Hai nụ hoa đầu tiên trong Giáo hội Việt Nam

0

Hai nu hoa dau tien

Vườn hoa đoàn sủng của Giáo Hội có vô vàn sắc thái vì xuất phát từ ân điển muôn hình vạn trạng của Thánh Thần. Như mỗi loài hoa có hương thơm, màu sắc, hình dáng khác nhau, đời sống thánh hiến cũng nở rộ rất nhiều hình thái phong phú: Đan tu, Trinh nữ, Ẩn sĩ, Góa phụ, Dòng tu sống đời chiêm niệm, Dòng tu dấn thân hoạt động tông đồ, Tu hội đời, Tu đoàn tông đồ, những người dâng mình cho Thiên Chúa qua lời hứa thánh hiến đặc biệt (x. Tông huấn Vita Consecrata, số 5-12)[1].

Vườn hoa đời dâng hiến đó cũng nở rộ trong Giáo Hội Việt Nam, trong đó những nụ hoa đầu tiên là các Nhà Mụ hay Nhà Phước[2] Mến Thánh Giá và Đa Minh, nảy sinh từ lịch sử truyền giáo. Nhân dịp tìm về nguồn cội 300 năm của Nhà Mụ Đa Minh Việt Nam (1715-2015) tiền thân của Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp chúng ta, bài viết này cố gắng kể ra một số sắc thái riêng của những nụ hoa đầu tiên này, khi đối chiếu một vài bản luật cổ của Dòng (thế kỷ XVIII-XIX) với bản luật cùng thời của chị em Mến Thánh Giá.

1. Giới thiệu nguồn gốc và các chỉ thị

Thật là khó nói về lịch sử hình thành các nhà mụ Đa Minh Việt Nam, nhất là xác định thời điểm chính xác và kể ra danh tánh của Đấng sáng lập thì quả là một vấn đề nan giải, bởi vì các dữ liệu lịch sử rành rọt đáng tin cậy, có giá trị và được kiểm chứng, thực là hiếm hoi[3]. Dù sao chúng ta có thể khẳng định rằng sự ra đời của các nhà mụ Đa Minh gắn liền với công cuộc truyền giáo của các cha thừa sai Đa Minh người Tây Ban Nha thuộc tỉnh dòng Mân Côi Philippine, được mời đến truyền giáo tại Đàng Ngoài (năm 1676), và chính thức phụ trách miền Đông Đàng Ngoài (năm 1693).Các nhà mụ này cho đến nay thường được xác định là có nguồn gốc từ năm 1715 dựa theo đoạn trích ngắn ngủi sau đây:

Tại Bắc Kỳ từ năm 1715, các Cha Chính, nhằm giúp việc dạy dỗ đạo lý và nghề nghiệp cho các phụ nữ và thiếu nữ Công Giáo, đã quy tụ các trinh nữ Dòng Ba như là những kẻ trợ giúp các nhà truyền giáo, trong nhiều hạt của Bắc Kỳ, với sự chấp thuận của các Ðức giám mục (Ðại Diện Tông Tòa). Mỗi nhà được tự lập với nhau và sống theo kỷ luật riêng”[4].

Sau khi thành lập, các Cha Chính đã chăm sóc các chị, dĩ nhiên với sự thỏa thuận của các Đấng Bản Quyền là các vị Đại Diện Tông Tòa. Trong lãnh thổ của địa phận Đông này đã có sự hiện diện tốt lành chị em dòng Mến Thánh Giá do Đức Cha Lambert de la Motte thành lập năm 1670 tại Kiên Lao. Nhưng có lẽ từ sau khi quy tụ các chị em Dòng Ba Đa Minh sống chung với nhau trong một nhà và tuân giữ cùng một quy luật, các cha Đa Minh cũng dạy dỗ, chăm sóc và có khi ép nhiều chị Mến Thánh Giá trong địa phận chuyển sang Dòng Ba[5].

Tuy nhiên, qua một số bức tâm thư của các Cha Chính hay các Cha Bề Trên Phụ Tỉnh Dòng Đa Minh (Vicarius Provincialis)[6], chúng ta biết được rằng các ngài đã từng viết các chỉ thị để hướng dẫn chị em Đa Minh và Mến Thánh Giá sống theo kỷ luật trong địa phận của các ngài. Cả hai đều được dạy dỗ theo cùng một tinh thần bởi vì đối với các ngài, chị em Dòng Ba Đa Minh và chị em Dòng Mến Thánh Giá cũng có tinh thần và nếp sống hãm mình như nhau. Hiện nay, chúng ta chỉ còn giữ lại hai lá thư của Cụ Chính Phê (tức là Đức Cha Feliciano Alonso) viết năm 1791, thư của Cụ Chính Giua-Kinh Hoan viết năm 1799, thư Cụ Chính Chiêu viết năm 1828, thư Cụ Chính Giêrônimô Vọng/ Liêm (Thánh tử đạo Jeronimo Hermosilla +1861) viết năm 1836, thư Đức Thầy Khang (Đức Cha Bernabé Garcia Cezon) cùng với một bản luật riêng cho chị em Nhà Mụ Đa Minh viết vào năm 1865[7]. Các lá thư này được coi là sách lề luật cần phải tuân giữ, học hỏi và đọc trong bữa ăn. Qua những lá thư này, chúng ta cũng biết được trước đó, Nhà Mụ Đa Minh (và Mến Thánh Giá) đã từng có bản luật riêng cho mình rồi[8]. Tiếc rằng hiện nay chúng ta không có trong tay những bản luật ấy để đối chiếu hầu tìm ra nét đặc thù của mỗi dòng trong buổi sơ khai. Do đó, các tâm thư này và bản luật năm 1865 sẽ trở thành nguồn tài liệu chính yếu cho bài viết này để tìm lại căn tính của Nhà Mụ Đa Minh, sau khi so sánh phần nào với bản luật đầu tiên (1670) và bản luật cuối thế kỷ XVIII của chị em Mến Thánh Giá.

2. Tâm Thư của Cụ Chính Phê 1791

Bây giờ chúng ta trình bày lá thư của Cụ Chính Phê viết ngày 13/7/1791 nhằm ngày 30/6 năm Tân Hợi, tức là vào năm thứ 23 ngài coi sóc chị em trong cương vị Bề Trên Phụ Tỉnh và trước khi ngài được phong chức giám mục năm 1793 tại Trung Linh.

a) Nội dung

Tâm Thư mở đầu bằng những lời thế này:

“Phatêrê Chính Phê, Dòng Ông Thánh Duminhgô, Phô-rô-vi-cá-ri-ô A-phông-sô-li-gô và Vi-cá-ri-ô Phô-rô-vinh-thi-a-lừ địa phận bên Đông trong nước An Nam gửi lời thăm các Mụ cùng các chị em Dòng Hãm Mình Ông Thánh Duminhgô cùng các Mụ các chị em họ Mến Câu Rút ở bên Đông này, xin cho được mọi sự lành cùng ra sức giữ lề luật riêng chị em cho giọn.

Trước hết, Thầy truyền cho chị em cứ lề luật mình mà ăn ở cho cẩn thận. Vậy lề luật chị em Hãm Mình và lề luật chị em Mến Câu Rút dù khác nhau mặc lòng, song cũng tóm lại sự hãm mình cả, vì kẻ mến Câu Rút thì phải hãm mình và kẻ hãm mình cho được phúc thì phải hãm mình vì mến Câu Rút. Ấy vậy cho nên hai lề luật cũng có nhiều điều phải giữ như nhau và cũng có một ý cho chị em làm những việc lành phúc đức cho đáng Đức Chúa Lời thương đời này và đời sau vô cùng”[9].

Sau những lời mở đầu xác định địa chỉ và mục đích, Tâm Thư đưa ra 11 chỉ thị được tóm tắt như sau:

  1. Chị em phải yêu mến Đức Chúa trên hết mọi sự.
  2. Chị em cần phải có mỗi người một sách lề luật và siêng năng đọc. Vào ngày lễ không nên làm việc xác nhưng giữ lễ và học hành chữ nghĩa.
  3. Chị em không được buôn bán riêng hay để của riêng, nhưng phải để làm của chung sinh ra bổng lộc.
  4. Bà Mụ phải phát áo cho chị em hàng năm, phải tìm thuốc thang và chăm sóc chị em bệnh.
  5. Bà Mụ không được tự ý cho vay mượn, nhưng phải trình với thầy cả cai và được sự đồng thuận của hơn nửa phần chị em. Không được tự ý cho ai của gì quý giá.
  6. Chị em không cho đàn ông vào nhà ăn uống, nhưng cho họ ăn ở nhà khách trống trải sạch sẽ. Đối với những người có chồng con chị em cũng làm như thế.
  7. Không nên để thầy cả đến làm lễ cho chị em, cả trong trường hợp chị em liệt chịu của ăn đàng hay chọn bầu Bà Mụ[10], Chị Ả[11], trừ khi không có nhà thờ gần đấy.
  8. Không được cho thầy cả hay người nhà của thầy cả ăn cơm trong nhà và nghỉ đêm.
  9. Không được đi thuyền với người thầy cả hay buôn bán cho người nhà thầy. Không được giữ hộ tiền bạc hay đồ quý của thầy cả nào nếu chưa có lời của thầy cả cai mình.
  10. Không nên cho thầy cả vay tiền hay đi vay tiền của bổn đạo cho thầy cả.
  11. Khi đi đàng với người nam, nhất là người nhà thầy, chị em không nên đưa trầu cho họ[12].

Trong các mệnh lệnh này, việc tôn kính Chúa được nêu lên đầu tiên. Tiếp theo là việc đọc luật và học hành, rồi đến đời sống vật chất như: để của cải bổng lộc làm của chung, chăm sóc nhu cầu đời sống và sức khỏe của chị em, vay mượn tiền của. Sáu chỉ thị còn lại lưu ý nhiều đến việc tiếp xúc với người khác giới, bất kể người đó là linh mục hay tu sĩ nam, thậm chí cũng phải đề phòng cả đàn bà đã có chồng. Tuy ngắn gọn, nhưng Tâm Thư này đạt được một uy tín rất cao như sẽ thấy trong phần đối chiếu.

b) Đối chiếu với Tâm Thư của Cụ Chính Hoan 1799

Tâm Thư của Cụ Chính Phê đã trở thành bản luật rất quan trọng cho chị em Đa Minh (và cả Mến Thánh Giá) trong thời kỳ đầu, đến nỗi các vị kế nhiệm ngài như Cụ Chính Hoan (1799, điều I), Cụ Chính Vọng (1836, điều I, điều IV), Đức Thầy Khang (1865, điều II) đều dựa vào đó như quy luật nền tảng. Thật vậy, khi so sánh Tâm Thư này với Tâm Thư của Cụ Chính Hoan viết cho chị em Đa Minh ngày 23/11/1799, chúng ta cũng thấy được phần nào nét khổ chế và sự quan phòng tối đa của chị em tiền thân chúng ta khi tiếp xúc với nam giới, mặc dù ngôn ngữ diễn tả sự canh phòng này được trình bày như những lệnh cấm. Lá thư của Cha Chính Hoan gồm có 10 chỉ thị được tóm tắt như sau:

  1. Phải giữ cẩn thận 11 điều Đức Thầy Phê đã dạy, nhất là điều 6, 8 và 10.
  2. Cấm không cho người nào nằm đêm hay ở ẩn trong Nhà Mụ, trừ lúc bị cấm đạo ngặt nghèo. Cấm chị em ra vào phòng ngài hay phòng giúp lễ ở ngoài nhà khách.
  3. Cấm đàn ông, nhất là người nhà thầy vào trong Nhà Mụ. Ai có việc gì thì ở nhà khách. Chị em nào để cho người nam vào phòng mình thì sẽ bị phạt rất nặng.
  4. Cấm chị em kết nghĩa riêng với người nam nào, dù kẻ ấy là người có nhân đức.
  5. Cấm chị em đấm bóp cho người nam nào, dù là người có tiếng nhân đức, người có bậc trọng hoặc bị bệnh nạn.
  6. Cấm các Mụ cho chị em đi tết đi cơm mới hay đi thăm các thầy cả địa phận khác. Chỉ được đi thăm ba đấng là Đức Thầy, Bề Trên Dòng và Thầy Cả cai địa phận, nhưng phải đi hai người với nhau.
  7. Cấm chị em uống rượu hay để rượu trong phòng riêng. Nếu thầy thuốc dạy phải lấy rượu làm thuốc thì để cho bà Mụ giữ rượu.
  8. Chị em phải siêng năng đọc kinh suy ngắm trong nhà nguyện, chỉ khi nào Bà Mụ tha phép thì mới được đọc riêng.
  9. Chị em không lấy roi cũ mà đánh tội vì roi ấy dữ quá, nhưng dùng roi mẫu của Thầy phát cho. Mụ cũng không được dùng roi ấy để phạt chị em.
  10. Chị em nào không thuộc kinh bản chung đọc trong lễ ban chiều, thì không được mặc áo dòng.

Dù nội dung bức Tâm Thư có vẻ khắt khe (có lẽ do ảnh hưởng của công nghị Kẻ Vĩnh tháng 10/1795) nhưng vẫn chất chứa tâm tình yêu thương, tha thiết của một người cha dành riêng cho con gái mình trong lời mở đầu: Thầy thương xót linh hồn phô con lắm, nên truyền cho phô con phải giữ những điều sau này” và câu kết thư: “Bấy nhiêu xin phô con cầu cho thày được rỗi linh hồn mà gặp phô con trên nước Thiên đàng”.

Dù sao, ở đây chúng ta cũng ghi nhận tầm quan trọng của lá thư Đức Thầy Phê và một vài điểm khác biệt giữa tinh thần Dòng Đa Minh và Mến Thánh Giá thời kỳ đầu. Chẳng hạn: Trong số 9, chị em Đa Minh được giảm bớt việc đánh tội và sửa phạt bằng roi, đang khi đó, theo luật dòng Mến Thánh Giá, không chỉ có Bà Mụ mà hết mọi chị em trong nhà vẫn còn dùng roi để sửa phạt những ai có lỗi nặng, mỗi người 5 roi và đủ 3 ngày[13]. Ngoài ra số 10 lưu ý tới áo dòng như một nét riêng của chị em Đa Minh, bởi vì chị em Mến Thánh Giá thời kỳ đầu không có tu phục.

c) Đối chiếu với các bản luật cổ của Dòng Mến Thánh Giá

Có lẽ sẽ không cân xứng khi đặt một bức tâm thư ngang tầm với một bản luật để so sánh, bởi vì thông thường thể loại tâm thư có hình thức và mục đích khác với thể loại một bộ luật. Tuy nhiên, một khi Tâm Thư này bao gồm những chỉ thị của Đấng Bề Trên thì chúng ta có thể nghiên cứu như một bản luật và tìm ra sự tiến triển về mặt nội dung. Thật vậy, khi đối chiếu nội dung bức tâm thư của Cụ Chính Phê (trở thành Đức Cha Phê hai năm sau 1793) với bản luật đầu tiên của Dòng Mến Thánh Giá (1670) do Đức Cha Lambert de la Motte viết cho các chị[14], chúng ta thấy các chỉ thị của ngài có nội dung hoàn toàn mới mẻ, bởi vì hoàn cảnh của những năm hậu bán thế kỷ XVIII đã thay đổi nhiều so với thế kỷ XVII.

Nhưng 4 năm sau khi bức tâm thư này được đọc, học hỏi và tuân giữ trong các nhà mụ thuộc địa phận Đông, tức là vào tháng 10 năm 1795, công nghị Kẻ Vĩnh ban hành “11 phép cho dòng Mến Câu Rút” (in trong sách “Phép nhà chị em Mến Câu Rút Đức Chúa Jêsu”, Kẻ Sở 1907, tr. 34) mà chị em phải tuân giữ để tránh xa những nguy hiểm khi tiếp xúc với giới nam, cách riêng với những người Nhà Đức Chúa Trời. Nội dung và con số 11 này không liên quan gì đến Tâm Thư của Cụ Chính Phê sao?

Nếu so sánh Tâm Thư này với sách Phép dòng chị em mến Câu Rút Đức Chúa Giêsu do thầy Cao Carolus (Charles-Francis Langbis) ghi chép theo lời đọc của Đức Giám mục Jacques-Benjamin Longer vào khoảng năm 1795-1802, chúng ta nhận thấy có những đoạn nói tới tương quan với người khác giới trong sách luật này, nghe như ngôn từ của Cụ Chính Phê. Sau đây là vài ví dụ:

Tâm Thư của Cụ Chính Phê 1791 Phép Dòng Chị Em Mến Câu Rút
1795-1802
Điều 6: Trong nhà chị em chẳng nên cho đàn ông nào vào ăn uống đấy, hễ đàn ông nào có việc gì với chị em thì phải cứ nhà khách là hai ba gian trống ngoài ngõ, tự đấy chẳng ai được vào nữa.   

 

 

 

 

 

 

 

Dù bổn đạo có chồng con thì cũng chẳng nên cho năng ra vào trong nhà chị em đâu. Lại trong ba gian nhà khách chị em chẳng nên để đồ lễ gì làm ăn đấy, một phải dọn sạch sẽ cho khách ngồi đấy.

 

Điều 13,3. Trong nhà chị em chẳng nên có bao giờ có đàn ông vào, cùng ăn uống đấy, hoặc đàn ông nào có việc gì, thì phải làm 1 chút chái ngoài, hay là bên trong cửa, dựng ra nửa gian, cho kẻ có việc gì cùng chị em sẽ đứng đấy mà nói, song le trong chị em ai muốn nói khó cùng chị em đàng ấy thì phải chiềng mụ đã, cho mụ cắt ai trong chị em đi nghe vuối, hoặc người đi nghe hãy còn trẻ, thì đứng bên trong gần đấy mà nghe, rồi việc ấy, người đã nghe phải chiềng mụ, cho mụ được biết các đều ấy, song le chẳng nên nói ra cho kẻ khác biết, mà có lỗi, hoặc có ai hỏi mụ đều gì, mà phải ra ngoài ấy, thì mụ cũng phải có 1 chị em làm chứng mà nghe cho được làm gương, cho các chị em được bắt chước. 4. Người bổn đạo nữ có chồng chẳng nên năng ra vào nhà chị em, hoặc người nữ góa bụa chẳng có tiếng xấu gì, cùng phải người hay giữ nết na, muốn học đàng phúc đức, đàng nguyện ngắm, cùng đàng hãm mình thì nên cho ra vào nhà chị em, cùng con gái nào tốt nết na, dù rắp lòng lấy chồng, song le chửa có liệu việc ấy, thì cũng nên cho ra vào tập việc lành cùng chị em.
Điều 7:  Các nhà chị em chẳng bao giờ nên để thầy cả làm lễ đấy, ví bằng có chị em liệt phải chịu Viaticum, hay là thầy cả có đến chọn Mụ, chị Ả, mà trong làng chẳng có nhà thờ gần đấy, chốc ấy mới nên làm lễ nhà nguyện chị em mà thôi. Điều 13,5. Các nhà chị em ở chẳng nên có bao giờ thầy cả làm lễ đấy, có một khi người chị nào phải liệt nặng, chẳng đem được nhà khác, cho được chịu Viaticum, hay là ngày nào thầy cả đến bắt thăm mà chọn Mụ và chị Ả và kẻ giữ việc, khi chẳng có nhà nào gần, cho thầy cả được làm lễ thì mới nên làm mà thôi.
Điều 8: Dù thày cả nào hay là người nhà thày cả nào hoặc có việc gì mà đến thì chẳng được cho ăn cơm trong nhà cùng nằm đêm đấy. Điều 13,6. Thầy cả hay là người thầy cả nào, hoặc có việc gì mà đến, thì chẳng được cho ăn cơm trong nhà, cùng nằm đêm đấy. 7. Hễ ai ai là người nam, thì cũng cấm chẳng được cho ăn hay là nằm đêm trong nhà mụ nữa.
Điều 9: Chị em chẳng được đi thuyền với người thày cả nào cùng chẳng được buôn bán cho người nhà thày và chẳng nên để trong nhà của gì người thày cả nào như đồng tiền hay là của trọng khác khi chưa có lời cùng thày cả cai mình. Điều 13,8. Chị em chẳng nên bao giờ đi một thuyền với người nhà thầy cả nào, cùng buôn bán đí gì thì càng chẳng nên, cùng cấm sự ấy nhặt lắm. 9. Còn sự thuyền thầy cả nào, cùng thuyền nhà mụ nào, đi làm một cùng nhau, thì càng cấm sự ấy nữa. 10. Chị em chẳng nên chứa trong nhà những của người nào, nhà thầy cả nào, như đồng tiền, hay là của trọng khác, khi chẳng có nhời thầy cả mình.
Điều 10: Chị em chẳng nên cho người thày cả nào vay đồng tiền hay là chịu miệng cho người ấy vay tiền bổn đạo khi chẳng có lời thày cả coi mình dạy. Điều 13,11. Chị em chẳng nên cho người nhà thầy nào vay tiền hay là chịu miệng cho người ấy được vay tiền, mà dùng việc gì, khi chẳng có nhời thầy cả mình dạy.
Điều 11:  Chị em đi đàng với người nam, nhất là người nhà thày, thì chẳng nên đưa giầu cho vuối. Điều 13,12. Chị em đi đàng gặp người nam, nhất là người nhà thầy thì chẳng nên đưa trầu cho, ai chẳng cứ bấy nhiêu phép trước này thì lỗi nặng.

 

3. Lề luật riêng Chị em Dòng Thứ Ba ông Thánh Duminhgô 1865

Như đã nói ở trên, trong 6 bức tâm thư của các Đấng Bề Trên được sao chép lại, chỉ có Cha Chính Hoan viết riêng cho các chị em Dòng Ba trong địa phận Đông mà thôi. Đến năm 1865, Đức Cha Bernabé Garcia Cezon (Đức Thầy Khang) hoàn tất một bản luật mang tên Lề luật riêng các chị em Dòng Thứ Ba ông tthánh Duminhgô; hoặc Điều luật riêng các chị em ở chung trong nhà Dòng Thứ Ba ông thánh Duminhgô. Bản luật gốc được viết bằng chữ Nôm, in từ mộc bản tại Phú Nhai, nhưng đã bị thất lạc sau năm 1975.

Bây giờ, chúng ta đối chiếu bản luật này (viết tắt: Bản Luật TOP) với bản luật cuối thế kỷ XVIII của chị em Mến Thánh Giá (viết tắt: Bản Luật MTG) và kể ra một số đặc điểm nổi bật của chị em Nhà Mụ Đa Minh.

a) Bản Luật ngắn gọn

Điều Bản Luật TOP 1865 Bản Luật MTG 1795-1802
1 Dạy khi ai muốn vào nhà chị em Dòng Thứ Ba ông thánh Duminhgô phải làm những sự nào. Vì ý nào mà lập dòng này.
2 Dạy về sự ăn mặc Ý trong dòng này là ý nào.
3 Dạy tự ngày vào dòng cho đến khi khấn phải giữ những sự nào. Ai nên, ai chẳng nên vào dòng này
4 Dạy về sự khấn Dạy những việc lành kẻ vào dòng này phải làm.
5 Dạy về sự nguyện ngắm cùng xưng tội chịu lễ Những phép chung kẻ vào dòng này phải làm mỗi ngày.
6 Dạy về sự ăn chay cùng kiêng thịt Phép chị em phải giữ ban đêm.
7 Dạy chẳng nên để của riêng Những phép kẻ vào dòng này phải giữ ngày lễ cùng ngày ăn chay.
8 Dạy khi chị em ra ngoài nhà phải cứ phép nào Phải coi sóc kẻ liệt lào trong dòng như thế nào.
9 Dạy về sự thăm viếng kẻ liệt Những việc lành phải làm để mà cầu cho linh hồn kẻ đã sinh thì trong dòng.
10 Dạy khi chị em liệt phải coi sóc cho nhau là thế nào Chị em phải năng xưng tội cùng chịu lễ.
11 Dạy khi người nào trong dòng sinh thì đoạn phải làm những sự gì Chị em phải siêng năng làm ăn.
12 Dạy về sự khi chị em gửi thư cho ai hay là khi người nào gửi thư cho chị em Phép chị em phải giữ về sự tắm cùng gội đầu.
13 Dạy chị em phải hợp nhau mà chọn người làm Mụ, làm chị Ả là thế nào Khi chị em đi việc chi ra khỏi cửa nhà phải giữ phép làm thế nào.
14 Dạy cho biết chính việc Mụ là thế nào Chị em phải giữ miệng là thế nào.
15 Dạy khi chị em làm ăn phải giữ phép nào Khi chị em gửi thư cho ai hay là ai gửi thư cho chị em phải giữ phép là thế nào.
16 Kể các sự lỗi trong phép dòng cùng các sự phạt là thế nào Chị em phải mặc áo chủng nào.
17 Dạy cho biết những lề luật trước này buộc mình là thế nào Chị em chẳng nên cầm của chi riêng.
18 Dạy cho Mụ biết cùng phạt hay là tha chị em cho vừa phải Phải khấn trong dòng là thế nào.
19   Phép chọn bà mụ cùng chị ả và kẻ giữ việc trong nhà.
20   Chính việc bà mụ cùng chị ả là những việc nào.
21   Chị giữ việc phải giữ những việc nào cùng giữ là thế nào.
22   Kể những lỗi nhẹ cùng cách phạt là thế nào.
23   Kể những sự lỗi nặng, nửa nhẹ cùng cách phạt là thế nào.
24   Kể những sự lỗi nặng cùng cách phạt là thế nào.
25   Kể những lỗi nặng hơn cùng cách phạt là thế nào
26   Kể những sự lỗi rất nặng kẻ phạm đến phải bỏ nó đi cho khỏi nhà dòng.

Chúng ta biết rằng Tâm Thư của Cụ Chính Phê có 11 điều, được nhắc lại và triển khai trong Tâm Thư của Cụ Chính Hoan thành 10 điều. Cụ Chính Vọng cũng làm như thế trong Tâm Thư của ngài với 11 điều. Tâm Thư Đức Thầy Khang có 9 điều. Nếu so sánh các Tâm Thư với nhau, chúng ta thấy trong khoảng thời gian từ năm 1791 đến 1865, các khoản luật gia tăng không đáng kể.

Trong khi đó, bản luật đầu tiên của Dòng Mến Thánh Giá (1670) gồm có lá thư khởi đầu, lời tựa và 14 điều. Bản luật thế kỷ XVIII (1795-1802) của các chị cũng có lời tựa và 26 điều, quảng diễn cụ thể bản đầu tiên, ít nhất thêm 10 vấn đề như các lỗi nặng nhẹ và các hình phạt, việc thư từ. Nếu so sánh Bản Luật TOP năm 1865 với Bản Luật MTG năm 1795-1802, thì Bản Luật của chúng ta cũng ngắn gọn hơn, không chỉ về số lượng mà còn ngắn trong các vấn đề.

Khi so sánh các vấn đề được bàn đến trong hai Bản Luật, một vài nét riêng của mỗi nhà Dòng cũng xuất hiện khá rõ.

Vấn đề Bản Luật TOP 1865 Bản Luật MTG 1795-1802
Mục đích, lý do lập Dòng   Điều 1, 2 và 4
Mục đích Bản Luật Lời tựa Lời tựa
Điều kiện vào Dòng Điều 1 Điều 3
Phụ nữ tội lỗi vào dòng   Điều 4.5
Áo dòng Điều 2  
Ăn mặc Điều 2 Điều 16
Giai đoạn đào tạo trước khi khấn Điều 3  
Khấn Dòng Điều 4 Điều 18
Nguyện ngắm, lần hạt, đọc sách Điều 5  
Xưng tội, rước lễ Điều 5 Điều 10, 11
Các kinh đọc hàng ngày   Điều 5
Ăn chay kiêng thịt Điều 6 Điều 7.3 và 7.4
Để làm của chung Điều 7 Điều 17
Khi ra khỏi nhà Điều 8 Điều 13
Thăm viếng kẻ liệt Điều 9  
Thăm viếng chăm sóc phụ nữ già trẻ   Điều 4.3
Chăm sóc nhau khi liệt lào Điều 10 Điều 8
Khi có chị em qua đời Điều 11 Điều 9
Thư từ Điều 12 Điều 15
Bầu chọn bà Mụ, chị Ả Điều 13 Điều 19
Nhiệm vụ của bà Mụ Điều 14 Điều 20, 21
Khi làm việc chung, việc riêng Điều 15 Điều 11
Tắm rửa, gội đầu   Điều 12
Nghỉ đêm Điều 15 Điều 6
Việc giữ miệng lưỡi   Điều 14
Bốn loại lỗi và hình phạt Điều 16 Điều 23, 24, 25, 26
Mức độ luật buộc Điều 17  

b) Về tinh thần hay linh đạo

Linh đạo của chị em Mến Thánh Giá được xác định rõ ngay trong hai đoạn đầu của Bản luật đầu tiên là suy ngắm mầu nhiệm Chúa Giêsu chuộc tội chịu nạn chịu chết cho cả và nhân loại, để chị em không còn sống cho chính mình, nhưng sống cho Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta. Theo tinh thần đó, chị em thực hiện 5 công tác chính đó là: cầu nguyện, dạy dỗ, giúp kẻ liệt, rửa tội trẻ nhỏ hấp hối và “khuyên những con chơi”. Đối tượng của các công tác này là các trẻ em, thiếu nữ hay những kẻ cùng phái (Điều 1 và 2).

Còn căn cước của chị em Đa Minh được tuyên bố đầy xác tín trong Lời tựa của Bản Luật TOP 1865[15] dựa trên ba lý do: 1/ Dòng này thật là dòng thánh vì được các Đức Thánh Cha nhìn nhận và kể vào số các dòng của Giáo Hội, vì chị em có đời sống chung, áo dòng, năm tập và khấn giữ lề luật dòng bắt chước các chị em đồng trinh Dòng Thứ Hai ông thánh Duminhgô trong một số điều. “Vì sự ấy, dòng này chẳng phải như họ kia họ nọ, thí dụ như họ Rôsariô hay là họ chị em Mến Câu Rút Đức Chúa Giê-su, cùng các họ khác nữa”; 2/ Chị em được hưởng nhiều đặc ân về phần đạo và phần đời, theo các sắc chỉ của 14 đời Giáo Hoàng ban cho. Một trong những đặc ân đó là cho các anh em chị em, cùng các nhà riêng dòng này khỏi quyền các Đấng vít-vồ sửa phạt”!; 3/ Chị em phải vâng lời các Đấng Bề Trên Cả như vị đại diện của Thánh Đa Minh là cha chung Dòng Nhất, Dòng Nhì và Dòng Ba.

Như vậy tinh thần hay linh đạo của chị em Dòng Ba cũng nằm trong tinh thần Dòng Đa Minh nói chung là sống hai chiều kích chiêm niệm và hoạt động. Đoàn sủng này cũng được diễn tả qua mục tiêu của Bản Luật TOP 1865 mà chúng ta may mắn có một bút tích ngắn cùng thời quy chiếu như sau:

Quy luật nhà phước cũng giống như quy luật Nhà Đức Chúa Trời, tuy phải thích nghi cho các phụ nữ, được quy tụ với mục tiêu duy nhất là phụng sự Thiên Chúa và giúp vào việc truyền giáo”[16].

c) Về lời khấn

Trong thời kỳ đầu các chị Mến Thánh Giá khấn ba lời quen thuộc (cho ở khó khăn, giữ mình sạch sẽ, vâng lời chịu lụy) sau hai năm thử luyện (Bản Luật 1670, điều 1). Sang thế kỷ XVIII, do hoàn cảnh xã hội bấp bênh và đạo Công Giáo bị bách hại, nên các Đấng Bản Quyền chỉ cho phép các chị lớn tuổi đã giữ mọi phép tắc trong Dòng lâu năm mới được khấn ba sự trọn đời và có thể khấn lại từng năm. Chị em nào không được khấn thì làm lời dốc lòng theo mẫu chung với lời khấn (Bản Luật MTG, điều 18). Năm 1888, các chị nhận được chỉ thị trong đó ấn định 15 tuổi mới được vào Dòng và 40 tuổi mới được khấn và đi làm việc tông đồ bên ngoài[17].

Trong khi đó, theo Tâm Thư của Cụ Chính Chiêu năm 1828, ngài cho biết đã từng có luật cho phép chị em Đa Minh và Mến Thánh Giá đến tuổi 16 và sống trong Dòng 5 năm được mặc áo Dòng. Nếu ở trong Dòng đủ 10 năm và đến tuổi 30 thì được khấn theo luật riêng của mỗi dòng[18]. Nhưng nhiều nhà đã không thi hành được điều này, do hoàn cảnh xã hội nêu trên, làm cho nhiều chị em bị thiệt thòi ơn ích khi sống cũng như khi chết. Cho nên ngài lặp lại mệnh lệnh này, đồng thời truyền cho các nhà phải làm theo phép công bằng về việc cầu nguyện và xin lễ cho các chị em ấy đã qua đời.

Viết riêng cho chị em Đa Minh trong Bản Luật TOP 1865, Đức Thầy Khang còn mở rộng cánh cửa khấn dòng cho những ai đã vào Dòng được hơn 1 năm, học thuộc và hiểu biết luật Dòng và đủ 25 tuổi. Khấn sinh do Bà Mụ đề cử, với sự ưng thuận của hơn nửa phần chị em đã khấn rồi, và với sự suy xét của Bề Trên Cả.Trong chị em hoặc là có ai muốn khấn ba sự sau này: một là chịu lụy, hai là ở khó khăn, ba là giữ mình sạch sẽ, mà Bề Trên cho khấn sự nào trong ba sự ấy thì cũng nên khấn(Bản Luật TOP, điều IV).

Dù sao chúng ta biết rằng các lời khấn này chưa phải là lời khấn theo Giáo luật. Thật vậy, một bút tích năm 1864 cho chúng ta biết rằng “các chị không có lời khấn dòng (như chúng ta hiện nay). Tuy nhiên các chị tuân giữ một quy luật sống giống như các tu sĩ, nếu họ muốn sống chung với nhau. Họ lãnh áo Dòng Ba do cha Chính Dòng hay do một cha Dòng được ủy quyền. Mãn năm tập, các chị cũng tuyên lời khấn trước mặt các vị ấy”[19].

d) Về Tu phục

Như đã nói trên,các bản luật của chị em Mến Thánh Giá không đề cập đến áo dòng. Hồi đó các chị sống giữa lòng Giáo Hội và xã hội để hướng về việc truyền giáo cho lương dân. “Đây là một thể chế rất mới mẻ trong Hội Thánh, tuy nhiên nó lại đáp ứng nhu cầu khẩn thiết cho mọi xứ truyền giáo”[20]. Dù vậy, luật cũng quy định các chị mặc áo vắn đeo yếm và mặc quần, có lẽ giống như các chị em phụ nữ ngoài đời, nhưng không dùng tơ lụa, vóc lĩnh và màu đỏ, mà chỉ nhuộm màu đen, xám hoặc nâu (Bản Luật MTG, điều 16).

Còn áo dòng Đa Minh vốn có hai mầu trắng và đen, chất liệu làm bằng lông chiên. Nhưng trong đất nước An Nam không có chiên, cho nên chị em được dùng vải mầu trắng (tượng trưng cho sự trong sạch của tâm hồn) và mầu đen (tượng trưng cho sự chịu lụy, hy sinh hãm mình). Tuy nhiên trong thời kỳ bị cấm đạo, chị em được miễn chuẩn không mặc áo dòng giống như các chị em ở nước người, nhưng vẫn phải mặc bên trong áo vải con con đã được thầy cả làm phép (Bản Luật TOP, điều II).

e) Đời sống kinh nguyện

Bản Luật MTG thế kỷ XVIII quy định chị em mỗi ngày khi nghe đầu trống 5 thức dậy sớm mai, thì hợp lại nơi chung mà đọc các kinh (danh sách kể ra hơn 20 kinh), lần hạt Đức Chúa Giêsu, lần hạt 50 kính Đức Mẹ và suy ngắm nửa giờ. Ai muốn lần hạt riêng thì phải ở trên giường mà thầm thì (điều 5). Chị em lần hạt 150 và các kinh khác trong những ngày lễ (đoạn 7) và khi có chị em qua đời (điều 9).

Bản Luật TOP năm 1865 của chị em Đa Minh (điều V) không kể ra các kinh cần đọc mỗi ngày (trừ vài ba kinh phải đọc trước khi bầu chọn Bà Mụ, Chị Ả và sau khi phạm các lỗi nhẹ). Tuy nhiên, luật buộc chị em mỗi ngày nguyện ngắm 7 giờ[21]. Nếu bỏ một giờ thì phải ăn chay một ngày! Bản Luật kể ra nhiều ý nghĩa và lý do “thần học” của luật này: Thánh vương Đavít mỗi ngày 7 lượt ngợi khen Đức Chúa; Thiên Chúa dựng nên trời đất trong vòng 7 ngày; Chúa Giêsu trong 7 giờ chịu trăm nghìn sự thương khó. Có thể nói ý nghĩa này cũng dựa theo truyền thống kinh nguyện và phụng vụ của Dòng Đa Minh[22] như Đức Thầy Khang đã nói trong lời dẫn nhập. Nội dung các giờ nguyện ngắm là ca ngợi và tạ ơn Chúa vì đã tác thành vũ trụ và sinh ra ta, hoặc suy niệm về cuộc đời Đức Giêsu trong 150 Kinh Mân Côi.

Ngoài 7 giờ nguyện ngắm, chị em còn có giờ Kinh Chiều và lần hạt Rosariô. Mỗi ngày chị em chia làm hai hàng mà đứng chăm chú đọc 150 kinh. Đến tên cực trọng Giêsu và Maria thì phải cúi đầu xuống.

Tuy nhiên, các bản luật của chị em Mến Thánh Giá và Đa Minh cổ đều không nhắc đến Thánh Lễ hay Bí tích Thánh Thể, điều mà luật Dòng hôm nay cho là một yếu tố rất quan trọng không thể thiếu trong đời sống thánh hiến. Có lẽ bởi vì vào thời ấy việc dâng Thánh Lễ và rước lễ hàng ngày trong nhà Dòng còn rất hạn chế (chị em chỉ dâng lễ trong nhà vào dịp bầu Bà Mụ và Chị Ả, với điều kiện nhà ấy ở xa nhà thờ làng). Một bút tích khác năm 1864 (cùng thời với Bản Luật TOP này) nói rằng “Trong nhà phước có một nhà nguyện, nơi các chị tụ họp để đọc kinh cầu nguyện; nhưng khi tham dự Thánh lễ hay lãnh các bí tích thì họ ra nhà thờ xứ như các giáo dân khác. Mỗi khi đi từ nhà phước ra nhà thờ, các chị đi chung với nhau”[23].

f) Đọc sách, học hành

Bản Luật TOP nhắc nhở chị em Đa Minh đọc sách trong các giờ nguyện ngắm sáng, tối mỗi ngày. Dù vậy, theo tinh thần Tu luật Thánh Augustinô, chị em cũng nghe đọc sách trong các bữa ăn nữa để bồi bổ tâm linh và kiến thức. Khi nào thong dong, chị em phải đọc mỗi ngày một truyện thánh hay là một đoạn sách vườn hoa, hoặc đọc sách khác do bề trên dạy… (Bản Luật TOP, điều V). Ngoài ra, vào các ngày lễ trọng kiêng việc xác, thay vì may vá riêng, chị em còn học thêm chữ nghĩa để xem đủ các sách đã quen đọc (điều XV). Việc học chữ trong những ngày lễ cũng được khuyến khích đối với chị em Mến Thánh Giá (Bản Luật MTG, điều 7 và 11).

Chúng ta thấy việc học hành vào thời nhà mụ kể là ít ỏi, chủ yếu nhằm vào mục đích thờ phượng Chúa. Tuy nhiên, so với hoàn cảnh văn hóa và tri thức của người phụ nữ đương thời, việc học hành vẫn có một chỗ đứng ưu tiên, như đã thấy trong Tâm Thư của Cụ Chính Phê (số 2).

Để kết

Sau khi kể ra những yếu tố chính yếu trong đời sống dâng hiến của các chị Nhà Mụ Mến Thánh Giá và Đa Minh, chúng ta thấy rằng mặc dù hình ảnh bên ngoài của chị em chỉ là những phụ nữ thánh hiến bình dân, được kính trọng và yêu thương, cùng gánh thuốc đi bán dạo và rửa tội cho các em bé sắp chết, nhưng bên trong các chị vẫn có những đặc điểm riêng để nhận diện.

Vì tính chất và mục đích của các nhà mụ Mến Thánh Giá và Dòng Ba Đa Minh, các chị không giữ luật nội cấm (clausura) như các nữ tu theo Giáo luật thời đó quy định. Tuy nhiên, tùy theo hoàn cảnh, các chị giữ kỷ luật cách chặt chẽ, và thể hiện được nét đặc thù của hình thái tu trì đáng trân trọng này. Quả thực, hàng rào nhà mụ không làm cản trở bước chân truyền giáo của các chị, mà trái lại, kiến tạo nên những địa điểm yên tĩnh an toàn trong thời kỳ cấm đạo. Đây là một chứng từ khá hùng hồn về các chị Đa Minh:

“Không mấy khi người ngoài được lui tới nhà phước. Thản hoặc người nào do ân huệ đặc biệt được phép vào thì phải là người rất đáng tin cẩn và vì lý do hệ trọng. Rất ít khi cha xứ vào nhà phước, ngoại trừ khi có lý do trầm trọng và phải có người khác đi theo. […]Quả là phép lạ khi ở giữa xứ ngoại đạo, với những cuộc bách hại dữ dội, lại có thể thiết lập những nhà yên tĩnh như vậy được, trong đó biết bao linh hồn thánh thiện sống đời đạo đức sốt sắng, nhờ hương thơm nhân đức và gương lành, họ đã mang về cho Chúa biết bao nhiêu người ngoại đạo hay tội lỗi, cũng như nhờ bao công lao vất vả do đường sá xa xôi, họ đã đưa về trời hàng ngàn trẻ em bé thơ […].Trong thời buổi cấm đạo, […] các chị còn giúp đỡ các thừa sai bằng việc chuyển giao thư từ […].

Trong thời tương đối bình an, các chị thỉnh thoảng đi từng hai người vào các làng để rửa tội cho các trẻ em con nhà ngoại đạo sắp chết. Những chuyến đi như vậy thường là dài, thế mà, đội ơn Chúa, không xảy ra gương mù nào cả. Sau vài ba tháng, các chị trở về với danh sách những em bé được rửa tội, để lỡ có thể được thì chuộc các em nếu còn sống”[24].

Lịch sử cho thấy mỗi nhà dòng đều trải qua những thăng trầm, nhất là bị rơi vào thử thách đánh mất căn tính của mình, mà căn nguyên có thể là các Đấng Bề Trên hay Đấng Bản Quyền[25]. Nhưng nếu đọc lại những bản văn luật hay các bức tâm thư của các Bề Trên Dòng Đa Minh hoạt động tại miền Bắc từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, chúng ta cũng có cơ sở để khẳng định rằng vẫn luôn có những vị trân trọng luật riêng của chị em Mến Thánh Giá và Đa Minh, và vẫn còn mãi những nữ tu của hai Dòng kỳ cựu này cương quyết trung thành với lý tưởng nguyên thủy và trở thành nhân sự nòng cốt cho công cuộc cải tổ vào những năm 1950-1954 sau này. Những nụ hoa đầu tiên ấy của Giáo Hội Việt Nam đã nảy nở, lớn mạnh và vẫn tiếp tục tỏa ngát hương thơm Chúa Kitô trong Giáo Hội và thế giới hôm nay.

Sr. Maria Đinh Thị Sáng, O.P

____________

[1]Cha nguyên Bề Trên Tổng quyền Dòng Đa Minh trong buổi hội thảo tại Rôma 9/2/2011 kể ra 6 hình thái của đời sống thánh hiến như: 1/ Đan tu; 2/ Cộng đồng anh em hành khất; 3/ Những dòng giáo sĩ kỷ luật; 4/ Những dòng phục vụ; 5/ Những dòng chiêm niệm “ngoài đường phố”; 6/ Các tu hội thánh hiến giữa đời. Xem Carlos Alfonso Azpiros Costa OP. “Thần học về các hình thái lịch sử của đời thánh hiến”, trong Thời sự Thần học, 66 (2014), tr. 37-46.

[2]“Nhà mụ” là từ cổ chỉ đến các nhà Dòng Mến Thánh Giá và Dòng Ba Đa Minh thế kỷ XVII-XIX. Trong nhà mụ, người có bổn phận coi sóc các chị em về đời sống vật chất và tinh thần theo phép tắc được gọi là “bà mụ”. Sang thế kỷ XX, “bà mụ” bắt đầu mang một nghĩa là người đàn bà đỡ đẻ ở nông thôn, cho nên “nhà mụ” dần dần được thay thế bằng từ “nhà phước”. Từ “nhà phước” phù hợp với từ gốc “beaterio” mà các cha Tây Ban Nha thường dùng để gọi nhà của các bà phước hay chân phước (beatas) là các phụ nữ muốn sống độc thân và dâng mình cho Chúa mà không đi tu kín (Giáo luật ngày xưa chưa có hình thái nữ tu hoạt động). Ở Việt Nam, những người bình dân cũng hiểu “nhà phước” là nhà của “các bà hay làm phước”. Thậm chí, “nhà mụ” hay “nhà phước” cũng có khi được gọi là “Nhà Đức Chúa Trời” như tựa sách Lề luật chị em Nhà Đức Chúa Trời của Đức Cha Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn viết cho chị em Dòng Ba Đa Minh và Mến Thánh Giá năm 1939. Đây là một danh từ đã từng được sử dụng để chỉ nơi cư trú của các linh mục, thầy giảng, các chú và các bõ nữa (x. Phan Tấn Thành, “Nguồn gốc đời tu trì Kitô giáo tại Việt Nam”, trong Thời sự Thần học, 66 (2014), tr. 68-70). Dù vậy, bài viết này hay dùng “nhà mụ” vì có nhiều chỗ phải lược trích theo nguyên bản.

[3]Xem một số bút tích ngắn ngủi được dịch ra tiếng Việt trong Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2013, tr. 493-499.

[4]P. Angelus Walz, OP, Compendium Historiae Ordinis Praedicatorum, Romae MCMXLVIII, Pontificium Athenaeum “Angelicum”, Salita del Grillo, I, § 127, tr. 696.

[5]Dựa theo các bản tường trình của các giám mục gửi lên Tòa Thánh, dường như các chị Mến Thánh Giá không phát triển trong địa phận Đông sau năm 1715. Đến năm 1764, có 12 nhà mụ Đa Minh (không đề cập đến Mến Thánh Giá) và đến năm 1804 có 15 nhà mụ Đa Minh và 3 nhà mụ Mến Thánh Giá. Xem Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2013, tr. 495 và 501.

[6]Vicarius provincialis từng được phiên âm thành Vi-cá-ri-ô Phô-rô-vinh-thi-a-lừ có nghĩa là Bề Trên Phụ Tỉnh hay Cha Tổng Đại diện. Xin ghi chú thêm nghĩa của một số từ cổ được nhắc lại trong bài này:

  • Cụ Chính: Cha Tổng Đại diện hay Bề Trên Phụ Tỉnh.
  • Đức Thầy: Đức Giám mục.
  • Đấng vít-vồ: Đức Giám mục.
  • Phatêrê: Linh mục, Cha.
  • Thầy cả cai: Cha xứ
  • Câu Rút: Thánh Giá
  • Duminhgô: Đa Minh
  • Bà Mụ: Bề Trên nhà
  • Chị Ả: Phó Bề Trên
  • Phô con: Các con
  • Chiềng mụ: Trình, xin phép mụ

[7]Xem Thư các Đấng Bề Trên truyền cho các chị em Nhà Mụ, trong: Lề Luật Nhà Mụ, Nữ tu Đa Minh B.C, Tam Hiệp, Biên Hòa, 12/02/1972, tr. 20-36; Lề luật riêng các chị em Dòng Thứ Ba ông thánh Duminhgô, cũng ở trong sách này, tr. 1-19. Các bản luật này đã từng được các vị tiền bối học thuộc lòng, và ngày 12/02/1972 Mẹ Bề Trên Tiên khởi Êmilia Nguyễn Thị Sê đọc cho chị em ghi lại và đánh máy trên giấy pelure khổ 20cm x 25cm. Còn bản gốc đã bị thất lạc sau năm 1975.

[8]Xem Thư Cụ Chính Phê, tr. 20; Thư Cụ Chính Chiêu, tr. 25; Thư cụ Chính Vọng, tr. 27; Thư Đức Thầy Khang gửi cho chị em năm Bính Dần, tr. 34.

[9]Thư Cụ Chính Phê gửi cho chị em năm 1791 ngày 13 tháng Giu-li, trong Lề Luật Nhà Mụ, tr. 20-21.

[10]“Mụ” trong tiếng Nôm và Hán Việt có nghĩa gần như nhau để chỉ người mẹ hay bà già. Giống như các bà bề trên dòng nữ trong Giáo Hội được gọi là bà mẹ, bề trên nhà mụ lúc đầu được gọi là “Bà Mụ”. Người ta cũng cho rằng “Mụ” phát xuất từ “Mulier” trong tiếng La Tinh có nghĩa là người đàn bà. Chúa Giêsu trên Thập giá đã gọi Mẹ Ngài là “Bà”, cho nên các nhà truyền giáo cũng gọi bà bề trên của nhà mụ là “Bà Mụ”. Dần dà “bà mụ” hay “bà dòng” được áp dụng mở rộng để chỉ bất kỳ nữ tu nào thuộc dòng Mến Thánh Giá và Đa Minh. Vào những năm tiền bán thế kỷ XX, khi từ “bà mụ” có một nghĩa mới là người đàn bà đỡ đẻ ở nông thôn, thì “bà mụ” và “nhà mụ” trong dòng được thay thế bằng “bà phước”, “dì phước” và “nhà phước”. Thật vậy, như đã nói, trong sách Lề luật chị em Nhà Đức Chúa Trời của Đức Cha Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn viết cho chị em Dòng Ba Đa Minh và Mến Thánh Giá năm 1939, không còn thấy xuất hiện từ “nhà mụ”, “bà mụ” nữa, mà chỉ còn “nhà phước”, “bà nhất”.

[11]Chị Ả trong tiếng Nôm chỉ đến người đàn bà trẻ. Dân gian Việt Nam cũng dùng từ Chị Ả để chỉ con gái đầu lòng (“Đầu lòng hai ả tố nga. Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân”). Theo cơ cấu trong các nhà mụ ngày xưa, Chị Ả cũng được bầu chọn cùng với Bà Mụ theo nhiệm kỳ 3 năm. Chị Ả có bổn phận và quyền hành như Bà Mụ khi bà vắng nhà. Có lẽ vì chức năng này mà phép dòng gọi Mẹ Bề Trên là “Bà Mụ” còn Phó Bề Trên là “Chị Ả”, như con đầu lòng, con gái cả thay cho mẹ chăm sóc gia đình. Lề luật chị em Nhà Đức Chúa Trời thay thế “Chị Ả” thành “Bà Nhì”.

[12] Từ rất lâu trầu cau là những thứ không thể thiếu trong các dịp xã giao, lễ hội, kết thân và cưới hỏi của người Việt và một số dân tộc như Ấn Độ, Miến Điện, Đài Loan, Philippine. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” mở màn cho giao hiếu, hay “miếng trầu là đầu thuốc câm” nhắc người được mời ăn trầu phải nhớ lời kết ước và có khi giữ kín chuyện riêng tư. Các Đấng Bề Trên của các nhà mụ chắc chắn biết rõ tập tục này và đề phòng những nguy hiểm có thể xảy ra cho chị em.

[13]Xem Phép dòng chị em mến Câu Rút Đức Chúa Giêsu, điều 25, trongHai Bản Luật xưa của Dòng Mến Thánh Giá 1998,http://daoquangtoan.pagesperso-orange.fr/livresPJD/haibanluatxua.pdf.

[14]Bản luật mở đầu với lá thư luân lưu, đôi dòng về việc thành lập Hội mến Thánh Giá Chúa Giêsu Kitô và 14 điều gồm có: Mục đích của hội dòng; Ai muốn vào dòng; Số người trong dòng; Chọn chị bề trên; Tài sản, vật chất; Khi đi ra khỏi nhà; Công việc làm ăn; Khi đi ngủ đêm; Cầu nguyện và hãm mình; Tuần Thánh; Lễ riêng của dòng; Ăn uống, kiêng thịt; Ăn chay; Phụ nữ tội lỗi vào dòng; Thánh Giuse quan thày.

[15]Xem Lề Luật Nhà Mụ, tr. 3.

[16]Bút tích Breve reseňa del metodo que se observa en las misiones del Tunquin, trích trong Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2013, tr. 495.

[17]Xem Anna Hồ Thị Quyết, “Dòng Mến Thánh Giá: Đôi nét về nguồn gốc và phát triển”, trong Thời sự Thần học, 66 (2014), tr. 94.

[18]Xem Thư Cụ Chính Chiêu, trong: Lề Luật Nhà Mụ, tr. 25-26.

[19]Bút tích Breve reseňa del metodo que se observa en las misiones del Tunquin, trích trong Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2013, tr. 495.

[20]Anna Hồ Thị Quyết, “Dòng Mến Thánh Giá: Đôi nét về nguồn gốc và phát triển”, trong Thời sự Thần học, 66 (2014), tr. 90-91.

[21]Chẳng hạn giờ nguyện ngắm đầu tiên vào giờ Tý (khoảng 23-1giờ sáng) suy ngắm Chúa Giêsu bị quân dữ bắt trói, điệu đi và nộp cho quan; giờ thứ bảy là giờ Thân (15-17 giờ) suy ngắm Chúa Giêsu được cất xác xuống và mai táng trong mồ.

[22]Từ thế kỷ XIII cho đến công đồng Vaticanô II, đời sống cầu nguyện của Dòng Đa Minh được phân chia thành các giờ như sau: Kinh Đêm (Matutinum), Kinh Sáng (Laudes),  Giờ Nhất (Prima), Giờ Ba (Tertia), Giờ Sáu (Sexta), Giờ Chín (Nona), Kinh Chiều (Vesperae), Kinh Tối (Completorium). Xem Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2013, tr. 67-68.

[23]Bút tích Breve reseňa del metodo que se observa en las misiones del Tunquin, trích trong Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2013, tr. 495.

[24]Bút tích Breve reseňa del metodo que se observa en las misiones del Tunquin, trích trong Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2013, tr. 496.

[25]Xem Anna Hồ Thị Quyết, “Dòng Mến Thánh Giá: Đôi nét về nguồn gốc và phát triển”, trong Thời sự Thần học, 66 (2014), tr. 106.

Comments are closed.