SEDES SAPIENTIAE – Nguyên tắc huấn luyện tổng quát

0

SEDES SAPIENTIAE

Trích Tông Hiến Đức Thánh Cha Pio XII nói về nguyên tắc tổng quát để đào tạo những linh hồn được ơn Thiên Triệu ở bậc trọn lành – và để hướng dẫn những ai có phận sự huấn luyện những linh hồn ấy.

Trích “Nữ Tu đọc Văn Thư Tòa Thánh”

Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn 1969, Văn thư XIV, tr. 95-107)

Nữ Tu viện Đaminh Bùi Chu (Tam Hiệp)

CHÚ Ý: Trong Tông hiến này, các chữ Tu sĩ hiểu là người Dòng. Các chữ Giáo sĩ hiểu là Linh mục

CẬY Ở MẸ MARIA
1 – Tòa Đấng Khôn ngoan, Mẹ Thiên Chúa của mọi khoa học, và Nữ Vương các Thánh Tông đồ, chính là rất Thánh Nữ Trinh Maria mà Ta đã dành trót một năm để kính Người, Đấng ấy với một danh hiệu đặc biệt, cũng phải được coi là Mẹ và là Thầy của tất cả những ai vừa ôm ấp bậc trọn lành, vừa muốn phục vụ trong đạo binh Tông đồ của Chúa Kytô Thầy Cả Thượng Phẩm, để lo việc gầy dựng và phát triển, cách hữu hiệu ở nơi họ, ơn Thiên Triệu cao cả, một trật vừa là Tu sĩ vừa là Linh mục vừa là Tông đồ, tuyệt đối họ cần phải được dẫn dắt và hộ phù bởi Đấng đã được đặt làm “Đấng thông ơn Thánh” và đáng được tôn là Mẹ, là Nữ Vương các Linh mục và các Tông đồ. Vì thế, Ta khẩn nài Người: từ trời cao, phù hộ soi sáng Ta, để ấn định những quy tắc sau đây, và xin Người hộ trợ những ai có bổn phận thực thi những quy tắc ấy.
I. – ƠN THIÊN TRIỆU
2 – Một hồng ân Chúa quan phòng, là luôn luôn qua các thời đại, Chúa Kytô Đấng Cứu Thế, với tiếng nói huyền diệu trong thâm tâm, đã làm cho các linh hồn Chúa yêu riêng, cảm thấy lời mời gọi mà Chúa đã tận lợi bảo người thanh niên hỏi Chúa về sự sống đời đời: “Ngươi hãy đến và theo Ta” (Matth 19,21). Và cũng luôn luôn trong số những người đã nhận lời Chúa mời gọi và đã ý thức lặp lại lời tuyên bố của Thánh Tồng đồ Cả (Phêrô): “Này đây chúng con bỏ tất cả để theo Thầy”(Matth 19,25). Chúa Giêsu đã tuyển rất nhiều người làm “thợ chài người” và đã chọn họ làm thợ, sai đi gặt ruộng lúa Người.
Phối hiệp chức Linh mục với sứ vụ Tông đồ và bậc trọn lành
3 – Ngày nay cũng như ngày xưa, luôn luôn vẫn có sự phối hiệp trọn lành (tức bậc Dòng) với chức Linh mục và sứ vụ Tông đồ. Ngày xưa phần nhiều các đan sĩ không có chức Linh mục; Và nếu có một thiểu số thấy phải cưỡng bách chịu chức Linh mục để lo việc Truyền giáo cho các dân ngoại, thì coi như họ không còn giữ được luật Dòng nữa. Về sau các Thầy Dòng “hành khất”, mặc dầu rất hăng say về việc Tông đồ, Hiến Pháp cũng không buộc chịu chức Linh mục – chính Thánh Tổ phụ (Phanxicô khó khăn) cũng không chịu chức Linh mục – Trái lại, các kinh sĩ Dòng và nhất là các người Dòng Giáo Sĩ, vì ơn Thiên Triệu đặc biệt Chúa ban, đã chịu chức và thi hành nhiệm vụ Linh mục. Về sau, có rất nhiều Hội Dòng và Tu Hội cũng bắt chước các Đấng ấy, vừa sống chung (ở bậc Dòng) vừa chịu chức Linh mục. Và ngày nay còn hơn nữa – vì Chúa luôn luôn quan phòng cho nhu cầu mọi thời đại – nên có cả những Tu Hội ngoài đời gồm toàn những người có chức Linh mục.
Đàng khác, hiện nay, cả đến những Dòng kỳ cựu nhất trong Giáo Hội La Tinh – những Dòng không hẳn là Dòng Giáo dân, tất cả các Tu sĩ – trừ những người ở bậc trợ sĩ hay quy sĩ – đều có ý chịu chức Linh mục, và còn buộc những ai cầm quyền cai trị Dòng phải chịu chức Linh mục nữa.
4 – Vì thế, ngày nay Giáo Hội đang dùng rất nhiều thừa tác viên, vừa lo theo đường trọn lành thực thi các lời khuyên Phúc Âm, vừa cho toàn phận sự Linh mục. Đoàn người đông đảo ấy gọi là Giáo sĩ Dòng ở sát với đoàn Giáo sĩ Triều hay địa phận. Cả hai chỉ đua nhau phát triển trong tình huynh đệ và sẵn sàng thịnh tình giúp đỡ lẫn nhau dưới quyền tối cao duy nhất của Đức Giáo Hoàng, tuy vẫn hoàn toàn phục quyền các Đức Giám Mục Địa phương.
Cần phải điều chỉnh việc học.
5 – Ai cũng thấy rằng: để hàng Giáo sĩ Dòng được chắc chắn đạt tới hai mục đích riêng của họ (là Tu sĩ và Giáo Sĩ) cần phải có những quy tắc thực khôn ngoan để hướng dẫn và giúp việc chuẩn bị đào luyện cho họ nên Tu sĩ Giáo sĩ và Tông đồ.
Kể cho đến nay, nhu cầu ấy đã được đáp ứng bởi Hiến Pháp của mỗi Hội Dòng cũng như mỗi Tu Hội. Những Hiến Pháp ấy đã điều khiển việc huấn luyện thanh thiếu niên và những ai phải lo tổ chức việc học hành. Trước đây cũng vẫn không thiếu các sắc lệnh và Huấn thị của Tòa Thánh – Hơn nữa, đã từ lâu, người ta còn mong có những quy định Tổng quát, hệ thống hơn, đầy đủ hơn, được Tòa Thánh bảo đảm, và bắt buộc mọi người mọi nơi phải giữ, để công việc hệ trọng nhất đến ích lợi các linh hồn, được bảo đảm, được phát triển may mắn, và kiện toàn với sự cố gắng thích đáng và bền bỉ.
6 – Dĩ nhiên một công việc tối hảo như thế, đòi Tòa Thánh phải hết sức quan tâm. Các Chủng viện của hàng Giáo sĩ Địa phận, vì là Học viện chung của Giáo Hội, nên phải được Tòa Thánh thực sự kiểm soát qua Thánh Bộ Chủng viện và Đại học thế nào, thì các trường riêng của các Dòng đã được Tòa Thánh thừa nhận và châu phê, cũng là các trường chung và thuộc quyền Thánh Bộ Tu sĩ như vậy.
7 – Chính vì những lý do ấy mà ngay từ năm 1944, trong chính Thánh Bộ này, Ta đã lấy quyền Tông đồ, thiết lập một ủy ban riêng, hay một Hội Đồng, gồm những vị tinh thông lão luyện, để cứu xét tất cả những vấn đề, những công việc có liên quan bất cứ cách nào đến việc giáo dục hàng Giáo sĩ và Tu sĩ, đến việc rèn luyện văn chương khoa học và cả đến việc huấn luyện Mục vụ cho các Thỉnh tu, Tập sinh và các Tu sĩ trẻ của tất cả các Hội Dòng, kể cả các Tu hội sống chung không có lời khấn.
Ủy ban đó gồm những vị tài ba kinh nghiệm thuộc nhiều Dòng nhiều nước, đã nghiên cứu các tài liệu có sẵn ngay từ khi ấy về vấn đề này. Rồi sau khi đã thu lượm được ý kiến của khắp nơi do thư thỉnh cầu gửi đến các Bề trên cả các Dòng, ủy ban này đã hoàn thành được một việc vĩ đại là nhóm họp Đại Hội Đồng các Dòng năm 1950. Ủy ban đã lợi dụng các đề nghị thích đáng của Đại Hội Đồng, đưa cân nhắc với các dự án đã soạn thảo trước rồi sửa chữa cho xác đáng; Và đã đệ lên Ta châu phê tất cả.
8 – Vậy bây giờ Ta công bố một số định luật, nhưng trước tiên, Ta phải nói đến những guông thước và những nguyên tắc căn bản để chuẩn bị và đào luyện các sinh viên nên Tu sĩ, Giáo sĩ và Tông đồ đã, và buộc mọi người phải luôn luôn lưu ý đến.
II. – NHỮNG YÊU TỐ LÀM NÊN ƠN THIÊN TRIỆU
9 – Trước hết, Ta chắc ai cũng biết rằng: nền tảng của đời sống Tu sĩ, Giáo sĩ và Tông đồ – nghĩa là ơn Thiên Triệu, phải cần có hai yếu tố chính: một là yếu tố của Chúa, hai là yếu tố của Giáo Hội – yếu tố của Chúa tức là ơn Chúa kêu gọi. Điểm này phải nói là thiết yếu để làm Tu sĩ và Linh mục, đến nỗi nếu thiếu nó, là thiếu cả nền móng cho một tòa nhà đứng. Vì kẻ Chúa không gọi, sẽ không có ơn Chúa hướng dẫn và trợ lực
Phải quyết chắc chắn rằng: có ơn Chúa kêu gọi thực sự cho bậc, vì chính Chúa là Đấng đã đặt ra các bậc, và chính Người là Đấng ban phát mọi ơn, mọi tài năng tự nhiên cũng như siêu nhiên cho hết mọi bậc – Vậy lại càng phải nói đến thế nào nữa vế ơn Thiên Triệu làm Tu sĩ và Giáo sĩ, vì đó là một ơn kêu gọi rực rỡ cao cả tràn đầy những đặc ân tự nhiên và siêu nhiên: ơn đó không có thể bởi một nguồn nào khác được, ngoài Thiên Chúa là “nguồn mạch sự sáng” mà tất cả mọi ơn cao quý, mọi ơn trọn lành điều do bởi Người mà ra (Jac 1,17).
10- Còn về việc yếu tố thứ hai của ơn Thiên Triệu là Tu sĩ và Linh mục, sách bổn Roma dạy: Những ai được Bề trên chính thức của Giáo Hội gọi, mới kể là người được Chúa gọi. Điều này chẳng những không có gì nghịch mà còn có liên quan mật thiết với điều Ta đã nói về việc Chúa gọi nữa. vì ơn Chúa gọi làm Tu sĩ và Giáo sĩ là ơn Chúa đặt một người vừa sống công khai một đời sống thánh thiện, vừa thi hành một chức vụ theo phẩm trật trong Giáo Hội, một tổ chức hữu hình và có phẩm trật – ơn kêu gọi ấy phải được xác định, công nhận và điều khiển do Bề trên hữu quyền theo phẩm trật mà Chúa đã trao quyền cai trị Giáo Hội Chúa.
Phải biết tôn trọng Ơn Thiên Triệu.
11- Tất cả những ai có phận sự tiếp nhận và xem xét ơn Thiên Triệu ấy, phải chú ý vào các điểm trên đây – Vì thế, không bao giờ được ép buộc ai, bất cứ bằng cách nào, lên chịu chức Linh mục hay khấn Dòng – Cũng không được nhận ai khi không thấy rõ họ có dấu Chúa gọi – cũng không được cho ai nhập hàng Giáo sĩ khi thấy chắc họ chỉ được Chúa gọi ở Bậc Dòng mà thôi – Cũng không được cưỡng bách hay dụ dỗ ai sang bậc Giáo sĩ triều, khi họ được Chúa gọi ở bậc Dòng – Cũng không được loại ai khỏi bậc Linh mục, nếu thấy họ có dấu chắc được Chúa gọi.
Vậy, dĩ nhiên ở nơi những người muốn chu toàn nhiệm vụ Giáo sĩ trong bậc trọn lành (tức bậc Dòng) – mà phải được tổng hợp tất cả những gì thiết yếu cho ơn kêu gọi phức hợp vừa Tu sĩ, vừa Linh mục, vừa Tông đồ. Vì thế, tất cả những đặc ân, đặc tính cần thiết để chu toàn nhiệm vụ thánh thiện cao cả ấy, phải được thấy rõ ở nơi họ.
III. – NHIỆM VỤ CỦA CÁC NHÀ GIÁO DỤC
12 – Đàng khác, ai cũng hiểu rằng, mầm ơn Thiên Triệu, và các đức tính ơn Thiên Triệu đòi phải có, ngay từ khi chớm nở, đã cần phải có sự giáo dục rèn luyện, để được phát triển và cứng cát già giặn. không có gì có thể hoàn toàn được ngay từ lúc mới bắt đầu phát sinh, phải sau bao nhiêu tiến bộ tiếp nối mãi mới được. Trong lúc tiến hóa như thế, muốn chắc chắn được mục đích đã nhằm, phải để ý đến hết mọi điều: đến chính Người được Chúa gọi cũng như đến điều kiện không gian và thời gian – Vì thế, việc đào luyện các Tu sĩ trẻ và các Tập sinh phải được hoàn toàn đích đáng, sáng suốt, vững chắc, hoàn bị, thích hợp cách khôn ngoan với nhu cầu bên trong cũng như bên ngoài của thời đại, phải được kiên trì, hướng dẫn và coi sóc cẩn thận, không phải cứ cho người muốn sống trong bậc trọn lành là bậc Dòng mới phải làm như thế, phải cả những người muốn làm Linh mục và Tông đồ nữa.
13 – Đảm đang được công việc đó, kinh nghiệm cho hay: chỉ có những người vào số ưu tuyển: đặc biệt về Giáo lý, khôn ngoan, sành tâm lý, có kinh nghiệm dụng nhân xử thế, và các đức tính tự nhiên khác – cũng còn phải là những người đầy ơn Chúa Thánh Thần, sáng ngời gương nhân đức thánh thiện trước mặt các Tu sĩ trẻ – vì ai cũng thấy rằng: Trong suốt kỳ đào luyện, những thanh thiếu niên ấy được ảnh hưởng vì các việc nhân đức đứng đắn hơn là vì lời nói.
14 – Để chu toàn nhiệm vụ nặng nề ấy, các nhà giáo dục phải coi là luật trọng nhất, luật mà chính Chúa đã tuyên bố trong Phúc Âm: “Ta là Đấng chăn chiên lành, Đấng chăn chiên lành bỏ mạng sống vì con chiên… Ta là Đấng chăn chiên lành, Ta biết chiên Ta, và chiên Ta biết Ta”(Ga 10,14) – Luật mà Thánh Benado đã nói rõ: “Đối với Bề dưới, Bề trên phải biết là người mẹ, chứ không phải là ông chủ: phải lo cho họ mến hơn là sợ”. Chính Công Đồng Tridentino cũng thiết tha khuyên các Bề trên trong Giáo Hội: “Phải nhớ mình có bổn phận chăn dắt, chứ không phải là đập đánh – làm Bề trên không phải là áp chế người dưới, nhưng là để yêu thương họ như con cái, như em út – Phải khuyên bảo làm sao để họ khỏi lỗi hầu tránh được hình phạt họ phải chịu. Nếu chẳng may vì yếu đuối họ sa phạm lỗi gì, thì phải giữ lời Thánh Tông đồ dạy: “Hãy thuyết phục, van lơn, đe nẹt, với hết sức dịu dàng, và nhẫn nại”. Vì để cải hóa, sự dịu dàng hiệu nghiệm hơn nghiêm khắc, khuyên dụ hiệu nghiệm hơn đe roi, tình yêu hiệu nghiệm hơn sợ hãi. Giả sử như vì lỗi nặng quá mà cần phải phạt, thì phải dùng sự thẳng nhặt cách nhân từ, sự công bằng cách thương xót, sự nghiêm khắc cách dịu dàng: để giữ vững kỷ luật chung ích lợi và cần thiết, mà không gay gắt quá, để người bị phạt được sửa mình, hay ít là để làm gương cho người khác khỏi lỗi”.
Mục đích và phương pháp Giáo dục.
15 – Hơn nữa, những ai bất cứ với danh nghĩa nào, có nhiệm vụ huấn luyện Tu sĩ, hãy nhớ rằng: việc giáo dục huấn luyện ấy, phải tuần tự hòa hợp với hết mọi phương cách thích hợp, và phải bao quát cả con người về mọi mặt ơn Thiên Triệu, làm sao để họ trở nên đích thực và hoàn toàn một người trọn hảo trong Chúa Giêsu Kytô (Col 1,28). Còn về phương cách huấn luyện, dĩ nhiên chẳng những không được coi thường những gì thiên nhiên và sự tiến bộ ngày nay cung cấp, miễn là tốt – mà còn phải lợi dụng mà khôn ngoan phải chấp nhận. Song không còn lầm lạc nào bằng, trong việc huấn luyện các hiến sinh ưu tú, chỉ căn cứ nhất các phương thế tự nhiên, mà mượn lẽ coi thường, hay bỏ các phương thế siêu nhiên. Trong khi để được sự trọn lành của bậc Dòng hay bậc Giáo sĩ là bậc rất có hiệu quả cho bậc Tông đồ, thì các phương thế siêu nhiên như các Bí Tích, việc cầu nguyện, hãm mình và các việc khác tương tự, chẳng những là việc cần thiết mà còn là việc chủ yếu phải làm trước hết.
16 – Tuy phải giữ thứ tự các phương thế như vậy, nhưng tuyệt đối không được khinh thị tất cả những gì có thể có lợi cho việc kiện toàn thân xác và linh hồn, để luyện các đức tính tự nhiên và rèn cho con người nên cứng cáp hoàn hảo, để rồi đặt việc huấn luyện siêu nhiên cho Tu sĩ hay Giáo sĩ trên nền móng chắc chắn của đức tính tự nhiên và văn minh nhân loại – Vì người ta sẽ tìm thấy đường tới Chúa cách dễ dàng chắc chắn hơn, nếu họ thấy rõ trong con người Linh mục, sự nhân từ và tình thương của Chúa Cứu Thế đối với nhân loại (Tit 3,4).
17 – Mặc dầu, ai cũng phải chú ý đến việc huấn luyện theo nhân cách tự nhiên của con người Tu sĩ và Giáo sĩ, nhưng chắc chắn rằng: Trong việc huấn luyện ấy, việc thánh hóa linh hồn là việc siêu nhiên phải làm trước hết. Đã là Kytô hữu, ai cũng phải nhận lời Thánh Tông đồ quả quyết:“Điều Chúa muốn là anh em phải nên thánh” (1 Thess 4,3), thì càng phải nói thế nào hơn nữa với người chẳng những đã chịu chức Linh mục, mà còn khấn theo sự trọn lành Phúc âm, người mà vì nếp sống đã trở nên dụng cụ thánh hóa tha nhân, người mà nhờ ở sự thánh thiện của họ, một số đông các linh hồn được cứu rỗi, và nước Chúa được mở rộng.
18 – Chớ gì tất cả những ai đã hiến thân sống theo bậc trọn lành Phúc âm đều nhớ rõ và tâm niệm trước mặt Chúa rằng: họ không đủ bổn phận với lời Khấn, nếu họ chỉ tránh được những tội trọng, hay nhờ ơn Chúa giúp, tránh được cả tội nhẹ nữa, hay nếu chỉ vì tại bên ngoài mà vâng lời Bề trên, hay giữ lời khấn và những điều buộc lương tâm, hay hơn nữa chỉ giữ được Quy luật, Hiến pháp của họ như Giáo Hội đòi ở Giáo luật: “Hết thảy mọi Tu sĩ, Bề trên cũng như bề dưới phải … sống theo Quy luật, Hiến pháp và gắng nên trọn lành trong bậc mình” (c.593). Tất cả những điều đó, họ phải hết sức thành tâm chu toàn với một tình yêu nồng nàn, chẳng những vì cần thiết mà còn vì lương tâm nữa (Rm 13,5). Bởi vì cho được tới đỉnh sự thánh thiện và có thể hiến thân cho mọi người như mạch suối không cạn của Đức Ái Công Giáo, họ phải như bị thiêu hủy vì lửa mến Chúa yêu người và đầy tràn các nhân đức mới được.
IV. – VỀ TRÍ DỤC
19 – Một khi đã lo việc thánh hóa linh hồn rồi, phải lo ngay đến việc trí dục và mục vụ cho rất cẩn thận. vì thấy rõ sự quan hệ của vấn đề, và bổn phận trọng trách tối cao của Ta đòi, nên Ta muốn giải rộng các nguyên tắc về huấn luyện này, để nêu lên tầm quan trọng của nó. Sự cần thiết cho các Tu sĩ được hấp thụ một nền trí dục chắc chắn và hoàn bị về mọi khoa, được nhận thấy rõ do ba tước phẩm rực rỡ sáng ngời của họ trong Giáo Hội Chúa, đó là tước phẩm Tu sĩ, Linh mục và Tông đồ.
20 – Bởi vì, những Tu sị có bổn phận chính yếu phải suy ngắm những điều về Chúa, để tìm cầu một mình Chúa và kết hợp với Người, rồi thông truyền cho người khác – phải nhớ rằng: họ không thể có cách nào chu toàn được sứ mệnh rất thánh ấy cho có kết quả xứng đáng, và nhắc lòng lên kết hiệp với Chúa Kytô được, nếu họ không có dồi dào một nền kiến thức sâu rộng luôn luôn tiến triển thêm mãi về Chúa và các mầu nhiệm, nhờ học các khoa học Thánh.
21 – Phẩm chức Linh mục cho người chịu chức được trở nên sứ giả của “Chúa các khoa học”( 1 Sam 2,3) và được gọi bằng một danh hiệu là “Muối đất và Ánh sáng thế gian” (Mt 5,13-14). Phẩm chất ấy đòi một nền giáo dục thật chắc chắn sâu rộng, nhất là về các môn của Giáo Hội, một nền giáo dục phải có thể nuôi dưỡng và tăng cường sức sống siêu nhiên cho Linh mục, giữ được Linh mục khỏi mọi tà thuyết và mọi khoa tân học sai lầm, và hơn nữa, còn làm cho Linh mục được trở nên “người phân phát trung tín các mầu nhiệm Chúa”(1 Cr 4,1), nên người hoàn hảo của Chúa, “sẵn sàng mau mắn làm mọi việc lành”(2 Tm 3,17).
22 – Sau hết, việc Tông đồ mà các phần tử bậc trọn lành (tức bậc Dòng) làm trong Giáo Hội, mỗi người tùy theo ơn Thiên Triệu của mình, hoặc bằng việc giảng thuyết, hoặc bằng việc huấn luyện nhi đồng và thanh thiếu niên, hoặc bằng cách làm các phép Bí Tích, nhất là phép Giải Tội, hoặc bằng cách đi làm Thừa sai ở các xứ dân ngoại, hoặc bằng việc hướng dẫn các linh hồn trong đàng thiêng liêng, hay còn bằng cả sự tiếp xúc hằng ngày ỡ giữa dân chúng nữa; Việc Tông đồ như thế không thể nào được kết quả dồi dào và bền bỉ, nếu các Tu sĩ không có một lực học chắc về Giáo lý và không luôn luôn sưu tầm thêm.
23 – Việc thứ nhất các Bề trên Dòng phải lo là: săn sóc cho có một nền Giáo dục thực chắc chắn và hoàn bị về trí dục mà để ý đến việc phát triển tự nhiên của các thanh thiếu niên, và đặt chương trình học làm sao cho trình độ văn chương khoa học của các Tu sĩ trẻ ít ra cũng được ngang với người đời cùng học như họ. lo như thế sẽ thực tế mưu được một nền trí dục hoàn toàn cho các sinh viên, và khi cần, giúp họ dễ lấy hướng (cho đời sống).
V.- VỀ TRIẾT LÝ THẦN HỌC
24 – Môn Triết lý và Thần học chỉ được giao cho các Giáo sư thực có khả năng và đã được tuyển lựa kỹ càng, và phải giữ thực tỉ mỉ theo quy tắc mà Giáo luật với các Đấng Tiền nhiệm Ta và chính Ta đã đặt, đó là: nhất thiết phải tôn trọng và tuyệt đối phải trung thành với Giáo huấn của Giáo Hội – điều đó chẳng những phải làm chứng ở mọi nơi, mọi thời, mà còn phải tiêm nhiễm vào tâm hồn các sinh viên nữa. Phải thực khôn ngoan mà cứu xét cho cẩn thận cách đáng khen về mọi vấn đề mới của thời đại tiến bộ này đưa ra. Sau cùng, phương pháp, Giáo lý, và nguyên tắc của Thánh Tiến sĩ Thiên Thần (tức Thánh Tômasô) phải kính cẩn noi giữ và theo sát trong khi dạy Triết lý và Thần học.
25 – Nhờ có Thánh Tômasô làm Thầy hướng dẫn, môn Thần học sẽ được dạy theo phương pháp thực nghiệm và kinh viện. Nhờ Giáo huấn chân chính (của Giáo Hội) soi sáng, người ta sẽ học được đến nơi đến chốn, và nhờ các phương thế đích đáng, những nguồn Mạc khải, và các kho tàng chân lý đã khám phà ra được, cũng sẽ được đưa ra ánh sáng (để trình bày) và bênh đỡ cách hữu hiệu. Bởi vì, chỉ có Giáo Hội mới được ủy quyền giải thích chính thức kho tàng Mạc khải, kho tàng ấy không được cắt nghĩa theo lý luận hoàn toàn của loài người và theo ý kiến cá nhân, nhưng phải theo sát ý kiến và tinh thần của Giáo Hội. Vậy các Giáo sư Triết lý, Thần học Công Giáo phải biết rằng: họ thi hành nhiệm vụ không phải vì danh nghĩa hay quyền lợi riêng của họ, nhưng nhân danh quyền Giáo huấn tối cao của Giao Hội, và vì thế, họ phải làm việc dưới quyền kiểm soát và hướng dẫn của Giáo Hội, vì chính bởi Giáo Hội mà họ đã nhận việc dạy học như một trách nhiệm theo Giáo luật. Cho nên, tuy vẫn được tự do bàn cãi về những vần đề còn được bàn cãi, nhưng phải nhớ rằng: Họ được trao quyền cho dạy như thế là để thông cho sinh viên những Giáo lý chắc chắn nhất đã được Giáo Hội chấp nhận, chứ không phải là theo ý kiến riêng của họ.
26 – Rồi cả Thầy lẫn trò đều phải nhớ rõ rằng: các môn học của Giáo Hội không phải chỉ duy có một mục đích là huấn luyện về trí dục không – mà còn chủ ý huấn luyện hoàn bị chắc chắn cho nên người Tu sĩ, Linh mục và Tông đồ nữa – Vì thế, đừng chỉ nhắm duy vào kết quả trong các kỳ thi mà thôi – mà còn phải minh tâm khắc cốt cho sinh viên nhớ Giáo lý, để khi cần đến, chính họ và các người khác cũng được nhờ ánh sáng và sức mạnh bởi đấy.
27 – Để được như thế, trước hết, chương trình trí dục phải liên kết chặt chẽ với việc cầu nguyện và chiêm niệm những điều về Chúa – phải hoàn toàn đầy đủ không được bớt bỏ một phần nào về các môn phải dạy – phải có mạch lạc liên quan chặt chẽ vơi nhau, làm sao đế tất cả các môn học làm thành một hệ thống chắc chắn cân đối – phải khôn ngoan chống đối các tà thuyết hiện thời, và để ý đến các nhu cầu phải nâng đỡ – phải ăn nhịp với các khám phá mới ngày nay và một trật, phải dung hòa với truyền thống đáng kính – Sau cùng, phải lo chu toàn cách hữu hiệu hết mọi trách nhiệm, và phòng cho các Linh mục tương lai biết trình bày và bênh đỡ cách dễ dàng khúc chiết Giáo lý chân thật trong khi giảng và dạy Giáo lý ở trước người trí thức, cũng như ở trước người vô học, biết làm các phép Bí tích cho xứng đáng, biết hoạt động mưu ích cho các linh hồn, và nên người hữu ích cho hết mọi người bằng lời nói, việc làm.
VI.-VỀ KHOA MỤC VỤ 
28 – Tất cả những điều Ta đã nói từ trước đến đây về việc đức dục và trí dục đều chủ ý nhằm vào việc chuẩn bị cho có những người làm Tông đồ đích danh, và nhằm vào điều thiết yếu là, nếu Linh mục thiếu thánh thiện và học lực phải có, thì có thể chắc là họ thiếu hết mọi sự. Trọng trách của Ta buộc Ta phải nói thêm ở đây rằng: ngoài sự thánh thiện và học thức ra, Linh mục muốn chu toàn xứng đáng nhiệm vụ Tông đồ, không thể bỏ qua được việc chuẩn bị cho việc mục vụ một cách rất cẩn thận đầy đủ; Thế mới có đủ thực lực để chu toàn được thực nhiều trách nhiệm Tông đồ Chúa.
Nếu thường tình, trước khi hành nghề, người ta còn phải lo chuẩn bị kỹ lưỡng bằng một lớp học tập lý thuyết chuyên môn và thực hành lâu dài, thì ai chối được là không phải chuẩn bị kỹ lưỡng sâu xa hơn nữa trước khi bắt tay làm một nghề phải nói là “nghề khó nhất các nghề”.
29- Khoa mục vụ này phải dạy cho sinh viên ngay từ khi bắt đầu vào học (trường Đại học) và phải tiếp tục bổ túc dần dần mãi hàng năm và kết thúc sau khi mãn Thần học bằng nột kỳ thực tập riêng tùy theo mục đích riêng của mỗi Học viện – Việc đạo luyện ấy nhằm điểm trước hết là để cho các nhân viên Tông đồ tương lai của Chúa Kytô được theo chính gương của Chúa Kytô mà thấm nhuần các đức tính Tông đồ cách sâu xa chắc chắn – đó là: lòng sốt sắng nhiệt thành trong sạch, để làm việc cho sáng danh Chúa – Một tình yêu hoạt động hăng say đối với Giáo Hội để bênh vực quyền lợi, bảo toàn và phổ biến Giáo huấn của Giáo Hội – Lòng nhiệt thành nồng nàn cứu các linh hồn – khôn ngoan siêu nhiên trong lời nói, việc làm, làm một với Đức Đơn sơ theo Phúc âm – Khiêm nhượng tự bỏ bản thân và tùng phục ngoan ngoãn các Bề trên – Đức Trông cậy vững vàng trong Chúa với lương tâm sắc bén về trách nhiệm – sáng kiến hay trong việc làm – kiên tâm theo đuổi công việc đã bắt đầu – trung tín chu toàn phận sự – Can đảm làm việc và chịu đựng những nỗi khó khăn – Sau cùng, dịu dàng nhân hậu theo tinh thần Chúa Kytô để lôi kéo lòng người.
30- Hơn nữa, trong khi huấn luyện về mục vụ, phải làm sao cho các sinh viên tùy theo trình độ lớp học, lĩnh hội được tất cả những gì có thể giúp họ trở nên hoàn toàn một “tinh binh của Chúa Giêsu Kytô” (2 Tm 2,3) – và sắm cho họ những khí giới cần thiết của người Tông đồ. Như thế, không kể môn Triết lý, Thần học, tuyệt đối còn cần thiết phải chuẩn bị trước cho đời hoạt động của họ theo cách thức Ta nói trên đây. Vậy các Mục tử tương lai của đoàn chiên Chúa Kitô phải được học với các Giáo sư có đủ khả năng theo nguyên tắc Tòa Thánh đã ra, để họ có một nền giáo dục đầy đủ tương xứng với các vấn để về tâm lý và sư phạm, giáo khoa và giáo lý, xã hội và mục vụ, và các vấn đề khác tương tự, một nền giáo dục có thể đáp ứng được với đà tiến triển ngày nay về các môn đó – và chuẩn bị cho các Mục tử ấy được thích ứng với nhu cầu phức tạp của việc Tông đồ thời mới nay.
31 – Để việc huấn luyện Tông đồ theo lý thuyết được bảo đảm do kinh nghiệm đưa lại, cần phải phối hiệp nó với việc “thực tập”tuần tự và có phương pháp. Việc ấy Ta muốn được thấy thực nghiệm và bổ túc sau khi đã chịu chức (Linh mục) trong một lớp thực tập có các Vị thực tài đức hướng dẫn, cho bài học, thêm ý kiến và kiểu mẫu. Cách huấn luyện thực hành đó, phải phát triển thêm luôn mãi, nhưng không được bỏ qua khoa học Thánh.
* 32 – Sau khi đã ban bố những nguyên tắc tổng quát hướng dẫn công việc giáo dục, chỉ đạo các Giáo sư và rèn luyện các Tu sĩ sinh viên, với sự hiểu biết rõ ràng, Ta lấy quyền Tông đồ tối cao của Ta, sau khi đã cân nhắc chín chắn, quyết định và truyền cho mọi người có trách nhiệm liên hệ, phải tuân hành chu đáo từng điều trong những nguyên tắc tổng quát về công việc rất trọng đại này.
Ta cũng dùng quyền mà ban cho Thánh Bộ Tu Sĩ được toàn quyền ban bố Huấn dụ, để giải thích văn kiện này, và những tài liệu khác, tức là những quy tắc Ta đã ban bố, hầu mang lại kết quả và kiện toàn việc thực thi Tông hiến này, bằng cách thiết lập những quy chế và huấn lệnh, một cách hết sức trung thành. Không một điều gì trái ngược dầu đặc biệt mấy có thể cản trở việc thi hành Tông hiến này.

Ban hành tại Rôma gần Đền Thờ Thánh Phêrô,
Ngày 31 tháng 58 năm 1956,
Lễ Đức Trinh Nữ Maria Nữ Vương Thế Giới,
Năm thứ 18 Triều Ta.
PIO XII
Giáo Hoàng

Comments are closed.