Maria – Thiếu nữ Đông Phương dịu dàng, đoan thục

0

MARIA THIEU NU

Giữa tiết đông giá lạnh, vườn hồng trơ trụi, có ai ngờ đâu sức sống đang âm thầm núp trong rễ mẹ. Nhờ vậy mà mỗi khi xuân về, những đoá hoa lại nở rộ xinh tươi, hiến tặng cho đời bao hương sắc. Cũng thế, có những con người và cuộc đời: âm thầm dâng hiến, âm thầm hy sinh, lặng lẽ và khiêm nhu như một nữ tì hèn hạ. Những con người đó, những “ngọc trong đá’, những “sức sống tiềm tàng” đó, đã và đang chứng tỏ sức mạnh phi thường của cái “ngã”, rất riêng và cũng thật huyền bí của một nền minh triết.

Ở góc trời phương Đông ấy,  nhìn vào bối cảnh xã hội, người ta thấy dường như có cái gì đó gò bó, khép kín. Những định kiến, phong tục hủ lậu, những khắt khe luẩn quẩn của vòng lễ giáo, những cơ chế nặng nề của tôn giáo, nặng nề và lụp xụp như chiếc khăn mãi trùm kín trên đầu người phụ nữ. Thế mà, nơi thế giới chật hẹp, ít có cơ hội cho nữ giới ấy lại xuất hiện một phong cách tỏa sáng, một cái đẹp nền nã truyền thống đáng trân trọng, một sự “hội tụ” văn hóa cách hết sức phong phú, sinh động và tuyệt vời. Nơi người nữ ấy, rạng ngời vẻ khiêm nhu, dịu dàng, đoan thục, nhưng cũng rất mạnh mẽ và cương quyết. Dường như những cái gì không huênh hoang lại là những cái vĩ đại, và những cái phi thường lại ở nơi những điều đơn giản. Cách nhìn và lối sống đó là con đường “nhân bản hóa” hay “phúc âm hóa”? Là quan điểm của những nhà hiền triết Đông phương, hay của những điều mà Đức Giêsu đã rao giảng? Bởi nơi điểm giao thoa văn hóa – tâm linh đó, một điều kỳ diệu và lớn lao hơn nữa đã xảy ra: “Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1, 48b). Maria, Mẹ xứng đáng với chiếc vương miện, mà không một hoa hậu thế giới nào có thể đạt tới. Mẹ, một phụ nữ tuyệt vời, trước khi là Mẹ Thiên Chúa.

1. Maria, cô thôn nữ làng Nazareth

“Ở Nazareth thì có cái chi hay đâu” (Ga 1, 46a).  Cái địa danh nhỏ bé nằm phía Bắc đồng bằng Esdraelon có gì để so sánh được với một Damacus cổ xưa, với một Athen nổi tiếng và một Giêrusalem lộng lẫy, kiêu hùng. Đúng, chẳng có cái chi đáng kể cả, ngoài cái heo hút của một làng quê bé nhỏ và cái nghèo nàn của nếp sống dân dã. Như thế thì có gì để nói về vai trò của cô thôn nữ bé nhỏ trong cái  nhỏ bé của làng xã đó? Nhất là trong bối cảnh xã hội mà người nam là trung tâm và người nữ chỉ là phụ thuộc, đến nỗi sự hiện diện của họ không hợp thức để tạo nên pháp nhân giáo luật (groupe canonique) của một cộng đoàn cầu nguyện.1 

Ta thấy rõ điều này nơi chủ đề được các vị thầy Do Thái giáo biên soạn, liên quan đến vai trò của người phụ nữ, chủ yếu lấy từ ba chương đầu của sách Sáng Thế theo cái nhìn chú giải của não trạng ảnh hưởng không ít nếp nghĩ và các định kiến xã hội. Theo đó người đàn bà chẳng được tích sự gì, nếu không nói là đáng bị khinh chê, nguyền rủa, bởi vì đã thừa kế sự sa ngã của Evà. Trong Genesis Rabbah (17,8 cho 2,21)  R.Joshua de Sikin đã đưa ra một kinh cầu dài dòng, gần như là một sách kinh nhật tụng gồm những bản buộc tội Evà và những hậu quả tai hại của nó đối với tất cả đàn bà. “Tại sao có quy luật liên quan đến kinh nguyệt đã được ban cho người đàn bà? Bởi vì bà đã làm đổ máu của Ađam. Tại sao có qui luật phải trích phần bánh đã được ban cho người đàn bà? Vì bà đã làm hư hỏng Ađam. Tại sao có qui luật về chiếc đèn ngày Sabát đã được ban cho người đàn bà? Bởi người đàn bà đã làm tắt ánh sáng tinh thần của người đàn ông”2 

Chính trong bối cảnh ấy, trong chính cái nhìn định kiến của xã hội và miệt thị của tôn giáo ấy mà cô bé Maria được sinh ra và lớn lên. Dù là con một trong gia đình, hơn nữa là đứa con “cầu tự” được cha mẹ hết mực yêu thương chiều chuộng, nhưng Maria cũng sớm nhận ra thân phận của mình cũng như các thiếu nữ khác. Làm gì có chỗ dành cho phụ nữ ở trong Đền thờ, đâu có nơi nào để các cô có thể nói lên tiếng nói của mình dầu là để bảo vệ quyền lợi căn bản nhất. Tuy nhiên trái tim ngây thơ và hồn nhiên của cô thôn nữ Maria chẳng có chút nào cho sự phản kháng. Cô đã học được từ lâu bài học của sự bé nhỏ khiêm hạ. Không phải với thái độ cam nhận, đành chịu, mà trong tâm tình ngoan thảo, mến yêu, hoàn toàn tùng phục Thánh Ý của Giavê và những gì Giavê đặt để trong cuộc đời.

Quãng đời thơ ấu của Đức Maria không được Kinh Thánh ghi lại, nhưng thiết tưởng đó phải là những tháng ngày của ân sủng, để chuẩn bị tốt nhất cho sứ mạng cao cả sau này. Nơi cô Maria không có những chuyện huyên thuyên, không có thời giờ lãng phí cho những điều vô ích. Maria chăm chỉ làm việc, cần mẫn học hành và tận tụy với hết mọi người. Hình ảnh cô thôn nữ đon đả vượt đồi núi đến với bà chị họ Elizabeth đang mang thai (x Lc1, 39) là một lối sống đẹp gần gũi với văn hóa Á Đông, đặc biệt với tâm tình người Việt trong cái “hướng tha” mang tính cộng đồng: “Anh em như thể tay chân,” hoặc “khi tối lửa tắt đèn có nhau”. Một khi con tim biết hướng về tha nhân, thì nó cũng rất dễ dàng mở ra cho những giá trị khác.

Maria không chỉ đạt tiêu chuẩn Công- Dung theo giá trị của người nữ Á Đông, mà còn đặc biệt trổi trang về Ngôn – Hạnh. Các đức tính nhân bản như đoan trang, dịu dàng, nhân hậu là nét đẹp vốn có nơi cô thôn nữ này. Nhưng sự trong sáng, thánh thiện của tâm hồn mới càng tô điểm cho chữ “Hạnh” tròn đầy hơn. Trong mọi lúc, Maria luôn gìn giữ thân xác trinh bạch và tình yêu thủy chung cho người mà mình yêu mến. Nơi “khu vườn khép kín” và “mạch suối niêm phong” ấy, tiết hạnh của người thiếu nữ-  giá trị mà cả xã hội Đông phương cùng coi trọng, hoàn toàn không phải là cái gì mơ hồ, xa rời thực tế, càng không phải là những qui định ngặt nghèo mà lễ giáo bày vẽ ra làm mất tự do của con người, nhưng là một nếp sống đẹp, một phẩm cách cao qúi, một chọn lựa mang tính nhân bản mà chỉ con người mới có thể làm được. Và Tiết hạnh- bông hoa diễm lệ của đức trinh khiết mãi là lời mời gọi con người vươn cao hơn nữa tới chiều kích tâm linh. Như thế sẽ chẳng quá đáng khi Đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II đã ví Đức Maria như “Nhà tạm đầu tiên của nhân loại”, bởi ngoài việc cưu mang Chúa Giêsu trong cung lòng trinh bạch, Mẹ còn ngàn lần xứng đáng trở thành ngôi nhà tạm vì đức tiết hạnh cao qúi và một tâm hồn trong sạch tuyệt vời.

Ta có thể vẽ lại chân dung của cô thôn nữ Maria vào đêm trước ngày thiên thần Gabriel xuất hiện. Trong vẻ rực rỡ của bầu trời phương đông, bóng tà dương đã khuất sau những ngọn đồi bên kia núi Carmel, Maria quỳ đó, chìm đắm trong bầu khí thinh lặng sống động tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa. Tâm hồn bình an, nét mặt thanh thản. Trong căn phòng nội tâm dành riêng cho Thiên Chúa, cô thôn nữ này đã từng thiết tha mỗi ngày với những giờ cầu nguyện. Mối tương quan giữa cô – mọt tạo vật, với Đấng Tạo Hóa của mình dường như càng lúc càng bền chặt hơn. Tình yêu của cô, cuộc sống của cô… như chỉ để cho Ngài và dành để thực hiện thánh ý Ngài: “Này tôi là nữ tì của Chúa, xin cứ thực hiện cho tôi theo lời Ngài truyền” (Lc 1, 38). Lời thưa vâng đầy ý thức trách nhiệm như thế chỉ có thể được thực hiện với một sự chuẩn bị sẵn sàng và với trái tim đầy tình yêu. Maria không chuẩn bị để được làm mẹ Thiên Chúa, nhưng chuẩn bị để đón nhận Thánh Ý Chúa bất kể đó là cảnh huống nào. Sự khiêm nhu tùng phục đó phải chăng là nét đáng yêu nhất và là cái duyên “rất con gái” theo cái nhìn của người Đông phương.

Người ta có thể hiểu biết về các đức tính tự nhiên nhờ một giáo trình nhân bản, hay đạt tới sự hiểu biết về các đức tính luân lý từ một giáo án chuyên môn. Nhưng việc sống các nhân đức ấy thì cần phải có một kiểu mẫu để noi theo. Nét đằm thắm đáng yêu của cô thôn nữ Maria trong cái chuẩn mực Công- Dung – Ngôn – Hạnh nặng tính hình thức của Khổng giáo, hay các đức tính luân lý tiêu biểu theo truyền thống Kitô giáo: Khôn ngoan, công bình, dũng cảm và tiết độ, hoặc xa hơn nữa, các nhân đức đối thần: Tin, cậy, mến, đều bỏ xa  những trang sách in để trở nên thực tại sống động nơi cô gái thành Nazareth, người đã được Thiên Chúa chọn để làm mẹ Con của Ngài. Và như vậy thì dễ dàng hơn nhiều để sống các nhân đức này khi chúng ta có một kiểu mẫu để bắt chước.

2. Maria, người Mẹ Việt Nam của tôi

“Khi thời gian viên mãn, Thiên Chúa sai Con của Người sinh làm con một người đàn bà”(Gal 4,4). Sự thụ thai kỳ diệu của Chúa Giêsu trong cung lòng Mẹ là khoảnh khắc mà Thiên Chúa đời đời và bất tử bước vào lịch sử của chúng ta.3  Phúc Âm thánh Luca xác định: Thiên Chúa đã sai Thiên thần Gabriel đến với Maria, một cô gái trẻ làng Nazareth xứ Galilêa. Thiên thần báo tin rằng bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, cô sẽ thụ thai và sinh một con trai, Đấng ấy là Con Thiên Chúa. (x Lc 1, 26-28). Trong thế kỷ đầu, Giáo hội tiên khởi đã gọi Mẹ với danh xưng đơn giản: “Mẹ của Chúa Giêsu”. Dần dà về sau mới xuất hiện những tước hiệu: “Mẹ Giáo hội, Đấng bầu chữa, Nữ trạng sư” (GLGHCG 963). Những tước hiệu này không được Giáo hội tuyên bố như tín điều, nhưng chúng có tầm quan trọng, bởi vì chúng giúp cắt nghĩa sự liên hệ của Mẹ Maria với chúng ta. Hơn nữa, “Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu thì cũng là Mẹ chúng ta xét như chúng ta là những chi thể của Người” (Thánh Irênê).

Trong diễn tả của sách Sáng Thế ký, “Ađam đã gọi vợ mình là Eva, có nghĩa bà là mẹ của chúng sinh” (St 3,20). Mẹ được hiểu như  người thông ban sự sống. Xét theo khía cạnh tự nhiên sinh học, tất cả mọi giống cái mang yếu tố “truyền sinh” đều được gọi bằng cái tên phân loài ghép với tiếng “mẹ” nghe thật gần gũi, thân thương. Dù trong những vùng đất ở phương Đông, nơi mà nền văn hóa Hy lạp phủ sóng, vai trò của mẹ chẳng được đề cao: “Cha có thể ngồi trên lưng lừa, mẹ thì phải đi bộ, đôi khi còn phải mang vác nặng nề”, thì người ta vẫn tìm thấy được nơi đó hình ảnh của những bà mẹ được tuyên dương. Trong Thánh Ý Thiên Chúa, Môsê được sinh ra bởi một người mẹ. Giả như mẹ Môsê không có một tình yêu đặc biệt và sáng kiến, thì Môsê cũng chết như bao đứa con trai đầu lòng khác của người Do Thái (Xh2,1-10). Cũng vậy, trong câu chuyện phân xử khôn ngoan của Salomon, có tấm lòng vị tha của người mẹ, thà trao con mình cho người khác, còn hơn trông thấy nó bị chết đau đớn (1V 3,16-18).

Bên Á đông chúng ta cũng có những người mẹ thật tuyệt vời như  mẹ của Đức Khổng Tử. Chỉ vì con, bà đã chấp nhận gian nan đổi nhà đến ba lần. Lần nhất vì sợ con tiêm nhiễm thói xấu khi sống chung với những người hàng xóm xấu. Lần hai nhà gần chợ sợ con dễ bắt chước “buôn ngược bán xuôi, ăn gian nói dối”. Cuối cùng chọn được căn nhà gần trường học bà mới yên tâm, ở đó ngày ngày bà thúc giục con lo việc đèn sách, rèn luyện con nên người.

Riêng với dân tộc Việt Nam, nói đến mẹ là nói đến cả một bầu trời linh thiêng, diệu vợi. Mẹ là nền tảng đạo đức, là lối sống khuyên dậy con, là mẫu gương số một, là “cầu nối” yêu thương trong gia đình. Nói chung mẹ là tất cả những xúc cảm đẹp nhất! Chẳng vậy mà trong suốt chiều dài lịch sử, hình ảnh mẹ đã đi vào tâm thức và tạo nên nét văn hóa rất riêng mang đậm chất “mẫu tính” của người Việt.  Mẹ còn là cả một kho tàng văn chương phong phú, biết bao nhiêu tác phẩm, biết bao nhiêu hình ảnh của các bà mẹ đã sống mãi trong lòng dân tộc. Nhạc sĩ Trương Quang Lục dường như đã tóm lại các áng thơ văn đẹp đó như sau:

Trên trời cao có muôn vàn ánh sao
Trên đồng xanh có muôn vàn cây lúa

Con chim rừng có muôn vàn tiếng ca
Cây trong rừng có muôn ngàn lá hoa
A….. á…. à

Riêng mặt trời chỉ có một mà thôi
Và mẹ tôi chỉ có một trên đời.

Không thể phủ nhận rằng: Tất cả những người Công giáo trên hành tinh này, kể cả những người không Công giáo nữa đều trìu mến gọi Mẹ Maria là “Mẹ”. Nhưng đặc biệt đối với người Công giáo Việt Nam thì mối liên hệ này rất rõ nét. Đức Mẹ Maria, Đức Bà Maria không chỉ là một danh từ quen thuộc nhà đạo, dùng để khấn vái cầu kinh, nhưng đã trở nên một vị thần hộ mạng, một người Mẹ ban sự sống, một biểu tượng thực sự trong nền văn hóa “mẫu tính” của dân tộc. Trong lòng sùng kính này, gốc gác, dáng dấp của một phụ nữ ngoại quốc vùng Palestina biến mất, nhường chỗ cho hình ảnh một phụ nữ rất Việt Nam: Cô Maria trong chiếc áo dài thon thả, chiếc khăn mỏ quạ chít đầu và đôi hài mũi nhọn, hay bà mẹ quê với đôi tay bồng đứa con nhỏ.

Người tín hữu Việt Nam cũng đã tìm ra được nơi Đức Maria sự tế nhị nhẹ nhàng, cái tận tụy cao cả trong cách thức đối xử của Mẹ với Chúa Giêsu. Trong sứ vụ của Chúa Giêsu, Con Mẹ, Mẹ có vẻ như “buông lơi” con ra để con muốn làm gì thì làm, như đặc tính “chiều con” của các bà mẹ Việt Nam. Nhưng thực ra, đó là lời xin vâng sâu sắc đối với cái nhìn và ý định của Thiên Chúa trong cuộc đời của cả hai mẹ con. Mẹ không biết chương trình mà Thiên Chúa mời Mẹ bước vào sẽ như thế nào? Kết thúc ra sao? Và số phận của đứa con thân yêu? Mẹ không can thiệp mà chỉ cúi đầu, thinh lặng: “Này tôi là tớ nữ của Chúa..”. Nỗi đau của Mẹ còn gấp bội khi vì sứ vụ, người con ấy tưởng như  không còn gắn bó với mẹ nữa “Tôi và bà có can chi” (Ga 2,4) hoặc “Kẻ nghe Lời Thiên Chúa thì có phúc hơn” (Lc 11,28b). Chính Đứa Con Yêu Dấu – cái “núm ruột” mà Mẹ đã nâng niu ấy đã khẳng định như vậy để rồi một ngày kia, Ngài hoàn toàn tuột khỏi tay Mẹ; còn Mẹ thì bỗng nhiên phải đứng trên một địa vị khác “Bà Evà mới”- người mẹ chung của nhân loại. Phải chăng Mẹ đã chẳng “mang nặng đẻ đau”, đã chẳng nắn nên con bằng chính “máu thịt” của riêng mình, nuôi nấng, dạy dỗ, cho con thừa hưởng tiếng nói của dân tộc mình, truyền thống của gia đình, cha ông mình…Tâm trạng giằng co của một người mẹ và những hy sinh lớn lao ấy đã thực sự làm tôi xúc đọng. Tình mẫu tử của Mẹ sao Việt Nam quá! Tế nhị, kín đáo và can đảm quá! Mẹ đã diễn tả tuyệt vời hết các “huyền thoại mẹ” “Ca dao mẹ“lòng mẹ” mà bất cứ người Việt Nam nào khi hát lên cũng thấy rung động.

Mẹ ơi, sông có thể cạn, đá có thể mòn, nhưng “biển Thái bình của lòng Mẹ” thì có bao giờ vơi cạn, và hình tượng Mẹ nơi cộng đoàn tín hữu, đặc biệt nơi cộng đoàn tín hữu Việt Nam chúng con sẽ không bao giờ mất đi. Các bà mẹ Việt Nam sẽ có được bài học sống động về cách thể hiện tình mẫu tử, các thiếu nữ Việt Nam sẽ nhìn lên Mẹ để thấy được thế nào là đức tính thủy chung, dịu dàng, đôn hậu; thế nào là nét đẹp cao quý của người con gái nết na đức hạnh. Các thanh niên sẽ học nơi Mẹ bài học của niềm tin. Các cụ già sẽ bám lấy Mẹ như niềm an ủi khôn cùng. Riêng chúng con, những phụ nữ nữ tu sẽ cùng với Mẹ đi vào sự thinh lặng nội tâm để chiêm ngắm và tôn thờ mầu nhiệm Thánh Thể Chúa trong cuộc đời, đồng thời cùng với Mẹ chúng con sẽ “suy đi nghĩ lại trong lòng”, để biết “sống yêu mến và thể hiện ơn gọi phụ nữ của mình cách trọn hảo nhất”4  nơi đời sống tu trì.

Sr. Lucia Xuân Trang

 

 

 

 

Comments are closed.