc (12,2; 16,10; 22,17). Nhưng nói đúng ra, hoàn cảnh lại có vẻ trái ngược với những viễn ảnh kia: Abraham là một người du mục, Sara thì đã quá tuổi sinh con. Do đó tính cách nhưng không của những lời Thiên Chúa hứa càng thêm rõ rệt: tương lai Abraham tùy thuộc hoàn toàn vào quyền năng và lòng nhân từ của Thiên Chúa. Như vậy, Abraham cưu mang nơi mình cả dân tộc của Thiên Chúa, dân tọc đã được tuyển chọn* không vì mọt công nghiệp nào. Ngài chỉ đòi hỏi ở Abraham một Đức tin chuyên cần và dũng cảm, một tấm lòng sẵn sàng đón nhận ý định của Ngài.

 2-Abraham chịu thử luyện.

Đức tin này cần phải được tinh luyện và củng cố bằng sự thử luyện*. Thiên Chúa thử Abraham bằng cách đòi ông hiến tế Isaac, tương lai của lời Chúa hứa (St 22,1t). Abraham “không từ chối đứa con của ông, đứa con độc nhất” (22,12.16) – cũng nên biết trong việc thờ phượng của dân Canaan, người ta dùng con cái làm lễ vật hiến tế – nhưng chính Thiên Chúa gìn giữ Isaac, Ngài lo “cung cấp chiên con làm của lễ toàn thiêu (22,8.13t). Và như vậy, Abraham đã bày tỏ ra lòng “kính sợ Thiên Chúa*” sâu xa nơi ông (22,12). Ngoài ra, Thiên Chúa còn dùng chính dịp này để Mạc khải cho biết kế hoạch của Ngài không nhằm đưa tới sự chết, nhưng tới sự sống. “Ngài không sung sướng gì khi thấy kẻ sống phải chết đi” (Kn 1,13; x. Đnl 12,31; Gr 7,31). Một ngày kia sự chết cũng sẽ bị khuất phục; và bấy giờ “cuộc sát tế Isaac” sẽ tỏ hiện ra như một màn tiên báo (Dt 11,19; 2,14-17; x. Rm 8,32).

 3-Abraham, người cha sung mãn.

Sự vâng phục của Abraham đã đưa tới việc minh xác lời hứa (St 22,16tt) mà ông đã trông thấy chớm thực hiện “Giavê chúc lành cho Abraham trong mọi sự” (St 22,1). “Không ai vinh quang bằng ông” (Hc 44,19). Đây không phải là một thứ hạnh phúc cá nhân: ơn gọi của Abraham là thiên chức làm cha. Vinh quang* của ông nằm trong dòng dõi con cháu. Theo truyền thống tư tế, việc đổi tên* (Abram thành Abraham) minh định chiều hướng này, vì tên mới diễn tả ý nghĩa “cha của số đông” (St 17,5). Định mệnh của Abraham phải có những ảnh hưởng rất rộng lớn. Ngay từ lúc đó, được Thiên Chúa bày tỏ cho biết việc Ngài sắp làm, tổ phụ đã ra bầu cử cho những thành phố bị kết án (18,16-33); địa vị làm cha còn mở rộng ảnh hưởng của ông hơn nữa; ảnh hưởng của ông sẽ có một tầm mức phổ quát: “Mọi dân*nước sẽ được chúc phúc qua dòng dõi ngươi” (22,18). Suy gẫm lời sấm ngôn này, truyền thống Do thái tìm ra được một ý nghĩa sâu xa: “Thiên Chúa đã thề hứa với ông là sẽ chúc phúc cho mọi dân nước trong dòng dõi ông” (Hc 44,21; x. St 22,18 LXX).

Vì thế, nếu số phận của nhân loại tội lỗi đã được phác họa nơi Ađam* kẻ tội lỗi, thì số phận nhân loại được cứu vớt cũng đã được khởi thảo nơi Abraham, con người tin tưởng.

 II-HẬU DUỆ ABRAHAM

1-Lòng trung thành của Thiên Chúa.

Vậy những lời hứa với Abraham cũng nhằm cả dòng dõi con cháu của ông nữa (St 13,15; 17,7t) như đã được xác định qua sự ưu đãi của Thiên Chúa: Ngài sẽ không thiết lập Giao ước với Ismael, cũng như sau đó sẽ không thiết lập Giao ước với Esau nhưng với Isaac và Giacob (17,15-22; 21,8-14; 27; x. Rm 9). Thiên Chúa lâp lại những lời hứa của ngài với Isaac và Giacob (St 26,3tt; 28,13t) và cả hai đã trối lại cho con cháu những lời hứa ấy như một gia nghiệp (28,4; 48,15t; 50,24). Khi dòng dõi Abraham bị đàn áp bên Ai cập, Thiên Chúa đã nghe lời rên siết của họ vì Ngài “nhớ lại lời Giao ước của Ngài với Abraham, Isaac và Giacob” (Xh 2,23tt; x. Đnl 1,8). “Nhớ lại lời linh thiêng Ngài đã phán với Abraham, tôi tớ của Ngài, nên Thiên Chúa đã đưa dân Ngài ra đi trong niềm hân hoan (Tv 105,42t). Về sau, Ngài ủy lạo những kẻ bị lưu đày bằng cách gọi họ là “dòng giống Abraham, bạn nghĩa của Ta” (Is 41,8).

Trong những ngày gian truân, lúc sự sinh tồn của Israel bị đe dọa, các sứ ngôn cũng nhắc lại thiên chức của Abraham để gây lại niềm tin tưởng trong dân: “Hãy nhìn khối đá từ đó các ngươi đã được đục đẽo ra, hầm trú mà các ngươi đã được phát xuất ra. Hãy nhìn xem Abraham cha các ngươi…” (Is 51,1t; x. Is 29,22; Ne 9,7t). Và để lãnh nhận được ân huệ của Thiên Chúa, lời nguyện tốt nhất là xưng mình là con cháu Abraham: “Xin hãy nhớ tới Abraham…” (Xh 32,13; Đnl 9,27; 1V 18,36); “xin hãy ban… cho Abraham hồng ân của Chúa” (Mi 7,20).

 2-Mối tử hệ theo huyết nhục.

Nhưng cứ tưởng mình là con cháu tổ phụ chưa hẳn đã là một việc tốt đẹp. Vì, thực ra, đâu có phải cứ thuộc dòng dõi xác thịt của ngài là đã đủ dkin làm người thừa kế thực thụ đâu, còn phải liên kết với ngài một cách thiêng liêng nữa. Hy vọng mà không sẵn lòng vâng phục Chúa triệt để là một niềm hy vọng* lệnh lạc. Ngay đến Ezekiel cũng đã nói với những người đồng thời như thế (Ez 33,24-29). Trong khi loan báo việc Thiên Chúa phán xét, Gioan Tẩy Giả công kích một cách gay gắt hơn thứ ảo tưởng này: “Các ngươi đừng có tự nhủ: chúng tôi đã có Abraham là cha chúng tôi. Vì tôi bảo thật, Thiên Chúa có thể khiến cho từ những hòn đá này đây chồi mọc ra những con cái Abraham” (Mt 3,9). Người giàu có ích kỷ trong dụ ngôn đã uổng công kêu nài “Cha Abraham” mà không được tổ tiên thí ban cho tí gì: vì lỗi của nó đã đào sâu cả một vực thẳm ngăn cách với cha ông nó (Lc 16,24tt). Tin Mừng thứ IV cũng một lập luận minh chứng: lột mặt nạ những dự tính sát nhân của bọn Do thái, Chúa Giêsu đã nói thẳng vào mặt cho họ biết cái phẩm tước là con cái Abraham thực ra không ngăn cản họ trở thành con cái của ma quỉ (Ga 8,37-44). Mối tử hệ theo huyết nhục chẳng giá trị gì nếu không có lòng trung thành*.

 3-Công việc và Đức tin.

Để có được lòng trung thành đích thực này, còn cần phải xa tránh một điều sai lệnh khác. Qua các thời đại, truyền thống đã ca ngợi công lao, đức vâng lời* (Ne 9,8; Kn 44,20), lòng anh dũng của Abraham (1M 2,52; Kn 10,5-6). Nối tiếp theo chiều hướng đó có một số trào lưu Do thái giáo sau cùng đã đi tới chỗ đề cao khía cạnh này: họ đặt trọn niềm tin tưởng vào công việc* loài người, vào giữ trọn Lề luật, và quên rằng điều chính yếu là tin cậy vào Thiên Chúa. Lòng tự phụ này đã bị triệt hạ trong dụ ngôn người Pharisiêu và người thu thuế (Lc 18,9-14), lại còn bị thánh Phaolô đả phá hoàn toàn nữa. Thánh nhân dựa vào bản văn St 15,6: “Abraham đã tin vào Thiên Chúa, vì thế Ngài đã thánh hóa ông “để minh chứng chính Đức tin* chứ không phải công việc làm thành nền tảng của sự Cứu rỗi (Gl 3,6; Rm 4,3). Con người không có gì để tự vênh vang, vì mọi sự họ có đều từ Thiên Chúa ban xuống cách “nhưng không” (Rm 3,27; 4,1-4). Chẳng có gì mà không có ơn Chúa giữ phần tiên phong, vì mọi việc đều là hoa quả của ơn thánh. Điều cần yếu là không được thiếu hoa quả này (Gl 5,6; x. 1Cr 15,10) như đã không thiếu trong cuộc đời của Abraham. Đó cũng chính là điều thánh Giacôbê đã lưu ý chúng ta khi đề cập tới bản văn này (Gc 2,20-24; x. Dt 11,8-19).

 4-Hậu duệ duy nhất.

Vậy, rốt cuộc đâu là hậu duệ đích thực của Abraham? Đó là Đức Giêsu Kitô*, con Abraham (Mt 1,1) nhưng lại cao trọng hơn Abraham (Ga 8,53). Trong số các miêu duệ của tổ phụ, duy chỉ có Ngài là chiếm hữu gia nghiệp* lời hứa cách trọn vẹn mà thôi: Ngài là dòng dõi tuyệt hảo (Gl 3,16). Theo thiên chức của mình, Abraham đã hướng tới sự xuất hiện của Chúa Giêsu và niềm vui* của ông chính là được nhìn thấy ngày* ấy qua những lời chúc lành khi còn sống (Ga 8,56; x. Lc 1,54t.73).

Việc tập trung lời hứa vào một người trong dòng dõi duy nhất không hề có sự thu hẹp, chính là điều kiện của sự phổ quát thực sự và chính sự phổ quát này cũng đã được xác định theo kế hoạch của Thiên Chúa (Gl 4,21-31; Rm 9-11). Tất cả những ai tin vào Chúa Kitô, dù cắt bì hay không, Do thái hay Dân ngoại đều có thể tham dự vào những lời chúc phúc* của Abraham (Gl 3,14). Đức tin* của họ làm cho họ trở thành dòng dõi thiêng liêng của kẻ đã tin và từ đó là “cha của mọi kẻ tin” (Rm 4,11tt). “Tất cả anh em cũng chỉ là một trong Chúa Giêsu Kitô. Nhưng, nếu anh em thuộc về Đức tin, vậy thì anh em là dòng dõi Abraham, nhưng kẻ thừa tự theo lời hứa” (Gl 3,28t).

Đó là sự hoàn thành của Mạc khải Thánh Kinh, được Thần Thiên Chúa hướng dẫn đến đích điểm của nó. Đó cũng chính là tiếng cuối cùng nói về “phần thưởng to lớn” (St 15,1) đã được loan báo cho Tổ Phụ: Ông sẽ là cha của mọi kẻ được tuyển chọn vào Nước Trời. Quê hương tối hậu của tín hữu là “cung lòng Abraham” (Lc 16,22), mà phụng vụ về người quá cố hằng cầu nguyện cho các linh hồn đạt được tới đó.

 RF&AV

 →Cắt bì Cựu ước 2; Tân ước 1 – Cha I 2, II 1.2 – chúc phúc/chúc tụng III 2, IV o – công chính B I Cựu ước – công chính hóa I – dân A II 1; B II 1; C II – gia nghiệp Cựu ước I 2 – Hy bá – hy vọng Cựu ước I – lời hứa II 1 – Melkisêđê 1 – ơn gọi I – Thánh Phêrô 3 a – thế hệ – thử thách/ cám dỗ Cựu ước I 1 – tin O – Tình yêu I Cựu ước 1 – trung gian I 1 – tuyển chọn Cựu ước I 2.3 a b; Tân ước III.

ÁCH

 →nô lệ – Luật C I 2, II 1, III 2.

AĐAM

 I-AĐAM VÀ CON CÁI CỦA AĐAM

 1-Nghĩa các từ ngữ.

Trái với điều mà các bản dịch Sách Thánh gợi lên, tiếng Ađam rất thông dụng và mang nhiều ý nghĩa. Khi một người Do thái nói lên tiếng này, họ không nghĩ ngay đến con người đầu tiên: ngoài bản tường thuật về công cuộc sáng tạo, trong đó thành ngữ ấy vẫn còn mơ hồ, Ađam chỉ chắc chắn mang ý nghĩa người đầu tiên trong năm đoạn văn (St 4,25; 5,1.3tt; 1Sk 1,1; Tb 8,6). Thường thường, và cũng rất hữu lý, tiếng đó chỉ chung con người (Gb 14,1), dân chúng (Is 6,12), một người nào đó (Gs 2,12), “người ta” (Zêc 13,5), không một ai (1V 8,46; Tv 105,14), hữu thể nhân sinh (Os 14,4; Tv 94,11). Ý nghĩa tập thể nổi bật rõ ràng.

Cũng thế, kiểu nói “con cái của Ađam” không bao giờ nhằm chỉ một miêu duệ của cá nhân Ađam, nhưng vẫn còn đi song phương với con người (Gb 25,6; Tv 8,5), chỉ định một nhân vị (Gr 49,18.33; x. Ez 2,1.3…) hay một tập thể (Cn 8,31; Tv 45,3; 1V 8,39.42). Nếu được dùng tương phản với Thiên Chúa, giống như hạn từ “nhục thể*”, kiểu nói ấy nhấn mạnh đến thân phận hay hư nát và yếu đuối của nhân loại: “Từ trời cao, Giavê nhìn xuống và Ngài thấy tất cả con cái Ađam”, (Tv 33,13; x. St 11,5; Tv 36,8; Gr 32,19). Như vậy, “con cái Ađam”, chính là loài người theo thân phận trần thế. Theo nguyên ngữ bình dân của từ ngữ thì tiếng đó phát xuất từ danh Adamah = đất: Ađam là người thuộc về đất, kẻ được tạo dựng từ đất bụi.

Sự kiện về ý nghĩa học này ẩn chứa một tầm thước thần học: người ta không thể hài lòng khi chỉ xem con người Ađam đầu tiên như một cá nhân giữa các cá nhân khác. Điều đó được bao hàm trong sự chuyển biến kỳ lạ từ số ít sang số nhiều trong lời nói của Thiên Chúa Sáng Tạo: “Chúng ta hãy dựng Ađam theo hình ảnh chúng ta… và để chúng cai trị…” (St 1,26). Vậy đâu là ý định của người tường thuật lại những chương đầu tiên của sách Sáng Thế Ký?

2-Hướng về bài tường thuật công cuộc sáng tạo và tội lỗi của Ađam.

Ba chương đầu tiên của Sáng Thế Ký được cấu tạo như phần nhập đề cho toàn bộ Ngũ Thư. Nhưng chúng không xuất phát từ cùng một nguồn, chúng đã được viết trong hai thời kỳ do hai người biên soạn kế tiếp, một người theo truyền thống Giavista (St 2 – 3) và người kia theo truyền thống tư tế (St 1). Đàng khác, cũng đáng ngạc nhiên khi ta nhận thấy rằng nền văn chương vào trước thế kỷ thứ hai trước kỷ nguyên không bao giờ nhắc đến những đoạn văn này cách rõ ràng; chỉ có sách Huấn đạo tố cáo người nữ (Hđ 25,24) và sách Khôn ngoan tố giác quỷ dữ (Kn 2,24) nhưng nguyên nhân sự chết của con người. Dầu vậy, chính những bài tường thuật này kết tinh lại kinh nghiệm từ bao thế kỷ đã được tinh luyện dần dần ngay trước thế kỷ thứ hai, và người ta có thể tìm thấy một vài yếu tố của kinh nghiệm ấy trong truyền thống sứ ngôn và Khôn ngoan.

a)Sự tin tưởng và tính cách phổ quát của tội lỗi* càng ngày càng hiện rõ; có thể nói đó là thân phận Ađam mà nhà biên soạn Thánh Vịnh đã nhắc tới: “tôi là tội nâhn từ khi mẹ cưu mang tôi” (Tv 51,7). Nơi khác, tội lỗi của con người được diễn tả như là tội của một hữu thể tuyệt diệu, như thể một thiên thần, được đặt trong vườn Thiên Chúa và đã sa ngã vì lỗikiêu ngạo* (Ez 28,13-19; x. St 2,10-15; 3,22t).

 b)Niềm tin vào Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa và Cứu chuộc cũng không kém sống động.

Chính Thiên Chúa, người Thợ Gốm nặn nên con người (Gr 1,5; Is 45,9; x. St 2,7), cũng chính Ngài làm cho con người trở về bụi tro (Tv 90,3; St 3,19). “Con người là chi mà Chúa nhớ tới, con cái Ađam là gì mà Chúa phải bận tâm? Chúa đã dựng nên con người kém Thiên sứ một chút, ban cho con người triều thiên vinh hiển và huy hoàng; Chúa cho con người quyền cai quản công trình Chúa tác tạo, và chính Chúa đã đặt muôn vật dưới chân con người” (Tv 8,5tt; x. St 1,26tt; 2,19t). Sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa không chỉ xuất hiện như Chúa oai nghiêm (Ez 28,13t; St 2,10-14), triệt hạ kẻ kiêu căng và đưa họ trở về nguồn gốc tầm thường của mình (Ez 28,16-19; St 3,23t), nhưng Ngài còn là Thiên Chúa nhẫn nại giáo dục* từ từ đứa con của Ngài (Os 11,3t; Ez 16; x. St 2,8 – 3,21). Cũng thế, các sứ ngôn đã loan báo kỳ chung cuộc của thời gian tương tự như địa đàng* thuở xưa (Os 2,20; Is 11,6-9); cái chết được hủy bỏ (Is 25,8; Đn 12,2; x. St 3,15), và một Đấng thần nhiệm Con người* có thiên tính, sẽ xuất hiện như kẻ chiến thắng trên các tầng mây (Đn 7,13t).

 3-Ađam, tổ tiên của chúng ta.

Theo những truyền thống vừa được phác họa trên, đây là mấy nét chính yếu của những giáo huấn trong các bài tường thuật về công cuộc sáng tạo*. Với cố gắng đầu tiên nhằm suy tưởng con người, tài liệu Giavista, sau khi minh xác rằng tổ tiên hàm chứa trong mình tất cả miêu duệ của ngài, đã loan báo cho hết mọi người biết Con Người* được Thiên Chúa tạo dựng tốt lành, đã phạm tội và một ngày kia sẽ được chuộc lại như thế nào. Về phía mình, bài tường thuật theo truyền thống tư tế (St 1) Mạc khải rằng con người đã được tạo dựng giống hình ảnh* Thiên Chúa; rồi nhờ vào các bản gia phả (St 5; 10), bài tường thuật chứng tỏ rằng vượt khỏi dân Do thái, tất cả mọi người đều kết thành một đơn vị (hiệp nhất*): nhân loại.

 II-AĐAM MỚI.

1-Hướng về khoa thần học của Ađam mới.

Tân ước đã nhắc lại rằng tất cả mọi người đều phát sinh từ một nguồn (Cv 17,26), hoặc hai ông bà nguyên tổ là kiểu-mẫu cho các đôi vợ chồng (Mt 19,4t ss; 1Tm 2,13t), phải được tái tạo trong nhân loại mới. Nét đặc sắc của sứ điệp này là việc trình bày Đức Giêsu Kitô như một Ađam mới. Các ngụy thư đã cố gắng qui tụ tất cả mọi tội nhân vơi Ađam; nhất là chính Chúa Giêsu đã tự giới thiệu mình như Con Người*, nghĩa là đồng thời muốn chứng tỏ rằng Người cũng thuộc dòng giống loài người, và Người phải làm trọn lời tiên tri thời danh của Đaniel. Tin Mừng Nhất Lãm, một cách minh nhiên nhiều hay ít, phác họa một sự đối chiếu giữa Đức Giêsu và Ađam. Marcô kể lại Đức Giêsu đã sống với dã thú (Mc 1,13), Mattheô đã gợi lại đoạn St 5,1 trong “tập gia phả của Đức Giêsu Kitô” (Mt 1,1). Đối với Luca, kẻ vừa chiến thắng cơn cám dỗ là “con Ađam, Con Thiên Chúa” (Lc 3,38), Ađam đích thực là là chống lại tên cám dỗ. Chắc chắn về sau này chúng ta cũng có thể nhận ra sau bài vãn ca của Phaolô (Ph 2,6-11) một sự tương phản giữa Ađam, kẻ đã quyết tâm chiếm hữu địa vị thần linh và Đức Giêsu, Đấng không khư khư chiếm giữ địa vị đó. Người ta có thể liên kết những lời ám chỉ nói trên vào những sự đối chiếu minh nhiên sau đây.

 2-Ađam sau cùng và đích thực.

Trong 1Cr 15,45-49, Phaolô đối chiếu rõ ràng hai mẫu người mà theo đó chúng ta được tạo dựng; người thứ nhất đó là Ađam đã được dựng nên như một linh hồn sống động, – trần tục nhưng thuộc tâm linh; “Ađam sau là một Thánh Kinh ban sự sống”, bởi vì Ngài thuộc về trời cao và linh thiêng. Bức họa ngày chung cuộc của thời gian tương xứng với bức họa về nguyên thủy, nhưng có một vực thẳm ngăn cách cuộc sáng tạo thứ hai với cuộc sáng tạo thứ nhất, thần linh với xác thịt, trời cao với trần thế.

Trong đoạn Rm 5,12-21, Phaolô công bố một cách minh nhiên rằng Ađam là “hình bóng*của Đấng phải đến”. Dựa vào niềm xác tín cho rằng tác động của Ađam đầu tiên đã có một hiệu quả phổ quát: – là sự chết* (x. 1Cr 15,21t) -, ngài quả quyết như thế về hành động Cứu chuộc của Đức Kitô, Ađam thứ hai. Nhưng ngài vạch rõ những khác biệt: bởi Ađam, vì bất tuân, nên bị kết tội và phải chết; bởi Đức Giêsu Kitô, vì vâng phục*, nên được công chính hóa và được sống. Hơn thế nữa, qua Ađamm, tội* đã xâm nhập vào thế gian; nhờ Đức Kitô, Ân sủng* tuôn tràn thế gian vì chính Người là nguồn mọi Ân sủng.

Sau cùng, sự phối hợp phong nhiêu giữa Ađam và Evà đã báo hiệu cho sự kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo Hội. Chính sự kết hợp này lại trở thành mầu nhiệm làm nền tảng cho hôn nhân*Kitô giáo (Ep 5,25-33; x. 1Cr 6,16).

 3-Kitô hữu và hai Ađam.

Là con của Ađam theo truyền sinh, và được tái sinh trong Đức Kitô nhờ Đức tin người Kitô hữu vẫn duy trì một mối liên hệ với Ađam trước và Ađam sau, mối liên hệ mật thiết lâu bền, mặc dầu theo bản tính và tầm thước khác nhau. Nếu trung thành với ý nghĩa của bản tường thuật về nguồn gốc, người Kitô hữu không được căn cứ vào tội của con người đầu tiên mà tự minh oan, nhưng họ phải hiểu rằng Ađam là chính họ với tất cả yếu đuối tội lỗi và bổn phận phải lột bỏ con người cũ của mình theo kiểu nói của Phaolô (Ep 4,22t; Cl3,9t). Và làm thế để mặc lấy Đức Giêsu Kitô, Con Người mới”; như vậy toàn thể định mệnh của người Kitô hữu được khắc ghi trong thảm kịch của hai Ađam. Hay nói đúng hơn, người Kitô hữu tìm gặp nơi Đức Kitô, Con Người* tuyệt hảo: theo sự bình giải của thư Do thái 2,5-9 về Thánh Vịnh 8,5tt, một con người đã bị hạ bệ xuống dưới các thiên thần một cáh tạm thời để mang ơn Cứu độ cho tất cả mọi người. Người đã nhận được vinh quang* đã hứa ban cho Ađam đích thực.

 MJL & XLD

 →Abraham I 3 – anh em Cựu ước 1; Tân ước o.2 – Cha I 2,III 1 – Con người Cựu ước I; Tân ước II – đất Cựu ước I 2 – địa đàng / thiên đàng 2 a – Giêsu-Kitô II 1 d – hình ảnh II, IV, V – lương tâm 2 c – mới III 3 a – người – người nữ Cựu ước 1 – sáng tạo Cựu ước II 1,2; Tân ước II 2 – tội I – trách nhiệm 1.

AĐONAI

 →Chúa Tân ước – Giavê 3 – tên Cựu ước 4.

 AGAPÊ

 →Tình yêu O.

AI CẬP

 1-Vai trò của Ai cập trong Thánh sử.

Trong số chư dân có liên hệ với Israel, có lẽ không một quốc gia nào phát lộ tính cách mơ hồ về quyền lực trần thế khéo léo hơn Ai cập. Giải đất phì nhiêu này là nơi ẩn náu Quan Phòng cho các tổ phụ đói khổ (Xh 12,10; 42tt), cho những kẻ bị lưu đày (1V 11,40; Gr 26,21), cho những người Israel bại trận (Gr 42t), cho Chúa Giêsu trốn chạy (Mt 2,13); nhưng cũng chính vì thế mà Ai cập biến thành một cám dỗ dễ dàng đối với hạng người không lý tưởng (Xh 14,12; Ds 11,5…). Là một đế quốc say đắm sức mạnh* của mình, xưa kia đã từng đàn áp dân Hy bá (Xh 1-13). Dầu vậy, Ai cập vẫn còn duy trì được uy tín đối với Israel trong suốt những thế kỷ mà dân tộc này khát vọng quyền lực trần gian: Đavid (2Sm 20,23-26) và nhất là Salomon (1V 4,1-6) gợi ý theo mẫu mực Ai cập để tổ chức triều định và việc cai trị vương quốc mình. Ở Samaria (Hs 7,10) cũng như ở Giêrusalem (2V 17,4; 18,24; Is 30,1-5; Gr 2,18…; Ez 29,6t), trong những giai đoạn khủng hoảng, người ta đến tìm nương tựa nơi nó. Là trung tâm văn hóa, Ai cập đã đóng góp vào công việc đào luyện Môsê (Cv 7,22), và các nhà hiền triết được linh ứng khi gặp dịp cũng sử dụng văn chương của xứ này (nhất là Cn 22,17-23,11); nhưng ngược lại, Ai cập cũng chính là đất sùng bái ngẫu tượng vàma thuật* (Kn 15,14-19) mà sức mê hoặc báo hại lôi cuốn người Israel xa bỏ Thiên Chúa của họ (Gr 44,8…).

 2- Ai cập trước mặt Thiên Chúa.

Vì thế không lạ gì khi Thiên Chúa phán xét Ai cập: trong thời Xuất hành để buộc họ trả tự do cho Israel (Xh 5-15; x. Kn 16-19); còn vào thời các vua để trừng phạt cường quốc này vì đã hứa hão sẽ giúp đỡ Israel (Is 30,1-7; 31,1-3; Gr 46; Ez 29-32), để hạ nhục nước ngoại giáo này đã bị các nhà thông thái của họ lạm dụng (Is 19,1-15). Vì những lý do nêu trên, Ai cập sẽ tiếp tục tượng trưng cho các tập thể nhân loại, đối tượng của cơn thịnh nộ Thiên Chúa trong tương lai (Kh 11,8).

Tuy nhiên, vì là đất dung thân cho ngoại kiều, Ai cập không phải lúc này cũng bị khai trừ khỏi cộng đoàn của Giavê (Đnl 23,8t). Ngay cả khi sửa phạt dân tộc này như vậy, Thiên Chúa vẫn giữ một mức độ ôn hòa: dân Ai cập vẫn là những thụ tạo của Ngài, và tiên vàn Ngài muốn cải hóa họ khỏi sự dữ (Kn 11,15-12,2). Cuối cùng, chính vì Ngài có ý định cỉa hóa Ai cập và liên kết họ với dân Ngài, để đến lượt họ, họ cũng học biết phụng sự Ngài (Is 19,16-25; Tv 87,4-7). Dẫu đã bị luận án vì tội của mình, nhưng Ai cập vẫn sẽ được tham dự vào ơn Cứu rỗi như tất cả chư dân*.

 RM&PG

→chư dân Cựu ước II 1 a – giải phóng/tự do II 1 – giam cầm I – hoang địa Cựu ước I 2 – Khôn ngoan O; Cựu ước I 1 – nô lệ I – thành đô Cựu ước 1 – thất vọng II – việc làm II – Xuất hành.

ALLELUIA

 →ca tụng II 2.

ALPHA & OMÊGA

 →mới IV – thời giờ Tân ước III 1 – văn tự V.

ÁM DỤ

 →dụ ngôn I 3 – hình bóng Tân ước III.

ÂM PHỦ/ HỎA NGỤC

 Đức Giêsu Kitô đã xuống âm phủ, người bị kết án xuống hỏa ngục: hai từ ngữ này chỉ hai hành động khác nhau và giả thiết hai tình  trạng khác nhau. Cửa* âm phủ, nơi Đức Kitô xuống, đã được mở rộng để những người bị giam cầm thoát ra, trong khi hỏa ngục, nơi người bị kết án phải xuống, đóng nhốt họ đời đời. Tuy nhiên, ý niệm giống nhau không phải do ngẫu nhiên hay do một xếp đặt tự ý, nhưng theo một luận lý sâu xa để diễn tả một chân lý cốt yếu. Âm phủ cũng như hỏa ngục là vương quốc sự chết* và nếu không có Đức Kitô, thế gian này sẽ chỉ có một hỏa ngục và một sự chết, sự chết đời đời, sự chết đầy quyền năng. Nếu có một “cái chết thứ hai” (Kh 21,8), tách biệt với cái chết thứ nhất, là vì Đức Kitô nhờ cái chết của Người, đã bẻ gẫy triều đại Thần Chết. Vì Người đã xuống âm phủ, nên âm phủ không còn là hỏa ngục, nhưng vẫn tiếp tục mang những nét của hỏa ngục; chính vì thế mà vào lúc chung thẩm (x. phán xét*), âm phủ, Hađes nhập lại với hỏa ngục vào vị trí bình thường nơi ao lửa (Kh 20,14). Bởi thế, cho dù những hình ảnh về hỏa ngục trong Cựu ước còn mơ hồ và chưa có tính cách tuyệt đối, nhưng Đức Giêsu Kitô đã dùng chúng để chỉ hình phạt đời đời; và còn hơn là hình ảnh, chúng là thực tại của một thế giới không có Người.

 CỰU ƯỚC

 I-NHỮNG MIÊU TẢ CĂN BẢN

1-Âm phủ, chỗ ở của người chết.

Theo dân Israel xưa, âm phủ, “Shêol” là chốn “hẹn hò” của mọi sinh linh? (G 30,23). Như nhiều dân khác, Israel tưởng tượng sự tồn sinh của người chết như một bóng* mờ còn hiện hữu, không giá trị và không niềm vui. Shêol là khung cảnh thu nạp các bóng ấy,họ tưởng tượng nó như một phần mộ, một “cái lỗ”, một “cái giếng” một “hố rãnh” (Tv 30,10; Ez 28,8), nằm sâu thẳm trong lòng đất (Đnl 32,22), sâu quá vực thẳm (G 26,5; 38,16t), nơi bóng tối âm u ngự trị (Tv 88,7.13), nơi “ánh sáng không khác gì đêm* tối” (G 10,21t). Đó chính là nơi mọi kẻ sống phải xuống (Is 38,18; Ez 31,14); họ sẽ không bao giờ trở lên nữa (Tv 88,10; G 7,9). Họ không còn có thể ca tụng Thiên Chúa (Tv 6,6), mong đợi vào sự công chính Ngài (Tv 88,11tt) hay vào lòng trung tín Ngài (Tv 30,10; Is 38,18). Đó là tình cảnh bị bỏ rơi hoàn toàn (Tv 88,6).

 2-Quyền lực âm phủ xâm nhập trái đất.

Bước xuống âm phủ, sau khi vai mang nặng năm tháng vào cuối tuổi già hạnh phúc, để “gặp lại tổ tiên*” (St 25,8) là số phận chung của nhân loại (Is 14,9-15; G 3,11-21) và không ai than trách điều ấy. Nhưng lắm lúc Shêol không chờ đến lúc ấy; như một quái vật không bao giờ thỏa lòng (Cn 27,20; 30,16), nó rình mồi và vồ lấy một cách hung bạo (Tv 55,16). “Vào lúc nửa đời” Ezekias đã thấy “Cửa* Shêol (Is 38,10) mở rộng”. Sự xâm nhập của quyền lực âm phủ “trên đất kẻ sống” (Is 38,11) gây nên thảm kịch và điều chướng kỳ (Tv 18,6; 88,4t).

 II-HỎA NGỤC CỦA NGƯỜI TỘI LỖI

 Điều chướng kỳ này là một trong những động lực của Mạc khải. Khía cạnh bi thảm của cáichết* cho thấy thế giới hỗn loạn, và một trong những đường hướng của tư tưởng tôn giáo Israel là khám phá ra rằng sự hỗn loạn ấy là hậu quả của tội lỗi*. Ý thức đó càng định chắc, thì hỏa ngục mang lấy một bộ mặt càng ghê gớm hơn. Nó há miệng nuốt trửng Korê, Đatan và Abiram (Ds 16,32t), nó vận chuyển toàn khả năng để phá hủy “sjư vinh hiển của Sion và đám dân ồn ào lẫn tiếng là hét và niềm vui thú” (Is 5,14), nó tiêu diệt kẻ vô đạo*trong kinh hoàng (Tv 73,19).

Về kết cuộc khủng khiếp đó, Israel đã biết được hai hình ảnh đặc biệt đầy ý nghĩa: cảnh thiêu hủy thành Sôđôma và Gômôra (St 19,23; Am 4,11; Tv 11,6) và cảnh tàn phá Tôphét trong thung lũng Gêhema nơi hoan hỷ trở thành chỗ ghê rợn, nơi mà “họ sẽ chứng kiến những người phản bội ta: sâu bọ gậm chúng không hề chết, lửa đốt chúng chẳng hề tắt” (Is 66,24).

Cái chết trong lửa* và kéo dài mãi mãi trong hư nát, đó đã là những hình ảnh Tin Mừng về Hỏa ngục. Đây không còn là hỏa ngục theo nghĩa “thông thường” như Shêol, nhưng là một hỏa ngục có thể nói từ trời* rơi xuống, “từ Giavê mà đến” (St 19,24). Nếu nó tổng hợp vực thẳm không đáy “với trận mưa lửa” (Tv 140,11), hình ảnh Shêol với kỷ niệm Sôđôma, đó là vì hỏa ngục này được đốt cháy bằng “hơi thở của Giavê” (Is 30,33) và “cơn giận* bừng bừng của Ngài” (Is 30,27).

Hỏa ngục dành cho người tội lỗi này không thể là số phận của kẻ công chính, nhất là khi họ, vì muốn trung thành với Thiên Chúa, đã phải chịu người tội lỗi bách hại* và đôi khi giết chết. Thật là hợp lý khi “từ xứ bụi đất” tức Shêol truyền thống, nơi người thánh thiện và kẻ tội lỗi an nghỉ lẫn lộn, kẻ tội lỗi thức dậy để “hãi sợ đời đời” (Đn 2,12). Và trong khi Chúa thưởng những người công chính thì Người “trang bị tạo vật để phạt kẻ thù Ngài” (Kh 5,15tt). Hỏa ngục không còn định chỗ ở tận đáy sâu trong lòng đất, nhưng là “vũ trụ sổ lồng chống lại kẻ ngu dại” (5,20). Các Tin Mừng lấy lại những hình ảnh này: “Trong chỗ kẻ chết”, “bị lửa hành hạ”, người giàu có thấy Lazarô “trong lòng Abraham” nhưng giữa họ có một “vực thẳm to lớn” không thể vượt qua (Lc 16,23-26). Lửa và vực thẳm, cơn giận* của trời và củađất* nứt ra, sự chúc dữ* của Thiên Chúa và sự đối nghịch của muôn vật, đó là hỏa ngục.

 TÂN ƯỚC

I-ĐỨC KITÔ NÓI VỀ HỎA NGỤC

 Đức Giêsu quan tâm nhiều đến việc sự sống phải hư mất, đến việc bị phân cách với người, hơn là mô tả hỏa ngục theo môi trường Người. Nếu chưa chắc, có thể rút ra từ dụ ngôn người giàu xấu tính một quả quyết minh bạch về hỏa ngục, thì dù sao cũng phải lưu tâm đến Đức Giêsu khi Người dùng hình ảnh Thánh Kinh dữ dội nhất, khắc nghiệt nhất nói về vấn đề này: “Khóc lóc và nghiến răng trong lò lửa hực nóng” (Mt 13,42); “Gêhenma, nơi dòi bọ không hề chết và lửa* không hề tắt” (Mc 9,43-48; x. Mt 5,22), nơi Thiên Chúa có thể “diệt cả hồn* lẫn xác*” (Mt 10,28).

Điều làm các quả quyết trên thêm nghiêm trọng là chính Đấng có quyền ném vào hỏa ngục đã phán chúng. Đức Giêsu không chỉ nói về hỏa ngục như về một thực tại để dọa; Người tuyên bố rằng chính Người “sẽ sai các Thiên Thần người ném vào lò lửa hực nóng những kẻ làm điều ác” (Mt 13,41t) và sẽ tuyên bố lời chúc dữ*: “Hỡi kẻ bị nguyền rủa, hãy xa khuất mặt Ta mà vào lửa đời đời” (Mt 25,41). Chính Người đã phán: “Ta không biết* các ngươi” (25,12), “Hãy ném nó ra ngoài, nơi chốn tối tăm” (25,30).

 II-ĐỨC GIÊSU KITÔ XUỐNG ÂM PHỦ

 Việc Đức Kitô xuống âm phủ  là một tín điều và đó quả là một dữ kiện chắc chắn của Tân ước. Nếu rất khó xác định giá trị của một vài đoạn Tân ước và hiểu rõ nghĩa câu: “Người đã rao giảng cho các linh hồn đang bị giam cầm, cho những kẻ xưa kia đã không tin… thuở Noe đóng tàu (1Pr 3,19t), thì điều chắc chắn là Đức Giêsu xuống âm phủ biểu thị hai điều này: Người đã chết* thực cái chết loài người và Người đã chiến thắng Thần Chết. Nếu “Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi mọi đau khổ nơi Hađes” (nghĩa là Shêol) (Cv 2,24), đó là vì khi bị dìm vào, Người không bị bỏ rơi nơi ấy (2,31). Nếu trong mầu nhiệm Thăng Thiên, Đức Kitô đã “lên quá mọi tầng trời” đó là vì Người cũng đã “xuống thấu hạ tầng cõi đất” và cần có việc đi xuống ghê gớm ấy để Người có thể “hoàn tất mọi sự” và làm Chúa cai quản vũ trụ (Ep 4,9t). Đức tin Kitô giáo tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kitô* là Chúa nơi trời cao, sau khi từ nơi kẻ chết mà lên (Rm 10,6-10).

 III-CỬA HỎA NGỤC BỊ PHÁ VỠ

 Qua cái chết, Đức Kitô đã chiến thắng kẻ thù cuối cùng là Thần chết* (1Cr 15,26), Người đã phá vỡ các cửa hỏa ngục. Thần chết và âm phủ luôn luôn bị lột trần trước mặt Thiên Chúa (Am 9,2; G 26,6); giờ đây chúng phải hoàn lại những người chết chúng cầm giữ (Kh 20,13; x. Mt 27,525). Cho đến khi Chúa chết, hỏa ngục là chốn “hẹn hò của mọi nhục thể”, là đích đến định mệnh của nhân loại bị đày xa Thiên Chúa: không ai có thể thoát ra khỏi đó trước Đức Kitô”, hoa quả đầu mùa của những kẻ đã an nghỉ” (1Cr 15,20-23), “trưởng tử từ kẻ chết” (Kh 1,5). Cứu chuộc*, đối với nhân loại bị kết án nơi Ađam* phải chết và xa cách Thiên Chúa là mở cửa* hỏa ngục, là gia ban đời sống vĩnh cửu. Giáo Hội* là hoa quả và khí cụ của chiến thắng ấy (Mt 16,18).

Nhưng Đức Kitô, cả trước khi người đến, đã được hứa ban và mong đợi. Trong mức độ họ tiếp nhận lời hứa ấy, con người thời Cựu ước nhận thấy âm phủ được chiếu sáng lờ mờ rồi thành sáng hẳn. Ngược lại, trong mức độ họ từ chối, âm phủ trở thành hỏa ngục, họ rơi chìm vào một vực thẳm nơi quyền lực Satan* ngự trị khủng khiếp. Sau cùng, khi Đức Giêsu Kitô phạt diệt vong đời đời, xa cách Thánh Nhan Chúa” (2Th 1,8t), họ sẽ tái hợp với Thần Chết và Hađes trong “ao lửa” (Kh 20,14tt).

 JMF&JG

 →chết – chúc dữ – cửa Cựu ước I ; Tân ước – giam cầm II – giận B Cựu ước I 2 – lửa Cựu ước III; Tân ước I 1 – phán xét – Satan – sửa phạt / trừng phạt – thưởng phạt – tội.

 AMEN

 “Ước được như vậy”, cách dịch thông dụng ấy không luôn luôn chính xác, vì không diễn tả một điều chắc chắn, mà chỉ nói lên một mong ước giản dị mà thôi. Tiếng Amen trước hết có nghĩa là: tất nhiên, xác thực, chắc chắn, hay đơn giản hơn có nghĩa là: phải. Thực vậy, căn ngữ Do thái của trạng từ này hàm ý một sự vững vàng, kiên cố, bảo đảm (x. tim*). Thưa Amen, tức là tuyên bố điều vừa được phát biểu là đúng, là để chấp nậhn một câu nói hay để kết hiệp với lời kinh.

 1-Lời cam kết và lời tung hô.

Khi chỉ sự thừa nhận một lời nói, tiếng Amen có thể có nghĩa nhẹ hơn, tương đương với “Được!” (Gr 28,6). Nhưng ý nghĩa thường gặp nhất là ý nghĩa về một lời * cam kết: lời đó chứng thực ta đồng ý với ai (1V 1,36), ta bằng lòng nhận một sứ mạng (Gr 11,5), lãnh trách nhiệm về một lời thề* và sau đó chịu Thiên Chúa đoán xét (Ds 5,22). Còn long trọng hơn nữa, khi Amen là lời cam kết của cộng đoàn trong nghi lễ lập lại Giao ước (Đnl 27,15-26; Ne 5,13).

Trong phụng vụ, tiếng Amen còn có thể có một giá trị khác nữa; nếu ta cam kết với Thiên Chúa, chính là ta tin tưởng ở Lời Ngài và phó mình cho quyền năng và lòng từ ái Ngài. Việc kết hiệp chặt chẽ ấy đồng thời còn là lời chúc tụng (chúc phúc*) dâng lên Đấng ta tôn phục (Ne 8,6); là kinh nguyện* chắc chắn được chấp nhận (Tb 8,8; Gđt 15,10). Như thế tiếng Amen là lời tung hô có tính cách phụng vụ, và với vai trò ấy, được đặt sau các tụng thức (1Sk 16,36); trong Tân ước Amen thường có nghĩa này (Rm 1,25; Gl 1,5; 2Pr 3,18; Dt 13,21). Là lời tung hô mà cộng đoàn dùng để kêt hợp với vị đại diện cầu nguyện nhân danh họ, tiếng Amen giả thiết rằng, để có thể liên kết với lời họ nghe, cộng đoàn đã thấu triệt ý nghĩa của những lời ấu (1Cr 14,16). Sau hết, là sự kết hiệp, là lời tung hô, tiếng Amen còn dùng để kết thúc nhưng bản thánh ca của các thánh xướng lên trong phụng vụ thiên quốc (Kh 5,14; 19,4), ở đó Amen được liên kết với Alleluia.

 2-Tiếng Amen của Thiên Chúa và của người Kitô hữu.

Vì đã tự do cam kết, Thiên Chúa luôn luôn trung thành với Lời Ngài đã hứa*; Ngài là Thiên Chúa* chân lý*, đó là ý nghĩa của tước hiệu Thiên Chúa Amen (Is 65,16).

Lời Amen củ Thiên Chúa là chính Đức Giêsu Kitô. Thực vậy, nhờ Người, Thiên Chúa đã thực hiện đầy đủ Lời Ngài đã hứa*, và cho thấy nơi Ngài không phải vừa Có lại vừa Không nhưng chỉ Có mà thôi (2Cr 1,19t). Trong bản văn này, thánh Phaolô chuyển từ ngữ Hy bá Amen sang tiếng Hy lạp bằng chữ Nai, có nghĩa là Có. Khi Đức Giêsu khởi đầu các lời tuyên bố của Người bằng một tiếng Amen (Mt 5,18; 18,3…) và tiếng ấy được lặp lại hai lần trong Tin Mừng thánh Gioan (Ga 1,51; 5,19…). Người đã làm một việc chưa từng thấy trong Do thái; chắc chắn Người đã sử dụng công thức phụng vụ; nhưng vì dùng lại theo ý riêng mình, nên rất có thể Người dùng nó thay cho lời loan báo của sứ ngôn: “Giavê phán thế này”. Người nhấn mạnh không những Người là sứ giả của Thiên Chúa chân lý, mà còn là lời chân thực nữa. Lời được dẫn nhập bằng tiếng Amen ấy, có một tiểu sử chưa được diễn đạt mà tiếng Amen là kết luận; lời ấy có thể là gì, nếu không phải là cuộc đối thoại giữa Cha và Con? Vì Đức Kitô không những là Đấng nói thật, khi phán lời Thiên Chúa, mà Người còn là chính Lời của Thiên Chúa* thật nữa, là Amen tuyệt vời, là chứng* nhân trung thành và chân thật (Kh 3,14).

Tiếng Amen độc nhất và có hiệu lực là tiếng Đức Kitô đã thốt lên vì vinh quang Thiên Chúa (2Cr 1,20), vì thế nếu muốn trung thành* với Ngài, các Kitô hữu phải đáp lại lời Ngài, bằng cách kết hợp với Đức Kitô, Giáo Hội hợp với các thánh trên trời xướng lên lời Amen (Kh 7,12) và không ai có thể xướng lên lời ấy nếu không có Ân sủng của Chúa Giêsu ở với họ; vì thế lời cầu chúc kết thúc cuốn Thánh Kinh, và được tiếng Amen cuối cùng niêm ấn, là lời nguyện chúc: Ân sủng của Chúa Giêsu ở cùng tất cả mọi người (22,21).

 CT

 →ca tụng III – chân lý Cựu ước – cứng lòng tin O – lời hứa – tin O – trung thành.

 ẤN (tích)

 1-Ý nghĩa và cách sử dụng ấn.

Ấn không phải chỉ là một đồ trang sức được chạm trổ mỹ thuật (Hc 32,5t), mà còn là một biểu tượng của con người (St 38,18) và của quyền bính* (St 41,42; 1M 6,15); nó cung thường được gắn liền với chiếc nhẫn mà người ta không thể lìa bỏ nó, nếu không có lý do nghiêm trọng (Hg 2,23; x. Gr 22,24). Dấu ấn xác nhận một vật thuộc về mình (Đnl 32,34), một hành động do mình là (1V 21,8) hoặc lối vào lãnh địa của họ bị ngăn cấm (Đn 14,11). Như thế, con dấu là chữ ký; nó bảo đảm hiệu lực cho một văn kiện (Gr 32,10); đôi khi nó còn cho văn kiện ấy tính cách bí mật, như trong trường hợp một cuộn giấy được đóng ấn, không ai có quyền đọc ngoại trừ kẻ có quyền hủy bỏ ấn ấy (Is 29,11).

 2-Ấn của Thiên Chúa

a)Ấn của Thiên Chúa là một biểu tượng thi vị của quyề chủ tể Ngài trên tạo vật và lịch sử; Ngài có thể đóng ấn vào tinh tú (G 9,7), và là đêm tối; Ngài đóng ấn vào sách* ghi những ý định mình* (Kh 5,1-8,1) và chẳng ai biết được bí mật trừ Con Chiên*, Đấng hoàn thành*những ý định đó. Thiên Chúa đóng ấn tội lỗi, nghĩa là Ngài chấm dứt tội cá nhân (G 14,17), hoặc cộng đoàn (Đn 9,24); trong trường hợp này, đồng thời Ngài cũng đóng ấn “lời sứ ngôn*”, nghĩa là Ngài chấm dứt bằng cách thực hiện lời đó.

 b)Lối dùng biểu tượng mang một giá trị mới, khi Đức Kitô xưng mình được Thiên Chúa Cha đóng ấn (Ga 6,27). Vì ấn của Chúa Cha trên Con Người không phải chỉ là quyền Ngài ban cho để chu toàn công việc của Ngài (x. Ga 5,32.36), mà còn là sự thánh hiến biến Người thànhCon Thiên Chúa* (Ga 10,36). Người Kitô hữu thông phần sự thánh hiến này, khi Thiên Chúa đóng ấn họ bằng cách ban Thần Khí* (2Cr 1,22; Ep 1,13t), một ân huệ đòi buộc họ trung thành với Thánh Linh (Ep 4,30). Ấn đó là dấu hiệu của những tôi tớ Thiên Chúa và bảo vệ họ trong cơn thử thách cánh chung (Kh 7,2-4 9,4). Nhờ nó, họ có thể trung thành với Lời Thiên Chúa, Lời mà thánh Phaolô gọi là ấn của Thiên Chúa; thực vậy, nhờ những lời đó, Thiên Chúa xác định cách dứt khoát với những điều kiện nào con người đạt đến ơn Cứu rỗi (2Tm 2,19).

 CL&MFL

 →Phép rửa IV 4 – sách IV – xức dầu III 6.

 ÂN HUỆ

 Sách Thánh dạy bảo cho biết nguồn gốc của mọi ân huệ là do Thần Linh khởi xướng. “Mọi ân huệ có giá trị… đều tràn xuống từ Cha sự sáng (Gc 1,17; x. Tb 4,19). Chính Thiên Chúa là Đấng khởi xướng sự sáng tạo và ban phát thực phẩm cũng như sự sống cho tất cả mọi thụ tạo (Tv 104); Thiên Chúa lại còn khởi xướng việc Cứu rỗi nữa (Đnl 9,6; 1Ga 4,10). Vì thế, thật sai lầm khi cho rằng lòng đại lượng có trước Ân sủng* (x. Ga 13,37t); thái độ trước tiên đòi buộc con người phải cởi mở trước ân huệ của Thiên Chúa (Mc 10,15 ss). Nhờ lãnh nhận ân huệ, con người có thể trở thành đại lượng đích thực và đến lượt mình được kêu gọi trao ban ân huệ (1Ga 3,16).

 CỰU ƯỚC

1-Ân huệ của Thiên Chúa.

Cựu ước là thời đại của lời hứa* hơn là thời đại của ân huệ. Nơi đó, mọi ân huệ chỉ hình dung trước và chuẩn bị cho Ân huệ tối hậu.

Giavê phán với Abraham: “Ta ban xứ này cho dòng dõi ngươi” (St 15,18). Âm hưởng của lời này còn vang mãi trong toàn bộ Ngũ Thư. Đệ Nhị Luật say mê mến phục một ân huệ như thế (Đnl 8,7; 11,10), nhưng cũng loan báo những bất trung sẽ đưa tới sự lưu đày; một ân huệ khác cũng cần phải thiết: đó là sự cắt bì* trong tâm hồn, điều kiện cho sự trở lại và sự sống (Đnl 29,21-30,6).

Qua Môsê, Thiên Chúa đã ban cho dân Ngài bộ Luật* (Đnl 5,22), một ân huệ tuyệt hảo (Tv 147,19t); vì đó là sự tham dự vào chính đức Khôn ngoan của Ngài (Hc 24,23; x. Đnl 4,5-8). Nhưng Luật sẽ bất lực nếu tâm hồn đón nhận nó là một tâm hồn bất chính (x. Ne 9,13.26). Israel cần có một con tim* mới mẻ; đó là ân huệ tương lai mà các sứ ngôn đều khát vọng (Gr 24,7; Ez 36,26tt).

Tất cả những ân huệ trong Cựu ước đều mang số phận như sau: có những ân huệ hình như thất bại (triều đại Đavid, hiện diện của Vinh quang* nơi Đền thờ), và những thất vọng liên tiếp đòi buộc đặt hy vọng hơn nữa; lại còn những ân huệ như bánh* từ trời (Kn 16,20t),nước* từ đá tảng (Tv 105,41), chỉ là những lưu niệm khích động lòng ao ước. Israel đã lãnh nhận nhiều nhưng vẫn còn mong đợi nhiều hơn nữa.

 2-Tặng vật dâng lên Thiên Chúa.

Israel dâng hiến Giavê những của đầu mùa*, thuế thập phân (Đnl 26) và các hy tế* (Lv 1…) để nhận thức lãnh vực tối hậu và mọi ân huệ của Ngài. Israel cũng tiến dâng lễ vật để đền bù những bất trung đối với Giao ước (Lv 4;5) và phục hồi sự ưu ái của Giavê (2Sm 24,21-25). Vậy các lễ vật dâng lên Thiên Chúa được đặt trong viễn tượng hỗ tương (Hc 35,9t).

 3-Ân huệ hỗ tương.

Chính trong viễn tượng hỗ tương này mà ta thường hiểu ân huệ trong tương quan giữa cá nhân, gia đình, hay dân tộc. Khi làm ơn, người ta biểu lộ cái “hesed” nghĩa là lòng ưu ái và ân huệ hỗ tương là qui luật giữa các đồng minh hay bạn bè. Kẻ nào chấp nhận ân huệ cũng chấp nhận Giao ước* và đồng thời tránh mọi thái độ thù nghịch (St 32,14; Gs 9,12tt; 2Sm 17,27…; 19,32…). Nhưng các ân huệ nhằm hối lộ đều bị khai trừ một cách nghiêm nhặt (Xh 23,8; Is 5,23). Như thế, viễn tượng này thật cao quí vì tính cách hỗ tương trong việc vay mượn thường minh chứng những hỗ tương tình cảm.

Ân huệ ban cho kẻ nghèo được khuyến khích cách tha thiết (làm phúc*), cũng hướng tới sự đồng hóa với các ân huệ hỗ tương. Hy vọng rằng một ngày kia người nghèo sẽ có gì để hoàn lại (Hc 22,23), hoặc Giavê sẽ bù lại (Cn 19,17). Đừng ban ân huệ cho kẻ ác, đó là lời khuyên thật rõ ràng (Tb 4,17): một ân huệ như thế sẽ bị coi là một điều mất mát hoàn toàn (Hc 12,1-7). Cựu ước quan tâm đến việc dung hòa sự thận trọng hợp lý với lòng quảng đại thiết thực.

 TÂN ƯỚC

“Nếu ngươi biết ân huệ của Thiên Chúa… “Ga 4,10). Khi đưa ra ánh sáng lòng đại lượng điên rồ của Thiên Chúa (Rm 5,7t), Tân ước làm đảo lộn nhãn quan của con người. Đó thật là thời đại của ân huệ.

 1-Ân huệ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.

Chúa Cha Mạc khải Tình yêu* của Ngài bằng cách trao ban chính Con Một Ngài cho chúng ta (Ga 3,16), và qua Người Con, Chúa Cha tự trao hiến bản thân Ngài, vì Đức Giêsu được tràn đầy sự phong phú của Chúa Cha (Ga 1,14): các lời nói và hành động, quyền xét xử và ban sinh lực, tên, vinh quang, Tình yêu, tất cả những gì thuộc Chúa Cha đề được ban cho Đức Giêsu (Ga 17).

Chính Đức Kitô thực hiện ân huệ hoàn hảo qua sự trung thành* với Tình yêu liên kết Người với Chúa Cha (Ga 15,10): Người “hiến mạng sống mình” (Mt 20,28 ss). “Người là bánh thật bởi trời do Chúa Cha ban”, Người ban “Thịt mình để nuôi sống thế gian” (Ga 6,32.51; x. Lc 22,19: “Đây là thân xác Ta tự hiến cho các ngươi”). Nhờ hy tế, Người đã đạt tới sự thông truyền cho chúng ta Thần Khí* như đã phán hứa (Cv 2,33), “ân huệ tuyệt hảo của Thiên Chúa” (Cv 8,20; 11,17). Như vậy, ngay khi còn tại thế, chúng ta đã có được những bảo chứng cho gia nghiệp* chúng ta rồi: chúng ta được sung mãn nhờ các ân huệ thiêng liêng (1Cr 1,5tt), những đoàn sủng khác nhau (1Cr 12), những ân huệ của Đức Kitô sống lại (Ep 4,7-12), và sẽ chẳng bao giờ việc trao ban dồi dào các Ân sủng* (Rm 5,15-21) được tán dương đầy đủ. Một cách kín đáo nhưng hiện thực (Cl 3,3t) chúng ta đã sống đời Sống* vĩnh cửu, “ân huệ nhưng không của Thiên Chúa) (Rm 6,23).

 2-Lễ vật dâng lên Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.

Kể từ hy tế của Đức Kitô là một ân huệ Thiên Chúa ban cho nhân loại (Ga 3,16) và đồng thời là lễ tế nhân loại hiến dâng Thiên Chúa” (Dt 8,3; 9,14), con người không còn phải tiến dâng những lễ vật nào khác nữa. Hy lễ hoàn hảo đủ cho đến muôn đời (Dt 7,27). Nhưng họ phải liên kết với hy lễ này và tự hiến thân cho Thiên Chúa (Rm 12,1), sẵn sàng phục vụ tha nhân (Gl 5,13-16; Dt 13,16). Người ta không lãnh nhận Ân sủng như món quà có thể giữ riêng cho mình, mà lãnh nhận để sinh hoa trái* (Ga 15; x. Mt 25,15-30).

 3-Ân huệ không đòi hỏi đáp trả.

Tác động trao tặng cho tha nhân mặc lấy một trương độ và cường độ chưa bao giờ thấy. “Tham vọng”, đối nghịch với tác độgn này phải thẳng tay loại bỏ. Kể từ đây, thay vì tìm kiếm sự vay mượn hỗ tương, tốt hơn nên xa tránh nó (Lc 14,12tt). Trong khi ta lãnh nhận nhiều do Thiên Chúa, thì những tính toán hẹp hòi sẽ thành chướng tai gai mắt (Mt 18,32t). “Ai xin, ngươi cứ cho” (Mt 5,42). “Ngươi đã nhận nhưng không, hãy cho nhưng không” (Mt 10,8). Người Kitô hữu được mời gọi coi tất cả những của cải vật chất hay ân huệ thiêng liêng như của cải (giàu*) họ chỉ là quản lý và được giao phó để phục vụ tha nhân (1Pr 4,10t). Bằng lời khuyên khác thường, Đức Kitô khuyến khích kẻ ao ước nên hoàn hảo hãy cho đi tất cả cơ nghiệp mình (Lc 18,22). Ân huệ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô còn lôi kéo chúng ta xa hơn nữa: Đức Kitô “đã tự hiến mạng sống vì chúng ta”, Ân sủng của Người thúc đẩy chúng ta “cũng phải vì anh em mà hiến mạng sống mình như vậy” (1Ga 3,16); “không gì lớn hơn Tình yêu này” (Ga 15,13).

Ân huệ thực hiện sự liên kết trong Tình yêu và khơi dậy nơi mọi người việc tạ ơn* (2Cr 9,12-15). Kẻ ban ơn cảm tạ Thiên Chúa cũng bằng và còn hơn người nậhn lãnh nữa, vì họ nhận thức chính lòng đại lượng của họ cũng là một Ân sủng (2Cr 8,1), một kết quả của Tình yêu đến từ Thiên Chúa (x. 1Ga 3,14-18). Vì thế, sau cùng “cho thì hạnh phúc hơn là nhận lãnh” (Cv 20,35).

 AV

 →Ân sủng – bánh – chúc phúc/ chúc tụng – công chính hóa II 3 – của đầu mùa – đất Cựu ước II 2 – đoàn sủng – gia nghiệp – giàu – hiện diện của Thiên Chúa Cựu ước II 2; Tân ước I – hy tế – Khôn ngoan Cựu ước III 4 – làm phúc – lời hứa – tạ ơn – Thần Thiên Chúa Cựu ước I 3; Tân ước III – Thiên Chúa Tân ước V – tiền định 4 – Tình yêu I Cựu ước 1; II Tân ước 2 – vương quốc Tân ước II 3.

ĂN NĂN

 →buồn Cựu ước 3 – khiêm nhường II, IV – sám hối / hoán cải – tuyên xưng / thú nhận Tân ước II.

 AN NINH & AN TOÀN

 →cửa Cựu ước I – hòa bình – tin O.

ÂN SỦNG

 I-Ý NGHĨA TỪ NGỮ

 Từ ngữ Ân sủng (hl: Kharis) không hoàn toàn do Kitô giáo chế ra; nó có mặt trong Cựu ước: Nhưng chính Tân ước đã xác định ý nghĩa và đem cho nó trương độ rộng rãi. Tân ước đã dùng từ ngữ này để định tính cho chế độ mới do Đức Giêsu Kitô thiết lập, và để đối nghịch nó với nhiệm cuộc cũ: nhiệm cuộc này do Luật* cai trị, còn chế độ mới do Ân sủng (Rm 6,14tt; Ga 1,17).

Ân sủng, chính là ân huệ* của Thiên Chúa, chứa đựng tất cả mọi ân huệ khác, là ân huệ của Con Ngài* (Rm 8,32), nhưng nó không chỉ là đối tượng của ân huệ này mà thôi. Đó là ân huệ tỏa rạng từ lòng quảng đại của người cho và nhờ chính lòng quảng đại này bao bọc lấy tạo vật đón nhận ân huệ, Thiên Chúa trao ban qua Ân sủng, và người nào đón nhận ân huệ của Ngài thì được ân nghĩa và làm đẹp lòng Ngài.

Bằng một sự trùng hợp đầy ý nghĩa, từ ngữ chỉ Ân sủng trong tiếng Hy bá và Hy lạp, dịch sang La ngữ: gratia, cả hai vừa chỉ nguồn gốc của ân huệ nơi người cho, vừa chỉ hiệu quả của nó nơi người nậhn. Đó là vì ân huệ tối cao của Thiên Chúa không hoàn toàn xa lạ với những trao đổi mà con người dùng để  liên kết cùng nhau, và vì giữa Ngài với chúng ta có những mối liên hệ có thể biểu lộ hình ảnh* Ngài nơi chúng ta. trong khi chữ Hy bá hén trước tiên chỉ lòng ưu ái, lòng hảo tâm nhưng không của một nhân vật cao cấp; kế đó chỉ bằng chứng cụ thể của lòng ưu ái được bày tỏ bởi người cho và làm ơn, và được đón nhận bởi kẻ nhận và được ơn; từ ngữ còn chỉ vẻ duyên dáng thu hút đôi mắt và lưu giữ lòng ưu ái – thì chữ Hy lạp kháris, gần như ngược lại, trước hết chỉ sự quyến rũ rạng rỡ các sắc đẹp, rồi đến sự tỏa rạng bên trong của lòng tốt, và còn nói lên những ân huệ làm chứng cho lòng quảng đại đó.

 II-ÂN SỦNG TRONG GIAO ƯỚC CŨ

 Được Thiên Chúa Mạc khải và trao ban nơi Đức Giêsu Kitô, Ân sủng có mặt trong Cựu ước như một lời hứa* và một niềm hy vọng*. Dưới những hình thức khác nhau, bằng những danh từ thay đổi, nhưng luôn luôn nối kết Thiên Chúa trao ban với con người nhận lãnh, Ân sủng hiển hiện khăp nơi trong Cựu ước. Việc Kitô hữu đọc Cựu ước, như Thánh Phaolô đề nghị trong thư gởi tín hữu Galatia, nhằm nhận ra trong nhiệm cuộc cũ những hành vi và hình nét của Thiên Chúa sủng ái.

 1-Ân sủng nơi Thiên Chúa.

Thiên Chúa tự định nghĩa: “Giavê, Thiên Chúa của âu yếm và Ân sủng, chậm giận dữ, giàu lòng nhân từ và trung thành” (Xh 34,6). Ân sủng nơi Thiên Chúa là lòng nhân từ* đoái xuống cảnh bần cùng (hén), đồng thời là lòng trung thành* quảng đại với dân mình (hesed), là sự vững chắc không lay chuyển trong những cam kết của Ngài (èmet), là lòngâu yếm* của con tim và sự kết liên bản thân với những người Ngài yêu* (rahamim), là sựcông chính* vô tận (sedeq), có khả năng bảo đảm cho tất cả tạo vật sự viên mãn quyền lợi, và thỏa mãn mọi khát vọng của họ. Thiên Chúa có thể là hòa bình* và niềm vui* của dân Ngài, đó chính là hậu quả của Ân sủng Ngài: “Lạy Chúa, quý báu thay Ân sủng của Ngài (hesed)! Loài người ẩn náu dưới bóng cánh Ngài, họ no thỏa nhờ sự phong phú của nhà Ngài và Ngài cho họ uống nước suối phước lạc của Ngài (Tv 36,8tt), “vì Ân sủng (hesed), của Ngài tốt tươi hơn sự sống” (63,4). Sự sống*, tài sản quí báu hơn cả, trở thành vô nghĩa trước kinh nghiệm về lòng quảng đại của Thiên Chúa, là nguồn mạch không thể cạn được. Ân sủng của Thiên Chúa, như vậy có thể là một sự sống, phong phú và trọn vẹn hơn mọi kinh nghiệm của chúng ta.

 2-Những biểu lộ của Ân sủng Thiên Chúa

Lòng quảng đại của Thiên Chúa tràn làn trên mọi nhục thể (Hc 1,10), Ân sủng ngài không phải là một kho tàng bị cất giữ khư khư. Nhưng, dấu chỉ rõ ràng của lòng quảng đại đó là việc tuyển chọn* Israel. Đó là một khởi xướng hoàn toàn nhưng không, mà chẳng ưu điểm nào nơi dân Chúa có thể chọn: không phải một công nghiệp, một giá trị sẵn có, không phải số đông (Đnl 7,7), không phải hạnh kiểm tốt (9,4), không phải sức lực bàn tay” (8,17); nhưng chỉ có “Tình yêu đối với các ngươi và lòng trung thành với lời thề cùng cha ông các ngươi” (7,8; x. 4,37) là biện minh cho sự khởi xướng nhưng không đó mà thôi. Ở khởi điểm của Israel, chỉ có một sự giải thích, là Ân sủng của Thiên Chúa trung thành, luôn giữ Giao ước* và Tình yêu* của Ngài (7,9). Biểu tượng của Ân sủng đó là đất* mà Thiên Chúa ban cho dân Ngài, là “xứ đầy suối nước và mạch nguồn” (8,7), “nhiều núi non và thung thũng được mưa trời tưới gội” (11,11), là “thành phố mà ngươi đã không xây cất… nhà cửa mà ngươi đã không làm, giếng nước mà ngươi đã không đào” (6,10t).

Tính cách nhưng không đó không phải là không có chủ đích, Thiên Chúa không mù quáng tuôn tràn những của cải (giàu*) vô dụng. Chính vậy, mục đích của sự tuyển chọn là Giao ước; Ân sủng tuyển chọn và trao ban là một hành vi nhận biết* , nó kết liên với kẻ nó tuyển chọn, và trông đợi một thái độ đáp ứng, lòng biết ơn và Tình yêu: đó là sứ điệp của sách Đệ Nhị Luật (Đnl 6,5.12t; 10,12t; 11,1). Ân sủng của Thiên Chúa muốn có những người đồng cuộc, và sự trao đổi hiệp thông*.

 3-Ân sủng Thiên Chúa trên những người được chọn.

Chắc hẳn từ ngữ hay nhất diễn tả hậu quả lòng quảng đại của Thiên Chúa nơi con người là chữ chúc phúc*. Việc chúc phúc vượt hẳn việc bảo vệ bên ngoài, nó duy trì nơi người đón nhận nó: sự sống*, niềm vui* sự viên mãn* của sức mạnh*, nó thiết lập giữa Thiên Chúa và tạo vật của Ngài một cuộc gặp gỡ mật thiết, nó đặt trên con người cái nhìn và nụ cười của Thiên Chúa, sự rạng ngời của gương mặt và Ân sủng Ngài (hén: Ds 6,25) mối liên hệ đó có tính cách sống chết, nó đụng đến quyền năng sáng tạo. Chúc phúc thuộc quyền của người cha*, và nếu lịch sử Israel là lịch sử của chúc phúc cho tất cả các dân nước (St 12,3), chính vì Thiên Chúa là Cha và vì Ngài tạo nên định mệnh của con cái Ngài (Is 45,10tt). Ân sủng của Thiên Chúa là Tình yêu của một người Cha, nó tạo dựng nên những người con*. Vì việc chúc phúc đó là việc chúc phúc của Thiên Chúa thánh* thiện, nên mối liên hệ mà nó thiết lập với những người được chọn là mối liên hệ của một cuộc thánh hiến. Sự tuyển chọn là lời mời gọi nên thánh, và là lời hứa của cuộc sống thánh hiến (Xh 19,6; Is 6,7; Lv 19,2).

Israel không chịu đáp lại như một người con, họ chối từ thánh hiến cuộc sống và con tim (x. Hs 4,1t; Is 1,4; Gr 9,4t). “Như giếng rĩ nước, (Giêrusalem) cũng rỉ chảy gian ác” (Gr 6,7; x. Ez 16,20). Vì thế, Thiên Chúa sáng chế ra cách làm nơi con người điều mà con người triệt để không thể làm được, và làm cho con người thành tác giả của công việc đó. Chúa biến Giêrusalem hư hỏng thành một đô thị công chính (Is 1,21-26) biến những con tim* thù ngịch vô phương cứu chữa (Gr 5,1tt) thành con tim mới*, có thể hiểu biết* Ngài (Hs 2,21; Gr 31,31). Đó sẽ là công cuộc của Thần Khí* Ngài (Ez 36,27); đó sẽ là lúc sự công chính*của Ngài ngự đến trong thế gian (Is 45,8.24; 51,6).

 III-ÂN SỦNG THIÊN CHÚA ĐÃ ĐƯỢC MẠC KHẢI NƠI ĐỨC GIÊSU KITÔ

 Việc Đức Giêsu Kitô đến, chứng tỏ lòng quảng đại Thiên Chúa có thể tiến xa tới đâu: đến độ ban cho chúng ta chính Con Ngài* (Rm 8,32). Nguồn gốc hành vi phi thường đó là sự hòa hợp lòng âu yếm, trung thành và nhân từ, nhờ đó Giavê tự định nghĩa mình, và Tân ước sẽ đặt tên đặc biệt là Ân sủng, Kháris. Lời cầu chúc Ân sủng Thiên Chúa (hầu như luôn luôn kèm theo hòa bình* của ngài, như vậy lời chúc trọng đại của dân Sêmita đã được liên kết với lý tưởng đặc biệt Hy lạp của từ ngữ Kháris) mở đầu cho hầu hết mọi thư của các Sứ Đồ và chứng tỏ rằng, đối với các Kitô hữu, Ân sủng là ân huệ* tuyệt vời gồm tóm mọi hành động của Thiên Chúa và mọi điều mà chúng ta có thể cầu chúc cho anh em chúng ta.

Nơi con người Đức Kitô, chúng ta đã thấy* (Ga 1,14): “Ân sủng và chân lý đến với chúng ta” (1,17), và vì đó chúng ta nhận biết Thiên Chúa* trong Con Một Ngài (1,18). Cũng như chúng ta đã biết rằng “Thiên Chúa là Tình yêu*” (1Ga 4,8t), cũng vy, khi thấy Đức Giêsu Kitô, chúng ta biết rằng hành động của Thiên Chúa là Ân sủng (Tt 2,11; x. 3,4).

Mặc dầu truyền thống Tin Mừng chung cho các sách Nhất Lãm không biết đến từ ngữ này, nhưng ý thức hoàn toàn về thực tại đó. Đối với truyền thống này, Đức Giêsu cũng là ân huệ tột bậc của Cha (Mt 21,37ss), đã nộp mình cho chúng ta (26,28). Đàng khác, lòng nhạy cảm của Đức Giêsu trước sự bần cùng của con người, niềm xúc động trước nỗi đau khổ, bộc lộ lòng âu yếm và nhân từ qua đó Thiên Chúa trong Cựu ước đã tự định nghĩa. Và, để khuyến khích giáo hữu Corinthô sống quảng đại, thánh Phaolô nhắc lại cho họ “lòng đại lượng (Kháris) của Đức Kitô… vốn giàu có, Người đã trở nên nghèo hèn vì anh em” (2Cr 8,9).

 IV-TÍNH CÁCH NHƯNG KHÔNG CỦA ÂN SỦNG.

 Nếu Ân sủng Thiên Chúa là bí nhiệm của công trình Cứu chuộc*, thì đó cũng là bí nhiện của cách thức cụ thể để đón nhận và sống ơn Cứu chuộc nơi mỗi Kitô hữu (Rm 12,6; Ep 6,7) và mỗi Giáo Hội. Các Giáo Hội ở Macêđonia đã nhận ân huệ sống quảng đại (2Cr 8,1t). các giáo hữu Philiphê đã nhận phần Ân sủng là Sứ Đồ (Ph 1,7; x. 2Tm 2,9), Ân sủng này giải thích toàn thể hoạt động của Phaolô (Rm 1,5; x. 1Cr 3,10; Gl 1,15; Ep 3,2).

Qua các đoàn sủng* khác nhau, sự tuyển chọn* được tỏ lộ, đó là sự chọn lựa tới từ Thiên Chúa, đi trước mọi ưng thuận nhân loại (Rm 1,5; Gl 1,15), nó dẫn đưa chúng ta vào ơnCứu rỗi* (Gl 1,6; 2Tm 1,9), và thánh hiến chúng ta cho một sứ mệnh* riêng (1Cr 3,10; Gl 2,8t).

Đối với Phaolô, tính cách nhưng không khởi đầu của sự tuyển chọn (Rm 11,5) sẽ in dấu trong toàn thể đời sống Kitô hữu. Ơn Cứu rỗi là ân huệ của Thiên Chúa, chứ không phải là tiền lương được hưởng do một công việc (Rm 4,4); nếu không “Ân sủng chẳng còn là Ân sủng nữa” (11,6). Nếu ơn Cứu rỗi bắt buộc phải có vì một sự tuân giữ nào đó, Ân sủng Thiên Chúa không còn đối tượng nữa, “Đức tin hết ý nghĩa và lời hứa thành vô hiệu” (4,14). Chỉ có Đức tin* vào lời hứa* tôn trọng đặc tính đích thực công trình của Thiên Chúa, mà trước tiên là một Ân sủng.

Chính những hoàn cảnh cụ thể khi tuyển chọn làm tăng gấp đôi tính cách nhưng không của sự tuyển chọn. Chính khi chúng ta còn là kẻ thù*, Thiên Chúa đã tuyển chọn; chính khi chúng ta đang bị kết án, Ngài đã ân xá: “Trong lúc chúng ta đang yếu đuối… tội lỗi… thù nghịch với Thiên Chúa”, không thể tự mình thoát khỏi tội lỗi, “Thiên Chúa đã hòa giải chúng ta với Ngài nhờ cái chết của Con Ngài” (Rm 5,6-10). Và Ân sủng Thiên Chúa không bằng lòng cứu chúng ta khỏi sự chết bằng hành vi tha bổng (3,24; Ep 2,5); nhưng nó thúc đẩy lòng quảng đại vượt qua giới hạn. Nơi tội lỗi ngập tràn, Ân sủng càng dư dật (Rm 5,15-21), nó còn mở toang và tuôn dư tràn (2Cr 4,15; 9,14; x. 1Cr 1,7) nguồn giàu* sang vô tận của lòng quảng đại Thiên Chúa (Ep 1,7; 2,7). Một khi Thiên Chúa đã nộp Con riêng Ngài cho chúng ta, “sao Ngài lại không ban cho chúng ta mọi Ân sủng?” (Rm 8,32).

 V-SỰ PHONG NHIÊU CỦA ÂN SỦNG

 Ân sủng của Thiên Chúa “không khô cằn” (1Cr 15,10). Nó cho Đức tin khả năng phát sinh nhiều công trình* đem lại việc làm (1Th 1,3; 2th 1,11), “hành động bởi bác ái” (Gl 5,6) và trổ sinh hoa trái* (Cl 1,10), “những việc lành mà Chúa đã sửa soạn là nguồn hoạt động không hề cạn (Cv 14,26; 15,40); Phaolô có là gì cũng do Ân sủng, Phaolô có làm gì thì cũng do Ân sủng (1Cr 15,10), đến nỗi điều thân thiết nhất nơi Ngài, “điều mà tôi là”, cũng chính là công trình do Ân sủng.

Vì Ân sủng là nguyên lý biến đổi và hành động, nó đòi hỏi một sự hợp tác kiên trì. “Được trao phó phận vụ đó, chúng tôi không yếu kém” (2Cr 4,1), nhưng luôn luôn chú tâm “vâng theo Ân sủng” (1,12) và “đáp lời” Ân sủng (Rm 15,15; x. Ph 2,12t). Ân sủng không bao giờ thiếu hụt nhưng luôn luôn “đủ” cho con người, dù trong cơn khốn cùng nhất, vì chính lúc ấy mới phát hiện quyền năng* của Ân sủng (2Cr 12,9).

Như vậy, Ân sủng là sự sinh ra* trong một cuộc sống mới (Ga 3,3tt), cuộc sống của Thần Khí*, Đấng thông ban sự sống cho con* cái Thiên Chúa (Rm 8,14-17). Thường Phaolô diễn tả cuộc sống này bằng những phạm trù pháp lý để đánh dấu thực tại của nếp sống Kitô giáo do Ân sủng thiết lập. Người Kitô hữu “được kêu gọi trong Ân sủng” (Gl 1,6), “được tác tạo trong Ân sủng” (Rm 5,2), và sống dưới triều đại Ân sủng (5,21; 6,14). Nhưng cuộc sống đó không chỉ là tình trạng của sự kiện được pháp định do quyền bính; nó còn là một đời sống theo nghĩa đầy đủ nhất của từ ngữ, đời sống của những người, “một khi đã trở về từ cõi chết”, sống một đời sống mới với Đức Kitô sống lại (Rm 6,4.8.11.13). Tuy bắt đầu từ một quan điểm khác, nhưng ở đây kinh nghiệm của Phaolô trùng hợp với kinh nghiệm của Gioan: Ân sủng của Đức Kitô là ơn ban sự sống (Ga 5,26; 6,33; 17,2).

Kinh nghiệm về sự sống này là kinh nghiệm về Thánh Linh*. Chế độ của Ân sủng là chế độ của Thần Khí (Rm 6,14; 7,6); người được giải phóng khỏi tội lỗi mang những hoa trái thánh thiện (6,22; 7,4). Thần Khí, ân huệ* tuyệt vời của Thiên Chúa (Cv 8,20; 11,7), “minh chứng cho tâm trí chúng ta” (Rm 8,16) bằng một kinh nghiệm chắc chắn rằng Ân sủng biến chúng ta thực sự thành con cái Thiên Chúa, được quyền gọi Thiên Chúa như Cha*: Abba. Đó là sự công chính hóa* do Ân sủng thực hiện (Rm 3,23t): chúng ta có thể hiện hữu trước mặt Thiên Chúa đúng như điều Ngài trông đợi nơi chúng ta, nghĩa là như những người con trước mặt Cha mình (Rm 8,14-17; 1Ga 3,1t). Khi khám phá ra trong Ân sủng Thiên Chúa nguồn gốc mọi hành vi của mình, người Kitô hữu tìm được thái độ đáng phải có trước mặt mọi người, đó là lòng hãnh diện* đích thực, không tự hào vì mình chiếm hữu bất cứ điều gì, nhưng vì đã nhận tất cả nhờ Ân sủng, và điều nhận được trước hết là sự công chính. Hãnh diện và Ân sủng, Phaolô liên kết hai tiếng đó với nhau cách tự nhiên (Rm 4,2tt; 5,2t; 2Cr 12,9; x. Ep 1,6). Trong Ân sủng của Thiên Chúa con người thành đạt chính bản ngã mình.

 JG

 →ân huệ – âu yếm – chúc phúc/ chúc tụng – công trình – công chính hóa II 3 – công trình Tân ước II 1 – Cứu rỗi Tân ước – đoàn sủng – giải phóng/tự do I, III 2 a c – lành&dữ III 3 – Luật B III 5; C III 1 – nhân từ – tạ ơn – tin Tân ước III 2 – toàn phúc Cựu ước I 1.

AN TÁNG

 Ngay từ thời tiền sử, người ta nhận thấy rằng những người sơ khai nhất cũng đã quan tâm đến việc an táng kẻ chết. Mối bận tâm này, tuy mang nhiều hình thái khác nhau nhưng đều nói lên một niềm tin rằng con người vẫn còn có gì tồn tại sau khi đã chết*.

 1-Tại Israel cũng như nơi các xứ lân cận, người ta coi việc không được an táng như một bất hạnh ghê gớm (Tv 79,3). Đây cũng chính là một hình phạt khủng khiếp nhất mà các sứ ngôn đã dùng để đe dọa quân vô đạo (1V 14,11tt; Gr 22,18-19).

Cũng vì thế người Israel rất để ý chuẩn bị cho ngày an táng của mình, theo gương ông Abraham (St 23, câu chuyện xây mộ các tổ phụ). Việc chôn cất là nhiệm vụ tuyệt hảo của con cháu người quá vãng (St 25,8tt; 35,29; 50,12t; Tb 4,3t; 6,15; 14,10tt). Đó cũng là một công việc đạo đức mà quân đội trong thời chiến và tất cả mọi người Israel trung tín phải thi hành (Sách Tobia nhấn mạnh về nhiệm vụ này: 1,17-20; 2,4-8; 12,12t).

Các nghi thức tang chế rất phức tạp và người ta cũng nhận thấy các nghi thức ấy nơi các dân tộc lân bang: ăn chay (1Sm 31,13; 2Sm 1,12; 3,35), mặc quần áo rách rưới (St 37,34; 2Sm 1,11; 3,31; 13,31), lưng đeo bị (St 37,34; 2Sm 3,31; 14,2; Ez 7,18), cắt tóc, xẻo thịt (Am 8,10; Mi 1,16; Is 22,12; Gr 7,29; 16,6; 48,37; 49,3; các việc này đã bị Đnl 14,1 và Lv 19,27t cấm, chắc chỉ vì trong việc phụng tự thần Baal cũng có những nghi thức đó), khóc lóc thảm thiết (2Sm 1,12.17-27; 3,33t; 13,36t; 1V 13,30; Am 5,16; Gr 22,18; 34,5). Các phong tục khác nhau này chỉ là những biểu lộ của đau khổ. Chúng có một khía cạnh nghi thức, nhưng chúng ta không biết rõ ý nghĩa nguyên thủy của chúng (việc tôn kính kẻ chết, che chở khỏi những bùa ngải…). Trong Israel, nơi đó lòng tin vào Đức Giavê không cho phép một hình thức thờ cúng nào dành cho kẻ chết, thì các nghi lễ này trước hết là cung ứng cho người chết một tình trạng an nghỉ bằng cách “liên kết họ lại với dân tộc của họ” (St 25,8; 35,29) khi họ “an nghỉ cung cha ông họ” (1V 2,10; 11,43).

 2-Trong các Tin Mừng.

Những người đồng tời với Chúa Giêsu duy trì những tập tục của Cựu ước liên quan đến việc an táng (Mc 5,38; Ga 11,38-44).

Chúa Giêsu không bài bác các tập tục này, ngay cả khi Người tuyên bố rằng tiếng gọi theo Người còn cao trọng hơn bổn phận thiêng liêng là chôn cất cha mình (Mt 8,21t). Người cảm thấy trước sự nhục nhã Người sẽ phải chịu về cái chết của Người, cái chết của kẻ bị kết án, không được hưởng những vinh dự an táng (Mc 14,8).

Thực ra, những vinh dự này, Giuse Arimathia sẽ lo cho Người một cách vội vã vì dã cận ngày lễ (Mc 15,46t). Nhưng vào buổi sáng sớm lễ Vượt Qua khi các phụ nữ đến để bổ túc việc an táng vội vã đó bằng việc xức dầu* thơm (Mc 16,1t; trong Ga 19,39t, xác Chúa Giêsu đã được xức dầu thơm ngay chiều hôm tử nạn) thì các bà dã nghe Thiên Thần tuyên bố: “Người đã sống lại. Người không còn ở đây”. Tập tục cổ tuyển về việc an táng người chết trong Kitô giáo dưới các hang toại đạo và các nghĩa địa (“phòng ngủ”: x. 1Th 4,13) bắt nguồn từ những câu chuyện này. Tập tục đó cảm hứng theo những danh dự dành cho xác đã được Thần Khí thánh hiến, và hơn thế nữa, bởi niềm tin tưởng vào ngày sống lại.

 AG

 →chay tịnh 1 – chết Cựu ước I 3 – xức dầu I 2.

AN ỦI

 Lúc buồn phiền*bệnh tật*, tang chế, bách hại*, con người cần được nâng đỡ; họ tìm kiếm người an ủi. Thật vậy, lúc ấy nhiều người xa tránh họ như xa tránh tên bị dịch tễ. Ít ra cha mẹ và bạn hữu của họ, xúc động vì lòng trắc ẩn, tới thăm viếng để chia sẻ và xoa dịu nỗi đau khổ cho họ (St 37,35; 2Sm 10,2t; Ga 11,19.31); Những người ấy cố gắng an ủi bằng lời nói, cử điệu theo lễ chế (G 2,11tt; Gr 16,5tt). Nhưng thường những lời hoa mỹ này gây chán chường hơn là an ủi (G 16,2; 21,34; Is 22,4) và không thể nào triệu hồi kẻ đã ra đi và kẻ mà người ta than khóc (St 37,35; Mt 2,18). Con người vẫn cô đơn trong đau khổ (G 6,15.21; 19,13-19; Is 53,3); dường như chính Thiên Chúa cũng xa tránh họ (G; Tv 22,2t; Mt 27,46).

 1-Mong đợi Thiên Chúa an ủi.

Trong dòng lịch sử của mình, Giêrusalem đã từng kinh nghiệm cảnh bị bỏ rơi hoàn toàn này. Mất hết mọi an ủi các đồng minh ngày trước, giữa đổ nát và lưu đày* (Ai 1,19). Giêrusalem tưởng chừng bị Thiên Chúa bỏ quên (Is 49,14; 54,6t), để rồi âu sầu trong tuyêt vọng.

Nhưng thực ra, Thiên Chúa chỉ bỏ rơi nó “trong chốc lát” (Is 54,7) để dạy nó hiểu rằng chính Ngài là Đấng an ủi đích thực duy nhất. Quả vậy, này Ngài lại đến với Giêrusalem: “Hãy an ủi, hãy an ủi dân Ta, Chúa các ngươi phán” (Is 40,1; 49,13…) Giavê đáp lời như vậy trước sự than trách của Giêrusalem đang bị bỏ rơi. Sau hình phạt lưu đày, Ngài sẽ can thiệp cho nó, để chu toàn những lời hứa* do các sứ ngôn Ngài loan báo (Gr 31,13-16; x. Hc 48,24). Sự can thiệp Cứu độ này là một bước tiến của Tình yêu* được diễn tả dưới nhiều hình ảnh khác nhau. Thiên Chúa an ủi dân Ngài với thiện tâm của một chủ chăn* (Is 40,11; Tv 23,4), tâm tình của người cha*, nỗi thiết tha của người yêu, người chồng* (Is 54) niềm âu yếm* của người mẹ* (Is 49,14t; 66,11tt).

Vì thế Israel sẽ diễn tả niềm hy vọng Cứu rỗi* cánh chung của mình như sự mong đợi an ủi cuối cùng (Dcr 1,13). Một sứ giả mầu nhiệm, người Tôi Tớ*, sẽ đến thực hiện công trình này (Is 61,2), và truyền thống Do thái, do chính Tin Mừng chứng giám, sẽ gọi Đấng Messia*Menahem là “nguồn an ủi của Israel” (Lc 2,25t). Trong khi chờ đợi này của Đấng Mesia, những người trung thành biết rằng Thiên Chúa đã không để mặc họ trong cô đơn*: để an ủi họ trong cuộc hành trình dương thế, Ngài đã ban cho lời hứa* (Tv 119,50), Tình yêu của ngài (119,76), Luật và các sứ ngôn (2M 15,9), Thánh Kinh (1M 12,9; Rm 15,4); được nâng đỡ như vậy, họ sống trong hy vọng khi bị thử thách*.

 2-Đức Kitô, Đấng an ủi những người ưu phiền.

Này đây trong Đức Giêsu, Thiên Chúa Đấng an ủi đến với nhân loại. Đức Kitô cư xử như người Tôi Tớ hằng được mong đợi “Thánh Kinh Chúa xuống trên tôi…” (Lc 4,18-21). Ngài mang đến cho những người ưu phiền, nghèo* khó, sứ điệp an ủi, Tin Mừng* hạnh phúc trong Vương Quốc* của Cha họ (Mt 5,5) Người đến phục hồi can đảm cho nưhngx ai bị tội lỗi* hoặc bệnh tật* là dấu chỉ của tội lỗi đè nặng (Mt 9,2.22). Người ban nghỉ ngơi* cho những ai lao nhọc và quỵ mình dưới gánh nặng (Mt 11,28tt).

Nguồn an ủi ấy không chấm dứt khi Người về cùng Cha: Chúa Giêsu không bỏ rơi môn đệ Ngài. Thánh Linh ngày Hiện Xuống mà Người đã ban cho họ, không ngừng ban cho cộng đoàn Kitô giáo dư đầy ơn thôi thúc bên trong, để giúp cộng đoàn đương đầu với chướng ngại và bách hại (Cv 9,31). Những vị chủ chăn mà Người đã ký thác Giáo Hội của Người cũng mang lại cho cộng đoàn những lời khích lệ (15,31). Các phép lạ Chúa làm vì môn đệ Người là những dấu chỉ* Thiên Chúa dùng để an ủi và chúng phát sinh niềm vui* trong tâm hồn tín hữu (20,12).

Sứ Đồ Phaolô đã đặt nền tảng cho một nền thần học an ủi: qua một thử thách khủng khiếp như cái chết, Người đã khám phá ra rằng niềm an ủi phát xuất từ chính nỗi ưu phiền khi ưu phiền này được kết hiệp với sự đau khổ* của Đức Kitô (2Cr 1,8tt). Đến lúc nguồn an ủi này dàn dụa trên các tín hữu (1,3-7), vì nó được nuôi dưỡng nơi nguồn duy nhất là niềm vui*của Đấng đã sống lại. Quả vậy, Đức Kitô là nguồn mọi an ủi (Ph 2,1), đặc biệt đối với những ai thấy mình bị tách lìa khỏi những người thân yêu đã chết (1Th 4,18). Trong Giáo Hội nhiệm vụ của Đấng An Ủi vẫn là chính yếu để minh chứng rằng Thiên Chúa luôn luôn an ủi những người nghèo khó và ưu phiền (1Cr 14,3; Rm 15,5; 2Cr 7,6; x. Hc 48,24).

CA

 →buồn Cựu ước 4; Tân ước 2.3 – cười 2 – đau khổ – Đấng Bầu Cử o – hy vọng Cựu ước II 2 – khuyến dụ – toàn phúc – vui.

ĂN → bánh – bữa ăn – cây 1 – đói & khát – thực phẩm.

ANH EM

 Theo nghĩa đúng nhất, danh từ “anh em” chỉ những người cùng một mẹ sinh ra (St 4,2). Nhưng trong tiếng Hy bá cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác, danh từ này được dùng rộng rãi để chỉ những phần tử cùng một gia đình (St 13,8; Lv 10,4; x. Mc 6,3), một bộ lạc (2Sm 19,13), một dân tộc (Đnl 25,3; Thp 1,3), để phân biệt với các ngoại kiều* (Đnl 1,16; 15,2t); cuối cùng chỉ các dân tộc cùng một tổ tiên như Êđom và Israel (Đnl 2,4; Am 1,11). Bên cạnh tình huynh đệ do huyết nhục này, Thánh Kinh còn nói đến một tình huynh đệ khác do mối dây liên lạc thiêng liêng: huynh đệ do Đức tin (2St 31,15; 2V 9,2) do Giao ước được ký kết (Am 1,9; 1V 20,32; 1M 12,10)…

Việc sử dụng danh từ theo cách ẩn dụ chứng tỏ tình huynh đệ nhân loại như một thực tại sống, không chỉ giới hạn vào mối liên hệ huyết thống, mặc dầu liên hệ thống là nền tảng tự nhiên. Mạc khải không bắt đầu bằng suy luận về sự kiện mọi người tự nhiên đã là anh em với nhau. Không phải vì Mạc khải bác bỏ lý tưởng “tứ hải giai huynh đệ”; nhưng Mạc khải biết điều đó không thể thực hiện được và có theo đuổi cũng chỉ là thất vọng bao lâu người ta không tìm lý tưởng đó trong Đức Kitô. Đàng khác, đó cũng chính là lý tưởng mà Cựu ước đã nhắm đến qua các cộng đoàn huynh đệ sơ đẳng căn cứ trên chủng tộc, huyết thống hay tôn giáo; và sau cùng Tân ước cũng bắt đầu thực hiện chính lý tưởng đó trong cộng đoàn Giáo Hội.

 CỰU ƯỚC: HƯỚNG ĐẾN TÌNH HUYNH ĐỆ ĐẠI ĐỒNG

 1-Nguồn gốc.

Khi tạo dựng loài người từ “một nguyên lý độc nhất” (Cv 17,26; x. St 1-2), Thiên Chúa đã đặt vào lòng con người mơ ước trở thành anh em với nhau nơi Ađam*. Nhưng mơ ước đó chỉ được thực hiện được sau cuộc hành trình dài. Bởi vì lịch sử con cháu Ađam đã bắt đầu bằng một tình huynh đệ đổ vỡ: ganh tị với Abel*, Cain đã giết em mình và cũng không muốn biết em mình ở đâu nữa (St 4,9). Từ Ađam, nhân loại đã phạm tội. Cùng với Cain, nhân loại đã để lộ bộ mặt hận thù* mà họ hoài công che giấu sau huyền thoại “nhân chi sơ tính bản thiện”. Con người phải nhìn nhận tội lỗi đã núp sẵn nơi cửa lòng mình (St 4,7): họ sẽ phải chiến thắng tội lỗi nếu họ không muốn tội lỗi chế ngự mình.

 2-Tình huynh đệ trong Giao ước.

Trước khi Đức Kitô đến bảo đảm chiến thắng đó, dân Chúa chọn còn phải trải qua thời gian lâu dài để tập sống tình huynh đệ. Không phải tức khắc là có tình huynh đệ với mọi người, nhưng là tình huynh đệ giữa con cháu Abraham* do lòng tin vào cùng một Thiên Chúa và do cùng một Giao ước*. Đó là lý tưởng đã được bộ Luật thánh-sự xác định: “Ngươi không được thù ghét anh em mình… người phải yêu người lân cận*” (Lv 19,17). Không được cãi vã, tích oán, báo thù! Nhưng hãy tích cực giúp đỡ nhau như Luật quả-tẩu-hôn đòi buộc khi nói đến bổn phận thiết yếu phải sinh sản (x. phong nhiêu*): khi một người chết không con, người họ hàng gần nhất phải “tạo một dòng dõi cho người anh em mình” (Đnl 25,5-10; St 38,8.36). Truyền thống các tổ phụ còn ghi lại nhiều mẫu gương cao đẹp về mối tình huynh đệ đó: Abraham và Lot thoát cảnh bất hòa nhau (St 13,8), Giacob làm hòa với Êsau (33,4), Giuse tha thứ cho anh em mình (45,1-8).

Nhưng việc thực hành lý tưởng đó luôn va chạm với lòng người cứng cỏi. Qua nhãn quan các sứ ngôn thì xã hội Israel còn xa lý tưởng đó lắm. Họ thiếu hẳn tình huynh đệ (Hs 4,2); “Không ai chịu tha thứ cho anh em mình” (Is 9,18tt); ở đâu cũng thấy bất công, không còn tín nhiệm ai được (Mạc khải 7,2-6); người ta không thể “tín nhiệm anh em nào được vì anh em đều muốn lừa phỉnh nhau” (Gr 9,3) và chính Giêrêmia cũng bị anh em mình tầm nã (Gr 11,18; 12,6; x. Tv 69,9; G 6,15). Các sứ ngôn luôn nhắc nhở thế giới cứng cỏi những đòi hỏi phải thực hành công chính*, nhân hậu, và thương xót (Dcr 7,9t). Sự kiện Tạo Hóa là Cha*chung của họ (Ml 2,10) chẳng đem lại cho các phần tử của Giao ước một tình huynh đệ thiết thực hơn việc họ cùng con cháu Tổ Phụ Abraham sao? (x. Is 63,16). Các bậc hiền triết cũng tuyên dương mối tình huynh đệ đích thực như thế. Không gì đau đớn hơn khi bị anh em bỏ rơi (Cn 19,7; G 19,13), nhưng anh em chân thật luôn yêu thương dù phải gặp nghịch cảnh (Cn 17,17); người ta không đổi anh em để lấy vàng (Hc 7,18), bởi vì “một người anh em được anh em khác giúp đỡ là mọt đồn lũy vững vàng” (Cn 18,19 LXX). Thiên Chúa ghét những cuộc tranh chấp (Cn 6,19), nhưng yêu sự thuận hòa (Hc 25,1). “Ôi! Êm đềm biết bao khi anh em sống chung với nhau!” (Tv 133,1).

 3-Hướng về việc giao hòa với anh em thù địch.

Tuy nhiên, việc Chúa ban Luật không đủ để tái tạo một thế giới huynh đệ. Trong mọi đẳng cấp đều thiếu tình huynh đệ nhân loại. Vượt xa những cuộc tranh chấp cá nhân, Israel còn chứng kiến tình liên kết giữa các bộ lạc bị tan rã (x. 1V 12,24) và hậu quả của việc rạn nứt đó (x. ly giáo*) là chiến tranh huynh đệ tương tàn (td. Is 7,1-9). Đối ngoại, Israel va chạm với những dân tộc anh em gần gũi mình nhất như Êđom mà Israel có bổn phận phải thương mến (Đnl 23,8), thì chính dân tộc Êđom cũng không dung tha cho họ (Am 1,11; x. Ds 0,14.21). Còn nói chi tới các dân tộc xa lạ, hận thù* đằng đẵng khiến họ chống đối nhau? Đứng trước tội lỗi tập thể đó, các sứ ngôn hướng về Thiên Chúa. Chỉ mình Chúa có thể tái lập tình huynh đệ nhân loại khi Người thực hiện ơn Cứu rỗi* cánh chung. Lúc đó, Người sẽ tập hợp Giuđa và Êphraim sẽ không còn ganh tị nhau nữa (Is 11,13t); Người sẽ tập trung cả nhà Giacob lại (Mạc khải 2,12), Người sẽ là Thiên Chúa các chi tộc (Gr 31,1); cả “hai dân tộc” cùng đồng hành (Gr 3,18) nhờ vị Vua* công chính (23,5t) và sẽ chỉ còn một vương quốc (Ez 37,22). Cuối cùng tình huynh đệ đó sẽ làn rộng đến khắp chư dân*: tất cả sẽ giao hòa với nhau và sẽ gặp lại hòa bình* và hiệp nhất* (Is 2,1-4; 66,18tt).

 TÂN ƯỚC: TẤT CẢ LÀ ANH EM TRONG ĐỨC GIÊSU KITÔ

 Tình huynh đệ đại đồng mà các sứ ngôn mơ ước đã trở thành một thực tại trong Đức Kitô,Ađam* mới. Việc thực hiện tình huynh đệ trần thế trong Giáo Hội dù vẫn còn bất toàn, nhưng đó là dấu chỉ đích thực cho biết sau cùng sẽ được hoàn thành.

 1-Trưởng Tử của vô số anh em.

Qua cuộc Tử Nạn trên Thập giá*, Đức Giêsu đã trở thành “trưởng tử của vô số đàn em” (Rm 8,29); Người đã giao hòa* lại với Thiên Chúa và giao hòa hai thành phần của nhân loại với nhau: dân tộc Do thái* với chư dân* (Ep 2,11-18). Giờ đây họ cùng tiến vào Vương quốc*, và người anh cả – dân tộc Do thái – không nên ganh tị với đứa con hoang đàng, sau cùng đã trở về nhà Cha (Lc 15,25-32). Sau khi sống lại, Đức Kitô có thể gọi các môn đệ là anh em (Ga 20,17; Mt 28,10). Bây giờ đây là thực tế: tất cả những ai đón nhận Đức Kitô đều trở nên con Thiên Chúa (Ga 1,12) và anh em với nhau, không phải vì là con cháu cùng huyết thống của Abraham, nhưng do Đức tin* vào Đức Kitô và để làm trọn ý của Chúa Cha* (Mt 12,46-50 ss; x. 21,28-32). Như thế, nhân loại trở nên anh em của Đức Kitô không phải theo nghĩa bóng, nhưng do việc tái sinh* (Ga 3,3). Họ được Chúa sinh ra (1,13), có cùng nguồn gốc như Đức Kitô là Người đã thánh hóa họ và “không ngại gọi họ là anh em” (Dt 2,11). Thật ra, Đức Kitô đã nên giống chúng ta hoàn toàn để làm cho chúng ta cùng trở nên con Chúa với Người (2,10-17). Là con Thiên Chúa với đầy đủ ý nghĩa, chúng ta có thể gọi Chúa là “Cha”, cùng thừa kế với Đức Kitô vì chúng ta đã trở nên anh em của Người (Rm 8,14-17), còn khăng khít với Người hơn là chúng ta có thể khăng khít với anh em cùng huyết nhục.

 2-Cộng đoàn huynh đệ trong Đức Kitô.

Lúc sinh tiền, Chúa Giêsu đã đặt nền tảng và công bố Lề luật của cộng đoàn huynh đệ mới. Người đã lặp lại và hoàn hảo các giới răn liên hệ đến các mối tương quan huynh đệ (Mt 5,21-26), Người đặt nặng bổn phận sửa sai anh em (Mt 18,15tt). Nếu bản văn trên đây cho ta thoáng thấy tjrong một cộng đoàn nhỏ hẹp mà người anh em bất tín có thể bị khai trừ thì nơi khác ta thấy cộng đoàn đó lại được mở rộng chào đón mọi người (Mt 5,47): ai cũng phải yêu thương người nhỏ nhất trong những anh em bất hạnh của mình vì chính nơi họ mà mọi người tìm gặp Đức Giêsu (Mt 25,40). Sau ngày sống lại, khi Thánh Phêrô đã “củng cố tinh thần anh em mình” (Lc 22,31t) thì các môn đệ thiết lập giữa họ một “huynh đệ” (1Pr 5,9). Chắc chắn lúc ban đầu họ vẫn gọi người Do thái là “anh em”, những người cùng chủng tộc (Cv 2,29; 3,17…). Nhưng Thánh Phaolô cũng chỉ xem họ như anh em “theo huyết nhục” (Rm 9,3). Vì một chủng tộc mới đã phát sinh từ dân Do thái và chưa dân (Cv 14,1t), họ được giao hòa với nhau trong niềm tin vào Đức Kitô. Không còn gì phân rẽ các chi thể với nhau, kể cả sự khác biệt về hoàn cảnh xã hội giữa chủ và tớ (Phm 16). Tất cả là một (x. hiệp nhất*) trong Đức Kitô, là anh em, là tín hữu rất thân yêu của Thiên Chúa (td. Cl 1,2). Đó mới thực là con cháu Abraham (Gl 3,7-29): trong khi kết thành Thân xác Đức Kitô* (1Cr 12,12-27) họ đã tìm thấy trong Ađam* mới, nền tảng và nguồn gốc tinh huynh đệ của họ.

 3-Tình yêu anh em.

Chính giữa cộng đoàn tín hữu mà Tình yêu* anh em được thực thi trước tiên. “Tình yêu anh em chân thành” đó không phải chỉ là lòng thương người tự nhiên: nó chỉ có thể phát xuất từ cuộc “tái sinh*” (1Pr 1,22t). Nó không có gì là ảo tưởng, bởi vì nếu nó muốn đạt tới mọi người thì nó sẽ được thực thi từ trong các cộng đoàn nhỏ: tránh xa các vụ cãi vã (Gl 5,15), nâng đỡ lẫn nhau (Rm 15,1), làm phúc* (2Cr 8-9; 1Ga 3,17), tế nhị (1Cr 8,12). Chính tình huynh đệ đã khiến Thánh Phaolô phấn khởi khi Ngài đến Rôma (Cv 28,15). Trong thư của thánh Gioan, dường như Ngài đã gán cho danh từ “anh em” một tầm mức đại đồng, mà đúng ra người ta thường dành cho tiếng “lân cận*) thôi. Nhưng giáo huấn Ngài cũng theo quan điểm đó và Ngài đặt rõ ràng tình huynh đệ trái ngược với thái độ của Cain (1Ga 3,12-16) và làm cho tình huynh đệ trở thành dấu chứng cần thiết nói lên Tình yêu Thiên Chúa (1Ga 2,9-12).

 4-Hướng về tình huynh đệ hoàn hảo.

Dù thế, cộng đoàn tín hữu không bao giờ được thực hiện hoàn toàn ngay dưới đất: những kẻ bất xứng vẫn lẫn lộn trong cộng đoàn đó (1Cr 5,11), những anh em giả có thể len lỏi vào (Gl 2,4t; 2Cr 11,26). Nhưng cả cộng đoàn đều biết rằng một ngày kia quỷ dữ kẻ tố cáo anh em trước mặt Thiên Chúa sẽ bị quật ngã (Kh 12,10). Trong lúc chờ đợi chiến thắng sau cùng sẽ cho phép cộng đoàn tín hữu được thực hiện hoàn toàn, thì cộng đoàn này đã minh chứng tình huynh đệ nhân loại đang trên đường tiến đến con Người* mới mà nhân loại hằng mơ ước từ nguyên thủy.

 AN&XLD

 →Abel 2 – âu yếm 3 – bạn – báo thù 2 a – Cha – giáo dục III 2 – hiệp nhất I – Hiệp thông Cựu ước 5; Tân ước I – hiếu khách – hổ thẹn II 2 – kẻ thù – làm phúc – lân cận – Maria II 5 – nhân từ O; Cựu ước II; Tân ước II – ngoại kiều I – nô lệ I – Tình yêu II.

ÁNH SÁNG & TÔI TĂM

Chủ đề ánh sáng được lồng trong tất cả Mạc khải Thánh Kinh. Tác động đầu tiên của Tạo Hóa là phân chia ánh sáng khỏi tối tăm (St 1,3t). Khi lịch sử Cứu độ chấm dứt, chính Thiên Chúa sẽ là ánh sáng (Kh 21,23) cho tạo vật mới (21,5). Nơi trần gian bóng* tối luôn đi đôi với ánh sáng, và từ ánh sáng này, con người sẽ đến cùng ánh sáng vĩnh cửu là chính Thiên Chúa (1Ga 1,5). Lịch sử diễn tiến giữa ánh sáng và tối tăm cũng mặc hình thức một cuộc xung đột, giống như cuộc xung đột giữa sống* và chết* (x. Ga 1,4t). Nhưng không có một hệ thống siêu hình nhị nguyên nào đã đưa cái nhìn đối nghịch về vũ trụ này đến độ thái quá như tư tưởng Ba tư. Nhưng không vì thế mà con người  không là mục tiêu của cuộc xung đột ấy: số phận sau cùng của con người được diễn tả bằng danh từ ánh sáng hay tối tăm, cũng như đã được diễn tả bằng danh từ sự sống hay sự chết. Do đó, chủ đề này chiếm một địa vị quan trọng trong các biểu tượng tôn giáo mà Thánh Kinh thường dùng.

 CỰU ƯỚC

 I-THIÊN CHÚA CỦA ÁNH SÁNG

1-Đấng tạo dựng ánh sáng.

Ánh sáng, cũng như muôn vật khác, đều do Thiên Chúa tạo thành: ánh sáng ban ngày lộ khỏi hỗn mang nguyên thủy (St 1,1-5); ánh sáng tinh tú* chiếu soi địa cầu ngày và đêm (1,14-19). Thiên Chúa sai đi và gọi về, ánh sáng run rẩy vâng lời (Br 3,33). Vả lại, đi đôi với ánh sáng, tối tăm cũng ở trong một tình trạng tương tự, vì cũng chính Thiên Chúa “tạo dựng ánh sáng và tối tăm” (Is 45,7; Am 4,13 LXX). Vì thế ánh sáng và tối tăm cũng xướng lên bài ca chúc tụng Đấng Tạo Hóa (Tv 19,2t; 148,3; Đn 3,71t). Như vậy Thánh Kinh đã loại bỏ tận rễ tất cả quan niệm thần thoại về ánh sáng và tối tăm, nhưng không vì thế mà không mặc cho chúng một ý nghĩa tượng trưng.

 2-Thiên Chúa, Đấng mặc Ánh Sáng.

Quả nhiên, như tất cả tạo vật khác, ánh sáng là dấu chỉ biểu lộ cho ta thấy một đặc tính nơi Thiên Chúa. Ánh sáng như phản ánh vinh quang* Ngài. Dưới khía cạnh này, ánh sáng được dùng trong văn chương để gợi lên các cuộc thần hiển. Ánh sáng là y phục* của Thiên Chúa (Tv 104,2). Khi Ngài xuất hiện, “rực rỡ như ánh thiều quang, tia sáng phát xuất từ tay Ngài” (Hab 3,3t). Bầu trời là ngai của Ngài lấp lánh tựa pha lê (Xac 24,10; Ez 1,22). Nơi khác, Ngài được miêu tả như Đấng ở giữa ngọn lửa* (St 15,17; Xac 19,18; 24,17; Tv 18,9; 50,3) hay đang tung những tia chớp chói lòa trong bão tố (Ez 1,13; Tv 18,15). Tất cả các bức vẽ biểu tượng này nói lên mối dây liên lạc giữa sự hiện diện thần linh và ấn tượng do tia sáng chói lọi tạo nên nơi con người. Về phần tối tăm, chúng không loại trừ sự hiện diện*của Thiên Chúa, vì Ngài dò xét và thấy những gì xảy ra trong tối tăm (Tv 139,11t; Đn 2,22). Tuy nhiên, tuyệt đỉnh của tối tăm chính là Shêol, nơi ở của những kẻ đã bị “loại trừ khỏi tay Ngài” (Tv 88,6t.13). Trong tối tăm, Thiên Chúa thấy mà không cho thấy mình, Ngài hiện diện nhưng chẳng tỏ mình.

 3-Thiên Chúa là ánh sáng.

Mặc dù trước đó người ta đã dùng đến các biểu tượng về ánh sáng, nhưng phải đợi đến sách Khôn ngoan để có thể dùng ánh sáng áp dụng cho yếu tính thần linh. sự khôn ngoan*do vinh quang Thiên Chúa phát sinh, là “phản ánh ánh sáng vĩnh cửu”, trổi vượt trên tất cả ánh sáng được tác thành (Kn 7,27.29t). Ở đây, ý nghĩa tượng trưng về ánh sáng đã đạt đến một giai đoạn phát triển để Tân ước sẽ sử dụng nhiều hơn.

 II-ÁNH SÁNG, ÂN HUỆ CỦA THIÊN CHÚA

1-Ánh sáng kẻ sống.

“Ánh sáng êm dịu, làm vui thú đôi mắt nhìn trời” (Gs 11,7). Mọi người đều qua kinh nghiệm này. Do đó nảy sinh sự liên tưởng chặt chẽ giữa ánh sáng và sự sống*: sinh ra, tức là “thấy ánh sáng” (Gb 3,16; Tv 58,9). Kẻ mù không thấy “ánh sáng của Thiên Chúa” (Tb 3,17; 11,8) và đã nếm trước sự chết (5,11t); ngược lại, bệnh nhân được Thiên Chúa cứu khỏi chết, vui mừng vì được thấy lại “ánh sáng kẻ sống” (Gb 33,30; Tv 56,14), vì Shêol chính là lãnh địa tối tăm (Tv 88,13). Bởi thế, đối với con người, ánh sáng và tối tăm có những giá trị đối ngược tạo nên ý nghĩa biểu tượng của chúng.

 2-Biểu tượng của ánh sáng.

Trước tiên, ánh sáng trong những cuộc thần hiển mang một ý nghĩa liên quan đến cuộc sống của những người thừa hưởng ánh sáng ấy, vì nó nhấn mạnh đến quyền uy của một Thiên Chúa đã trở thành thân thiện (Xac 24,10t), hoặc vì nó làm chúng ta cảm thấy vẻ uy linh kinh khiếp của Ngài (Hab 3,3t). Ngoài việc gợi lên sự hiện diện thần linh một cách mầu nhiệm ấy, biểu tượng về bộ mặt sáng láng ấy còn đem lại ý tưởng về lòng ưu ái giúp ta yên lòng (Tv 4,7; 31,17; 89,16; Ds 6,24tt; x. Cn 16,15). Thực vậy, sự hiện diện để phù giúp. NhờLuật*, Ngài soi sáng đường đi nước bước của con người (Cn 6,23; Tv 119; 105); bởi thế Ngài là đèn* soi dẫn họ (Gb 29,3; Tv 18,29). Khi cứu khỏi hiểm nguy, Ngài chiếu sáng mắt họ (Tv 13,4); Ngài là ánh sáng và Cứu rỗi cho họ (Tv 27,1). Sau cùng, nếu là người thánh thiện, Ngài sẽ dẫn đưa về hưởng hoan lạc trong ngày quang vinh (Is 58,10; Tv 36,10; 97,11; 112,4), ngược lại kẻ gian ác loạng choạng giữa tối tăm (Is 59,9t) và thấy đèn* mình phụt tắt (Cn 13,9; 24,20; Gb 18,5t). Tóm lại, ánh sáng và tối tăm biểu trưng hai số phận đang chờ đón con người: hạnh phúc hay bất hạnh.

 3-Lời hứa ban ánh sáng.

Do đó không có gì ngạc nhiên khi tìm gặp ý nghĩa biểu tượng về ánh sáng và tối tăm nơi các sứ ngôn, trong viễn tượng cánh chung. Tối tăm, tai họa đe dọa mà dân Ai cập đã kinh nghiệm (Xac 10,21…), trở thành một trong những dấu chỉ tiên báo Ngày* của Giavê (Is 13,10; Gr 4,23; 13,16; Ez 32,7, Am 8,9; Gl 2,10; 3,4; 4,15): Đối với một thế giới tội lỗi, Ngày của Giavê sẽ là tối tăm chứ không phải là ngày ánh sáng (Am 5,18; x. Is 8,21tt).

Tuy nhiên, Ngày của Giavê còn có một bộ mặt khác, bộ mặt hoan lạc và giải phóng, dành cho Nhóm còn lại* khiêm tốn và đau khổ gồm những người công chính; trong ngày đó “dân đi trong tăm tối sẽ thấy ánh sáng huy hoàng”(Is 9,1); 42,7; 49,9; Mik 7,8t). Hình ảnh này có một giá trị hiển nhiên và có thể áp dụng dưới nhiều hình thức. Trước tiên, nó làm ta nghĩ đến ánh sáng chói lọi của một ngày kỳ diệu (Is 30,26), không còn phân rẽ ngày đêm (Zêc 14,7), và được “Mặt trời công chính” chiếu rạng (Mal 3,20). Tuy nhiên, ánh bình minh chiếu soi trên Giêrusalem* mới (Is 60,1tt) sẽ khác ánh bình minh thời hiện tại: chính Thiên Chúa hằng sống sẽ chiếu soi dân Ngài (60,19t). Luật* Ngài soi sáng các dân (Is 2,5; 51,4; Br 4,2), Tôi tớ* Ngài sẽ là ánh sáng chư dân*. (Is 42,6; 49,6).

Ngày chung thẩm, sẽ có hai số phận dành cho người công chính và tội nhân, như lịch sửXuất hành* đã tình bày bằng một thí dụ điển hình: tối tăm dành cho kẻ ác, nhưng đối với thánh nhân sẽ là ánh sáng huy hoàng (Kn 17, 1-18,4). Các thánh nhân sẽ rạng ngời như bầu trời và các tinh tú; ngược lại, kẻ ác sẽ đời đời ở trong sợ hãi của bóng tối Shêol (Đn 12,3; x. Kn 3,7). Viễn tượng đó hướng đến một thế giới được biến đổi theo hình ảnh Thiên Chúa của ánh sáng.

 TÂN ƯỚC

 I-ĐỨC KITÔ, ÁNH SÁNG THẾ GIAN

1-Hoàn thành lời hứa.

Trong Tân ước, ánh sáng thời cánh chung được các sứ ngôn hứa đã trở thành sự thật: khi Đức Giêsu bắt đầu giảng dậy ở Galilêa, thì sấm ngôn Isaia 9,1 được hoàn thành (Mt 4,16). Khi Người sống lại như lời các sứ ngôn, chính là để “loan báo ánh sáng cho dân tộc và các dân ngoại” (Cv 26,23). Những bản thánh ca mà Luca chép lại cũng ca tụng Người, từ thời niên thiếu, là mặt trời mọc lên chiếu soi những kẻ ngồi trong tối tăm (Lc 1,78t; x. Mal 3,20; Is 9,1; 42,7), là ánh sáng chiếu soi chư dân (Lc 2,32; x. Is 42,6; 49,6). Ơn gọi của Phaolô, người loan báo Tin Mừng cho lương dân, cũng sẽ nằm trong đường hướng của các bản văn sứ ngôn này (Cv 13,47; 26,18).

 2-Đức Kitô được Mạc khải như là ánh sáng.

Tuy nhiên, nhất là qua ngôn ngữ và hành động của Người, chúng ta thấy Đức Giêsu tự Mạc khải là Ánh Sáng thế gian. Về điểm này, những phép lạ chữa kẻ mù (x. Mc 8,22-26) mang một ý nghĩa đặc biệt, như Gioan đã nhấn mạnh khi kể lại câu chuyện chữa anh mù từ lúc mới sinh (Ga 9). Lúc đó, Đức Giêsu tuyên bố: “Khi Ta còn ở thế gian, Ta là Ánh Sáng thế gian” (9,5). Nơi khác, Người còn giải thích: “Ai theo Ta không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng sự sống” (8,12); “Ta là Ánh Sáng đã đến trong thế gian, để ai tin vào Ta sẽ không đi trong tối tăm” (12,46). Tác động soi sáng tâm linh của Người phát xuất từ bản tính của Người: Người chính là Lời* của Thiên Chúa, là sự sống* và ánh sáng cho con người, là Ánh Sáng đích thực chiếu soi mọi người khi Người đến trong thế gian (1,4.9). Thế nên, bi kịch đời Người luôn là cuộc chiến giữa ánh sáng và tối tăm: Ánh sáng chiếu soi trong tối tăm (1,4), và thế gian* tội lỗi cố gắng dập tắt ánh sáng, vì loài người ưa thích tối tăm hơn là ánh sáng bởi công trình* họ thực hiện là xấu xa (3,19). Sau cùng, giờ khổ nạn, khi Giuđa rời nhà Tiệc Ly để nộp Đức Giêsu, Gioan có ý ghi chú: “Lúc đó, trời đã về đêm*” (13,30); và khi bị bắt, Đức Giêsu đã tuyên bố: “Bây giờ là giờ của các ngươi, và lời thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22,53).

 3-Đức Giêsu biến hình.

Trong suốt cuộc sống trần gian của Đức Giêsu, nhục thể* khiêm hạ của Người che khuất Ánh Sáng thần linh nơi Người. Tuy nhiên, có một trường hợp ánh sáng ấy đã tỏ hiện choc các chứng nâhn ưu tiên trong một thị kiến khác thường: đó là sự kiện Biến hình*. Khuôn mặt sáng ngời, y phục* rực rỡ như ánh sáng ấy (Mt 17,2ss) không còn thuộc về thân phận phải chết củ nhân loại: chúng báo trước trạng thái Đức Kitô Phục sinh, Đấng sẽ hiện ra với Phaolô trong ánh sáng chói lòa (Cv 9,3; 22,6; 26,13); và nói lên cách diễn tả biểu trưng vẫn dùng riêng cho những cuộc thần hiển trong Cựu ước. Thực thế, ánh sáng chiếu ngời trên khuôn mặt* Đức Kitô là chính vinh quang của Thiên Chúa (x. 2Cr 4,6): chính trong tư cáchCon Thiên Chúa* mà Người là “ánh rạng ngời của vinh quang Ngài”(Dt 1,3). Như thế, một phần yếu tính Thiên Chúa được Mạc khải qua Đức Kitô Ánh Sáng. Chẳng những Thiên Chúa “ngự trong ánh sáng vô phương đạt tới” (1Tm 6,16); chẳng những người ta có thể gọi Ngài là “Cha ánh sáng”(Gc 1,17), nhưng còn như thánh Gioan giải thích “Ngài là cính Ánh Sáng và trong Ngài không có tối tăm” (1Ga 1,5). Chính vì vậy, tất cả những gì là ánh sáng, từ việc tác thành ánh sáng ngày đầu tiên (x. Ga 1,4) cho đến ánh sáng Đức Kitô soi sáng tâm linh chúng ta (2Cr 4,6) đều phát khởi từ Ngài. Và tất cả những gì xa lạ với ánh sáng đó đều thuộc lãnh vực của tối tăm: tối tăm của đêm thâu, tối tăm của Shêol và sự chết, tối tăm của Satan.

 II-CON CÁI ÁNH SÁNG

1-Loài người giữa tối tăm và ánh sáng.

Việc Mạc khải Đức Kitô là Ánh Sáng thế gian làm nổi bật cuộc xung đột giữa tối tăm và ánh sáng, không phải trong viễn tượng siêu hình, nhưng trên bình diện luân lý: cũng như sự thiện và công chính, ánh sáng xác định phẩm tính cho lãnh vực của Thiên Chúa và của Đức Kitô; cũng như sự ác và vô đạo, tối tăm xác định phẩm tính của lãnh vực Satan* (x. 2Cr 6,14t). Mặc dầu, để quyến rũ loài người, Satan đôi khi trá hình thành thiên thần sáng láng (11,14). Con người bị giằng co giữa hai thái cực và phải chọn lựa để thành “con cái tối tăm” hoặc thành “con cái ánh sáng”. Phái Qumrân đã sử dụng hình ảnh này để diễn tả cuộc chiến*cánh chung. Đức Giêsu đã dùng hình ảnh ấy để phân biệt thế gian* hiện tại với Vương quốc* Người sáng lập: dưới mắt Người, loài người được chia thành “con cái thế gian” và “con cái ánh sáng” (Lc 16,8). Khi Đức Kitô Ánh Sáng xuất hiện, loài người được phân làm hai phe: những kẻ làm dữ sẽ trốn chạy ánh sáng, để công trình* của chúng không bị lộ tẩy; còn những kẻ làm lành trong chân lý sẽ đến cùng ánh sáng (Ga 3,19tt) và tin vào Ánh Sáng để trở nên con cái ánh sáng (Ga 12,36).

 2-Từ tối tăm vào ánh sáng.

Đã sinh ra, mọi người đều thuộc cõi tối tăm, nhất là lương dân “trí khôn bị mù tối” (Ep 4,18). Chính Thiên Chúa “đã gọi chúng ta từ tối tăm vào ánh sáng huyền diệu của Ngài” (1Pr 2,9). Lôi chúng ta ra khỏi vương quyền tối tăm, Ngài đưa chúng ta vào Vương quốc của Con Ngài để dự phần cơ nghiệp dành cho các Thánh trong ánh sáng (Cl 1,12t): đó là Ân sủng chung cục mà chúng ta nhận lãnh khi chịu phép rửa, lúc ấy “Đức Kitô chiếu ngời trên chúng ta” (Ep 5,14) và chúng ta được “sáng soi” (Dt 6,4). Xưa kia chúng ta là tối tăm, nhưng nay trong Chúa, chúng ta là ánh sáng (Ep 5,8). Điều này vạch định cho chúng ta một đường hướng phải theo: “sống như con cái ánh sáng” (Ep 5,8; x. 1Th 5,5).

 3-Cuộc sống con cái ánh sáng.

Sống như con cái ánh sáng đó là điều Đức Giêsu đã truyền dạy (x. Ga 12,35t): đối với con người, điều quan trọng là đừng để lu mờ ánh sáng nội tâm của mình, cũng giống như phải săn sóc con mắt, là đèn* soi thân xác (Mt 6,22t ss), Phaolô thường xuyên nhắn nhủ điều ấy. phải mặc lấy khí giới ánh sáng và vất bỏ những việc tối tăm (Rm 13,12t) để Ngày của Chúa* khỏi bắt chộp được chúng ta (1Th 5,4-8). Chúng ta có thể dễ dàng tóm gọn tất cả nền luân lý vào viễn tượng này: “hoa quả của ánh sáng” là mọi việc tốt lành, công chính và chân thật; những “công việc vô bổ của tối tăm” gồm đủ mọi thứ tội lỗi (Ep 5,9-14). Thánh Gioan cũng không nói gì khác hơn. Phải “bước đi trong ánh sáng” để được hiệp thông với Thiên Chúa, Đấng là ánh sáng (1Ga 1,5tt). Tiêu chuẩn, chính là Tình yêu* huynh đệ: nhờ đó người ta nhận ra mình ở trong tối tăm hay trong ánh sáng (2,8-11). Kẻ sống như thế, tức sống như con cái đích thực của ánh sáng, chiếu giãi cho mọi người ánh sáng thần linh mà họ trở thành kẻ thụ thác. Đến lượt họ trở thành ánh sáng thế gian (Mt 5,14tt), họ đáp lại sứ mệnh mà Đức Kitô đã trao phó.

 4-Tiến về ánh sáng vĩnh cửu.

Dấn thân vào một con đường như thế, con người có thể hy vọng sự biến hình lạ lùng mà Thiên Chúa đã hứa cho những kẻ công chính trong Vương quốc Ngài (Mt 13,43). Thật vậy,Giêrusalem* thiên quốc, nơi cuối cùng họ sẽ tới, sẽ phản chiếu ánh sáng thần linh, nhờ các bản văn của các sứ ngôn đã loan báo (Kh 21,23tt; x. Is 60); lúc đó những kẻ được chọn, sẽ chiêm ngắm nhan Thiên Chúa, và được ánh sáng Ngài chiếu dọi (Kh 22,4t). Đó là niềm hy vọng của con cái ánh sáng; đó cũng là kinh nguyện mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa để cầu cho những phần tử đã vĩnh biệt cõi trần: “Xin đừng để linh hồn các tín hữu đã ly trần bị trầm luân trong tối tăm, nhưng xin cho tổng lãnh Thiên Thần Micae đưa họ vào ánh sáng thành thiện! Xin cho ánh sáng vĩnh cửu chiếu soi trên họ!” (Phụng vụ lễ ang táng).

AF&PG

 →bóng – chân lý Cựu ước 3; Tân ước 3 – chết Tân ước 12 – cứng lòng II 1 – dầu – đám mây – đèn – Lời Chúa Tân ước I 1 – lửa – Mạc khải – Ngày của Chúa Tân ước III 1 – Phép – Rửa IV 4 – sự sống IV 2 – thấy – tinh tú 4 – tỉnh thức I 2 – tội IV 2 a – trắng – vinh quang.

 

 →bữa ăn IV – Chồng / vợ Tân ước 3 b c – trắng 2 – vương quốc Tân ước II 3 – y phục II 4.

 ÂU YẾM

 Ruột, lòng dạ (rahamim) số nhiều của réhém là bụng mẹ, có nghĩa là sự âu yếm: sự âu yếm của mẹ đối với con (1V 3,26) của loài người đối với con cái và đồng bào của mình (St 43,30), nhất là của Thiên Chúa đối với tạo vật của Ngài.

 1-Tình âu yếm của Thiên Chúa.

Quả thực, Thiên Chúa là Cha* (Tv 103,13) và là mẹ* (Is 49,14t; 66,13). Tình âu yếm của Ngài đã tạo dựng nên con cái theo hình ảnh mình vượt xa tình âu yếm của loài người (St 1,26; 5,1-3); tình âu yếm ấy được ban phát nhưng không (Đn 9,18), luôn luôn để ý săn sóc (Hs 11,8; Gr 31,20; Is 63,15), bao la (Is 54,7; Br 2,27; Hc 51,3) vô tận (Tv 77,10; Ne 9,19.27.31), đổi mới mỗi ngày (Ai 3,22t), tuyệt đối trung thành (Tv 25,6; Lc 1,50), tỏ ra cho hết mọi người không trừ ai (Hc 18,12; Tv 145,9), đặc biệt cho những kẻ bạc phước, những người mồ côi (Hs 14,4), và có thể đoàn tụ hết mọi tín hữu trung thành lại ngay cả bên kia cõi chết (2M 7,29).

Tình yêu đó không có chi ngăn cản nổi, được biểu lộ ra bằng mọi thứ ân huệ (Is 63,7), ơn sự sống, (Tv 119,77.156), ơn Cứu rỗi, ơn giải thoát (Đnl 30,3; Dcr 1,16) và ngay cả bằng những thử thách có mục đích giáo dục (Ai 3,32; Kn 11,9). Nhưng trên hết, chính sự tha thứ* mới Mạc khải cho thấy tình âu yếm vô biên của Chúa và lòng nhân từ* Ngài (Is 55,7; Đn 9,9). Tất cả các tội nâhn, dù là toàn dân (Hs 2,25) hay từng cá nhân (Tv 51,3) đều luôn có thể và phải tin tưởng vào lòng lân tuất lạ lùng ấy, chắc chắn không phải để phạm tội nhiều hơn (Hc 5,4-7), nhưng để trở về với Chúa Cha đang chờ đón họ (Tv 79,8; Lc 15,20).

“Thiên Chúa âu yếm và dễ thương”, đó là danh hiệu đầu tiên mà Giavê đòi cho mình và sau sách Xuất Ai cập (34,6) các sách Đệ Nhị Luật (4,31) Thánh Vịnh (85,15; 103,8; 111,4; 145,8), các sứ ngôn (Ge 2,13; Gn 4,2), các sách Lịch sử (2Sk 30,9; Ne 9,17.31) và các hiền triết (Hc 2,11; Kn 15,1) sẽ ghi nhận danh hiệu ấy cho Ngài. Trừ một lần duy nhất được áp dụng cho con người (Tv 112,4), tĩnh từ “âu yếm” được dành riêng cho Thiên Chúa (x. Tv 78,38; 116,5). Vậy người tín hữu có thể nương tựa vào Chúa mình như con thơ dựa vào mẹ (Tv 131) và thái độ làm con ấy sẽ là thái độ của Đức Giêsu, trong Người và nhờ Người tình âu yếm của Thiên Chúa được Mạc khải trọn vẹn.

 2-Tình âu yếm của Thiên Chúa trong và qua Đức Kitô.

Lòng lân tuất của Thiên Chúa tỏ hiện nơi Chúa Kitô (Lc 1,78; Tt 3,4-7); nơi Người Chúa Cha đầy tình thương xót đã Mạc khải chính mình (2Cr 1,3; Rm 12,1), Ngài đã cho chúng ta một cớ tối hậu về tình âu yếm của Ngài qua việc sống lại của Chúa Con, bảo chứng sự sống lại của chúng ta (Ep 2,4-6; 1Pr 1,3).

Quả thực Đức Giêsu không những thụ hưởng, nhưng còn lấy tình âu yếm ấy làm của mình và đổ tràn xuống trên chúng ta: Tựa như Thiên Chúa đứng trước đàn chiên khốn nạn của Ngài (Ez 34,16), Đức Giêsu đã động lòng thương xót trước bầy chiên đói khát Tin Mừng (Mc 6,34) như đói cơm bánh (8,2); Người run lên vì lòng trắc ẩn với những kẻ bạc phước, những người cùi (Mc 1,41), mù lòa (Mt 20,34) những bà mẹ mất con hay những người chị mất em (Lc 7,13; Ga 11,33); cũng bền vững như tình âu yếm của Thiên Chúa, tình âu yếm của Đức Giêsu đã chiến thắng tội lỗi và đi đến độ tha thứ cho tội nhân (Lc 23,34): những kẻ bất hạnh nhất.

 3-Tình âu yếm trong và qua người tín hữu

Thiên Chúa muốn tình âu yếm của Ngài thấm nhập vào tâm can con người (Dcr 7,9; Tv 112,1.4; Hc 28,1-7). Vì loài người không thể nào chiếm hữu được tình âu yếm ấy, nên Thiên Chúa đã ban nó cho họ (Dcr 12,10) như món quà cưới (Hs 2,21) trong Giao ước mới đã được Đức Kitô niêm ấn. Vì đã trở thành con của Thiên Chúa làm người, tình âu yếm của những người được tái sinh làm con Thiên Chúa trong Đức Giêsu. Thánh Phaolô chỉ có một ước vọng: lấy những tâm tình của Đức Kitô làm của mình (Ph 1,8; Phm 20). Cũng thế, Ngài mời gọi các Kitô hữu hãy “mặc lấy lòng thương xót” của Thiên Chúa và của Con Ngài (Cl 3,12; Ep 4,32; x. 1Pr 3,8). Các thánh sử cũng nói lên ý đó: khép kín lòng mình lại với anh em là tự dứt mình khỏi Tình yêu của Chúa Cha (1Ga 3,17); từ chối tha thứ cho đồng loại là từ chối bỏ sự tha thứ của Thiên Chúa (Mt 18,23-35). Tất cả con cái Thiên Chúa phải bắt chước Cha mình (Lc 6,36), để như Ngài, họ cũng có một trái tim biết rung động và biết xót thương tha nhân (Lc 15,20.31), nghĩa là đối với hết mọi người không trừ ai, giống như tình yêu kiểu mẫu của người Samaria nhân hậu (Lc 10,33), không chỉ biểu lộ bằng tình cảm mà còn trong hành động nữa. Có như thế, họ mới vào được trong tình âu yếm thần thánh, phát xuất từ Chúa Cha, qua Chúa Con và nhờ Chúa Thánh Linh Tình yêu (Ph 2,1) và chính Tình yêu thần thánh ấy sẽ đưa họ vào cõi hạnh phúc bất diệt, thoát khỏi tội lỗi và sự chết, như niềm hy vọng được diễn tả trong kinh nguyện thánh thể của sách lễ Rôma: “Cả chúng tôi nữa là những người tội lỗi, hy vọng vào lượng từ bị (tình âu yếm) vô tận của Chúa…”.

 PEB

 →an ủi – Ân sủng – cha III 3 – mẹ II 1 – nhân từ – sữa 1 – tha thứ – Tình yêu – trẻ nhỏ/con cái I.

Comments are closed.