Giáo án khối Vào đời – Năm I – Bài 8

0

Bài 8:  NHỮNG GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH TÂN ƯỚC

(Khi dạy học, xin sử dụng bản sơ đồ đính kèm)

I.  ỔN ĐỊNH:

1. Thánh hoá:

2. Ôn bài cũ:

3. Dẫn vào bài mới:

Đức Giêsu chẳng viết gì cả, Người không hề cầm bút để lại cho hậu thế một tác phẩm nào liên quan đến sự nghiệp và thân thế của Người, chỉ trừ một lần Ngài viết trên cát. Nhưng Người đã sống, sống một cách trọn vẹn, nên chúng ta phải chú ý đến cách sống của Người, phải tìm hiểu chính con người của Người, vì chính Người là nguồn gốc của Tin Mừng.

II. CÔNG BỐ LỜI CHÚA: Cv 2, 42 – 47  (thinh lặng –gợi ý)

Các em thân mến, sau khi Chúa Giêsu về trời, cộng đoàn tín hữu đầu tiên đã tập họp quanh các tông đồ để nghe rao giảng về Đức Giêsu. Và cũng từ giây phút này mà các tông đồ và những người rao giảng kể lại về cuộc đời của Đức Giêsu để từ từ qua thời gian, và từng bước đã hình thành nên sách Tin Mừng mà chúng ta có hôm nay. Xin Chúa giúp chúng ta trong giờ học này, biết đón nhận Lời Chúa qua các anh chị Giáo lý viên.

III. DIỄN GIẢNG:

1.  GIAI ĐOẠN I: ĐỨC GIÊSU NA-DA-RÉT (năm 6 trước CN– 30 CN)

Đức Giêsu sinh ra dưới triều Herode, có lẽ khoảng năm thứ 6 trước CN. Ngài đã sống ở Na-da-rét như một người Do Thái ngoan đạo, tuân giữ luật theo tinh thần của những người biệt phái, tức là những người đạo đức nhất trong dân Do Thái.

Sau một thời gian dài sống ẩn dật ở Na-da-rét, khoảng năm 27 – 28, Người rời tổ ấm gia đình… và xin lãnh nhận Thanh Tẩy bởi tay Gioan. Biến cố này khai mạc đời sống công khai của của Người. Người chọn các môn đệ và cùng họ đi khắp đó đây rao giảng về Nước Thiên Chúa và làm những việc lạ lùng: chữa bệnh nhân khỏi bệnh hoạn tật nguyền, trừ quỷ, làm cho kẻ chết sống lại.

Cuối đời, Người bước vào đường Thương Khó và bị quân Roma xử tử đóng đinh trên thập giá (có lẽ vào ngày 7 tháng 4 năm 30) để rồi chỗi dậy từ cõi chết.

2. GIAI ĐOẠN II: CÁC CỘNG ĐOÀN (khoảng giữa các năm 30 – 70)

Việc Đức Giêsu sống lại và sau biến cố Thánh Linh hiện xuống vào dịp lễ Ngũ Tuần khiến các Tông đồ và các môn đệ bắt đầu khám phá ra mầu nhiệm Đức Giêsu, và họ khởi đầu rao giảng về Đức Giêsu Kitô. Nội dung lời rao giảng tiên khởi (“kerygma”) đó chính là cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu. Các ngài rao giảng với tư cách chứng nhân về một biến cố đã xảy ra, không những mang tính cách lịch sử mà còn tôn giáo, quan hệ đến ngày nay như ta đọc thấy trong năm diễn từ của ông Phêrô  Cv 2,14 -16; 3,12 – 26; 4, 8-12; 5, 29-32; 10, 34-43 và Phaolo 13,16b – 41 trong sách Công Vụ.

Ngoài các Tông đồ và các môn đệ ra, còn có “những người loan báo Tin Mừng”, họ cũng kể lại những lời rao giảng và các phép lạ của Đức Giêsu. Và con số tín hữu ngày càng gia tăng, nhiều cộng đoàn mới xuất hiện, đời sống Giáo hội phát triển với nhiều nhu cầu rao giảng, cử hành phụng vụ, huấn giáo và hộ giáo, nên để đáp ứng nhu cầu đó, người ta bắt đầu ghi chép, biên soạn; đồng thời, các chứng nhân thuộc thế hệ đầu tiên là các Tông đồ, môn đệ… cứ dần khuất đi… Nhiều người trong Giáo Hội sơ khai nhận thấy phải giữ lại các truyền khẩu, nghĩa là viết ra để lưu truyền… Vì thế, trong khoảng 40 năm, các truyền khẩu được hình thành mỗi ngày một thêm rõ nét và chuyển đi tất cả những dữ liệu để soạn nên sách Tin Mừng.

3. GIAI ĐOẠN III: SOẠN SÁCH (giữa năm 70 – 100)

Các tác giả sách Tin Mừng đã cố gắng trung thành với truyền thống, phản ánh nhu cầu của các giáo đoàn để làm thành lời chứng của họ về Đức Giêsu:

  • Tin Mừng theo Thánh Mác-cô được soạn thảo sớm hơn các sách Tin mừng vào khoảng năm 70 tại Roma. Tin Mừng thứ hai nhắm mục tiêu trình bày giáo huấn của Thánh Phêrô cho các tín hữu không phải gốc Do Thái, để chứng minh rằng chính Ngài là Đức Kitô, Con của Thiên Chúa.
  • Tin Mừng theo Thánh Luca được viết khoảng năm 80-90, nhằm giúp cho người ngoại giáo trở lại được hiểu ngày càng sâu xa hơn sự nghiệp và thân thế của Đức Giêsu, Đấng chính là Thiên Chúa đến viếng thăm dân Người và tỏ lòng nhân hậu với họ.

Luca cũng viết Công vụ Tông đồ để cho thấy sự bành trướng khắp nơi Tin Mừng mà các Tông đồ rao giảng dước tác động của Thánh Linh.

  • Tin Mừng theo thánh Mat-thêu (chính lục) được soạn khoảng năm 80-90. Tin Mừng thứ nhất dành cho các độc giả Kitô hữu sống trong vùng Xy-ri-a, Pa-lét-tin từ đạo Do Thái trở lại.
  • Tin Mừng theo thánh Gioan là một sự suy tư rất sâu sắc về Đức Giêsu trong tư cách là Lời của Thiên Chúa. Sách được viết khoảng năm 95-100, để minh chứng Đức Giêsu tuy bị đóng đinh, nhưng ngày nay vẫn còn sống và ban Thánh Thần cho chúng ta.

4. TIN MỪNG NHẤT LÃM:

Chỉ có một Tin Mừng (TM) duy nhất của Đức Giêsu Kitô, nhưng TM ấy được truyền đến chúng ta dưới hình thức 4 cuốn sách nhỏ, trong đó TM thứ tư (Gioan) có những đặc tính riêng – mặc dù nó vẫn có liên lạc với ba tác phẩm kia là những chứng từ được biên soạn trước.

Riêng TM Mat-thêu, Mác-cô và Lu-ca trình bày ba sách Tin Mừng đều theo một thứ tự chung chung giống nhau, đến nỗi với một cái nhìn chung duy nhất, độc giả có thể so sánh các đoạn hoặc trình thuật được xếp thành 3 cột song song với nhau để dễ thấy những điểm tương đồng trong một số từ, câu, thành ngữ, lời trích dẫn Cựu Ước, trong những phép lạ, dụ ngôn và biến cố đời Đức Giêsu, trong thứ tự của một số đoạn hay trình thuật…  Nhưng cũng vẫn có nhiều yếu tố dị biệt. 

Trong TM Nhất Lãm (TMNL), chúng ta khám phá ra một lược đồ tổng quát gồm bốn phần cho trong sách TMNL: (Chúng ta không đi sâu vào vấn đề giải thích sự kiện Nhất Lãm, nhưng với thời gian quá ngắn, xin giúp cho các em hiểu TMNL qua việc GLV viết lên bảng 3 cột song song và cho các em mở một số đoạn hay câu… để thấy sự trùng hợp…vd:)

1/ Giai đoạn dọn đường cho sứ vụ của Đức Giêsu (Mt 3,1-4,11; Mc 1,1-13; Lc 3,1-4,13)

2/ Sứ vụ của Đức Giêsu tại Galile và các vùng lân cận (Mt 4,12-18,35; Mc 1,14-10,52; Lc 4,14-9,50)

3/ Hành trình lên Giêrusalem và sứ vụ tại đó (Mt 19,1-25,46; Mc 11,1-13,37; Lc 9,51-21,38)

4/ Cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giêsu (Mt 26,1-28,20; Mc 14,1-16,20; Lc 22,1-24,53)

TMNL hay các sách TM không nhằm ghi chép lịch sử, nhưng trình bày về TM cứu độ như truyền thống rao giảng. Cốt yếu lời rao giảng này là Đức Giêsu Na-da-rét đã sống tại Pa-lét-tin, đã dạy dỗ và làm nhiều phép lạ; Ngài là Đấng Mêsia, là Con Thiên Chúa… Như thế, sách TM nhằm giảng dạy về đời sống Đức Giêsu và ý nghĩa tôn giáo của sự kiện này.

5. CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Lời của Cha hằng hữu, Lời đã vang lên và vẫn còn vang lên mãi trong tâm hồn chúng con trong mọi biến cố cuộc đời. Xin Chúa soi lòng mở trí để chúng con nhận ra sứ điệp của Lời Chúa muốn nói với chúng con. Xin cho con lòng yêu mến Lời Chúa để chúng con biết sống tốt mỗi ngày.

IV. SỐNG LỜI CHÚA

1. Bài học: 47, 48, 50 . . . .

2. Gợi ý thực hành: Khi tham dự Thánh Lễ, em cố gắng lắng nghe Lời Chúa – nhận ra Chúa muốn nói gì với em và đem ra thực hành.

V. KẾT

Sr. Têrêsa Nguyễn Thị Phượng

Comments are closed.