Giáo lý Hội Thánh Công Giáo – Phần 2: Luân lý Kitô giáo (từ bài 11- bài 14) – Trang 5

0

Quý độc giả và cách riêng các bạn giáo lý viên thân thân mến,

Trong Tông Huấn “Dạy Giáo Lý giữa Thời Đại Chúng Ta”, thánh giáo hoàng Gioan Phao-lô II đã khẳng định: Việc dạy Giáo Lý luôn luôn và sẽ luôn luôn là một công tác mà toàn thể Hội Thánh phải cảm thấy có trách nhiệm và muốn chịu trách nhiệm, vì dạy giáo lý là nhiệm vụ tối thượng và là quyền lợi của Giáo Hội, một quyền bất khả xâm phạm vì phát xuất từ ý muốn của Thiên Chúa và là nhiệm vụ sống còn để củng cố đời sống bên trong của cộng đoàn tín hữu và hoạt động truyền giáo bên ngoài (x. số 15).

Cảm nhận được những quan tâm mục tử, những thao thức về một thế giới đang bị tục hóa cần được Phúc Âm hóa của Hội Thánh, chúng tôi xin giới thiệu Tài liệu GLHTCG do Linh mục Giuse Nguyễn Hữu An biên tập lại từ nguồn tài liệu Giáo lý Giáo phận Nha Trang và Đà lạt.

Những bài giáo lý này, căn bản do Ban Giáo lý Giáo Phận Nha trang biên soạn dựa trên Bản Toát yếu sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, bản dịch của Uỷ ban Giáo lý Đức Tin thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.

Trân trọng giới thiệu đến quý độc giả.

Ban Biên Tập

NỘI DUNG:

PHẦN I: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

Bài 1:  Con người “có khả năng” đón nhận Thiên Chúa
Bài 2:  Thiên Chúa đến gặp con người:  mặc khải của Thiên Chúa
Bài 3:  Cách thức lưu truyền mặc khải
Bài 4:  Thánh Kinh
Bài 5:  Con người đáp lại lời Thiên Chúa
Bài 6:  Tôi tin kính Đức Chúa Trời
Bài 7:  Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần
Bài 8:  Thiên Chúa tạo dựng con người
Bài 9:  Con người sa ngã
Bài 10:  Tôi tin kính Đức Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa

Bài 1

CON NGƯỜI “CÓ KHẢ NĂNG”
ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA

(x. SGLC từ 0027 đến 0049)

I. CON NGƯỜI KHAO KHÁT THIÊN CHÚA

1. Ý định của Thiên Chúa dành cho con người là gì? [1-25]

Thiên Chúa tự bản thể là Đấng vô cùng hoàn hảo và hạnh phúc. Theo ý định nhân hậu, Ngài đã tự ý tạo dựng con người, để cho họ được thông phần sự sống hạnh phúc của Ngài. Khi thời gian đến hồi viên mãn, Thiên Chúa Cha đã cử Con Ngài đến làm Đấng Cứu Thế chuộc tội cho nhân loại đã sa ngã trong tội lỗi, để kêu gọi họ vào trong Hội Thánh Ngài, và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, đón nhận họ làm dưỡng tử, và được thừa hưởng hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài.

Thiên Chúa muốn ta sống ở đời này để nhận biết Thiên Chúa và kế hoạch yêu thương của Ngài dành cho ta nơi Chúa Giê-su Ki-tô, và nhờ đó mà được sống hạnh phúc đời đời. (x.Ga 17,3).

Thiên Chúa đã thực hiện kế hoạch yêu thương đó qua những hành động này :

– Một là: Thiên Chúa đã dựng nên con người và cho sống hạnh phúc với Ngài.

– Hai là: Khi loài người phạm tội xa lìa Thiên Chúa, thì Ngài đã ban Con Một là Chúa Giê-su Ki-tô đến cứu độ.

– Ba là: Chúa Thánh Thần hướng dẫn Hội Thánh, để Hội Thánh tiếp nối sứ mạng cứu độ của Chúa Giê-su cho tới ngày cuối cùng.

2. Tại sao con người khát khao Thiên Chúa? [27-30.44-45]

Khi tạo dựng con người theo hình ảnh mình, chính Thiên Chúa đã khắc ghi vào trong tâm hồn họ sự khát khao nhìn thấy Ngài. Cả khi họ không nhận ra sự khát khao này, Thiên Chúa vẫn không ngừng lôi kéo họ đến với mình, vì chỉ nơi Thiên Chúa, họ mới sống và tìm được chân lý và hạnh phúc viên mãn mà họ luôn tìm kiếm. Vì vậy, tự bản chất và do ơn gọi của mình, con người là một hữu thể tôn giáo, có khả năng bước vào sự hiệp thông với Thiên Chúa. Mối liên hệ mật thiết và sống động này với Thiên Chúa đem lại cho con người phẩm giá căn bản của mình.

Sự khao khát Thiên Chúa được in vào tâm hồn con người vì con người được dựng nên bởi Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Con người chỉ hạnh phúc thật khi tìm thấy Thiên Chúa. Từ xưa đến nay, con người vẫn tìm kiếm Thiên Chúa qua các hình thức tôn giáo, và Thiên Chúa không ngừng mời gọi mỗi người hãy đi tìm Ngài để được sự sống và sống hạnh phúc.

 II. NHỮNG CON ĐƯỜNG GIÚP CON NGƯỜI NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA

3. Với ánh sáng tự nhiên của lý trí, con người có thể nhận biết Thiên Chúa không? [31-36.46-47]

Khởi từ công trình tạo dựng, nghĩa là từ thế giới vật chất và con người, con người có thể chỉ dùng lý trí cũng nhận biết cách chắc chắn có Thiên Chúa là nguồn gốc và cùng đích của vũ trụ, là sự thiện hảo tuyệt đối, là chân lý và vẻ đẹp vô cùng vô tận.

Như thế, giữa con người và Thiên Chúa có mối quan hệ thân thiết, sâu xa. Mối quan hệ nầy, không chỉ là một linh cảm chủ quan, nhưng còn dựa trên nền tảng vững chắc của lý trí.

Chiêm ngắm thế giới bao la xinh đẹp và trật tự hài hòa nhưng cũng chóng qua mau đổi, con người khám phá thế giới nầy vừa kỳ diệu vừa mong manh, và qua đó, có thể nhận biết Thiên Chúa như nguyên thủy và cùng đích của vũ trụ (x. Rm 1, 19-20).

“Hãy đưa mắt lên cao mà nhìn:
Ai đã sáng tạo những vật đó?
Đấng tung ra toàn bộ đạo binh các tinh tú.
Người gọi đích danh từng ngôi một,
Khiến không một ngôi nào vắng mặt”
(Is 40,26).

Đồng thời, nhìn sâu vào lòng mình với tiếng lương tâm và lý trí tự nhiên, con người khám phá nơi chính mình “mầm sống vĩnh cửu không thể giản lược vào nguyên vật chất” (MV 18), nhưng còn là hồn thiêng bất tử nên chỉ có thể xuất phát từ Thiên Chúa tạo thành.

Chính vì thế, vũ trụ chung quanh và chiều sâu tâm hồn đã trở thành những con đường đưa dẫn con người tìm về Đấng là nguyên lý tiên khởi và cứu cánh tối hậu cho con người và mọi sự.

Các con đường để nhận biết Thiên Chúa còn được gọi là bằng chứng rằng có Thiên Chúa. Những bằng chứng này phát xuất từ vũ trụ và những vẻ đẹp của nó, rồi đến con người với lòng sẵn sàng đón nhận chân lý và những sự tốt đẹp về mặt tinh thần lẫn thể lý, cùng tiếng lương tâm và lý trí. Nhờ những khả năng của mình, con người có thể nhận biết sự hiện hữu của Thiên Chúa. Nhưng để con người có thể sống mật thiết với Ngài, Thiên Chúa vừa tỏ mình ra vừa ban cho con người ân sủng để họ đón nhận mặc khải ấy trong đức tin.

III. NHỮNG QUAN NIỆM CỦA HỘI THÁNH VỀ VIỆC NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA

4. Chỉ với ánh sáng tự nhiên của lý trí, con người có đủ khả năng để nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa hay không? [37-38]

Chỉ với ánh sáng của lý trí, con người sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, tự mình, con người không thể nào bước vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa đã muốn soi dẫn con người bằng cách mặc khải cho họ, không những về những gì Vượt quá sự hiểu biết nhân loại, mà cả về những chân lý tôn giáo và luân lý, tự chúng vốn không Vượt quá khả năng của lý trí, để mọi người trong tình trạng hiện thời của nhân loại có thể biết được một cách dễ dàng, chắc chắn và không sai lầm.

Hội Thánh tin chắc và dạy rằng Thiên Chúa là nguyên lý và cùng đích của mọi loài. Chúng ta có thể nhận biết Thiên Chúa cách chắc chắn nhờ ánh sáng của lý trí vì đã được tạo dựng theo hình ảnh Ngài. Nhưng nếu chỉ dựa vào lý trí mà thôi thì rất khó nhận biết những điều thâm sâu về Thiên Chúa, nên con người cần được soi dẫn bằng mặc khải của Thiên Chúa.

II. PHẢI NÓI VỀ THIÊN CHÚA THẾ NÀO?

5. Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa thế nào? [39-43.48-49]

Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con người và của những thụ tạo khác, đó là một phản ánh, dù rất hạn hẹp, về sự hoàn hảo vô tận của Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải không ngừng thanh luyện ngôn ngữ của chúng ta vì nó bất toàn và bị lệ thuộc vào hình ảnh, phải ý thức rằng chúng ta không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ mầu nhiệm vô tận của Thiên Chúa.

Vì sự hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa có giới hạn, nhưng bởi thụ tạo có một vài vẻ giống Thiên Chúa, đặc biệt là con người, là loài được tạo dựng giống hình ảnh của Ngài, nên chúng ta có thể nói về Thiên Chúa bằng cách dùng thụ tạo làm khởi điểm. Chúng ta có thể nhìn vào vẻ đẹp của thiên nhiên mà nói rằng vẻ đẹp của Thiên Chúa còn hơn nhiều.

♣ Giúp ghi nhớ

Khi tạo dựng con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa đã khắc ghi vào trong tâm hồn họ sự khát khao nhìn thấy Ngài. Con người chỉ hạnh phúc thật khi tìm thấy Thiên Chúa.

Với trí khôn tự nhiên, con người có thể dựa vào sự tốt đẹp và trật tự của vũ trụ, cũng như tiếng nói của lương tâm, mà nhận biết có Thiên Chúa. Tuy nhiên, tự sức mình, con người không thể nào bước vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa đã muốn soi dẫn con người bằng cách mặc khải cho họ, không những về những gì Vượt quá sự hiểu biết nhân loại, mà cả về những chân lý tôn giáo và luân lý.

Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người, khởi đi từ những nét hoàn hảo của con người và của những thụ tạo khác, vì chúng là một phản ánh, dù rất hạn hẹp, về sự hoàn hảo vô tận của Thiên Chúa.

♣ Gợi ý suy nghĩ

1. Có bao giờ bạn suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời của mình không? Chẳng hạn: “Tôi sống để làm gì?”

2. Thánh Au-gút-ti-nô đã cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con luôn xao xuyến cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa” Bạn nghĩ sao về lời cầu nguyện này

3. Khi nhìn ngắm những cảnh đẹp trong thiên nhiên, có bao giờ tâm trí bạn nghĩ đến Đấng đã tạo dựng nên chúng không?

 

Bài 2:
THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI
MẶC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA

Suốt dọc dài lịch sử nhân loại, con người luôn ray rứt về thân phận bất tất và hữu hạn của mình. Họ băn khoăn tìm câu giải đáp cho những vấn nạn nhân sinh: Tôi sinh ra bởi đâu? Đi về đâu? Sống để làm gì? Có gì sau kiếp sống? Triết học, khoa học, xã hội, tôn giáo và tất cả mọi bộ môn kiến thức nhân văn đã và vẫn đang nỗ lực tìm câu giải đáp, nhưng vẫn không thể thỏa mãn được lý trí con người. Với khả năng tự nhiên của trí khôn, con người có thể nhận biết có Thiên Chúa, nhưng không thể biết được những điều thâm sâu nơi Thiên Chúa.  Chỉ có mạc khải của Thiên Chúa, viên mãn nơi Đức Kitô, mới có thể cống hiến câu giải đáp tròn đầy cho mọi khắc khoải kiếm tìm của con người.Thiên Chúa đã mặc khải cho con người các mầu nhiệm của Ngài qua Đức Ki-tô, nhờ Chúa Thánh Thần.

I. THIÊN CHÚA MẶC KHẢI “Ý ĐỊNH YÊU THƯƠNG”

6. Thiên Chúa mặc khải cho con người điều gì? [50-53.68-69]

Mạc khải (mạc:bức màn, khải: mở ra) là việc Thiên Chúa vén mở bức màn bí nhiệm che khuất Người để con người được phần nào thông tỏ. Nếu không, con người hoàn toàn không biết gì về Người; có chăng đó cũng chỉ là những truy nghiệm cá nhân của các bậc hiền triết như trong đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng…

a. Tại sao Thiên Chúa Mạc khải?

Được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26), con người chỉ có thể sống và hoạt động nhờ Chúa và tiến về cùng đích là chính Chúa. Thiên Chúa muốn đến gặp gỡ và trao ban chính mình cho con người, vì Người là “Đường, là Sự Thật, là Sự Sống” (Ga 14,6); Người là Tình Yêu (1Ga 4,8), một tình yêu luôn thông ban, chia sẻ, mở ra. Thiên Chúa mạc khải là Thiên Chúa mở ra cho con người để họ được biết về Người, về chương trình tình yêu của Người đối với nhân loại.

b. Thiên Chúa mạc khải để làm gì?

Thiên Chúa tạo dựng con người và mời gọi thông dự hạnh phúc và vinh quang của Người. Tội lỗi đã phá vỡ chương trình sáng tạo yêu thương thuở đầu ấy. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn tiếp tục và hoàn thành ý định yêu thương đối với con người. Người muốn cho họ được sống hạnh phúc đời đời với Người. Vì thế, Người thực hiện kế đồ cứu độ. Để được cứu độ, con người cần gặp gỡ tiếp xúc và nhận biết Đấng muốn cứu độ họ. Thiên Chúa mạc khải là để con người biết về Người, về kế đồ cứu độ yêu thương của Người, nhờ đó họ được thông phần bản tính Thiên Chúa (2 P1,4) nhờ Đức Kitô (MK 2). Như thế, Mạc khải là con đường Thiên Chúa đến gặp con người để tỏ tình, hiến thân và chung sống với con người.

Với lòng nhân hậu và sự khôn ngoan, Thiên Chúa tự mặc khải chính mình cho con người. Qua các biến cố và lời nói, Thiên Chúa tự mặc khải chính Ngài cũng như ý định của lòng nhân hậu, mà Ngài đã hoạch định tự muôn đời trong Đức Ki-tô cho phần phúc của con người. Ý định này nhằm đón nhận tất cả mọi người trở thành nghĩa tử trong Người Con duy nhất của Ngài nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần và cho họ tham dự vào sự sống của Thiên Chúa.

Với sự nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã tỏ mình ra và mặc khải mầu nhiệm ý định của Ngài cho loài người chúng ta qua Đức Ki-tô. Ngài đã truyền dạy cho con người cách tiệm tiến, để họ có thể đón nhận mặc khải siêu nhiên của Ngài. Mặc khải này đạt tới cao điểm nơi con người và sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể, là Chúa Giê-su Ki-tô.

II. CÁC GIAI ĐOẠN MẶC KHẢI

7. Những giai đoạn đầu tiên của mặc khải là gì? [54-58.70-71]

Hai chặng đường mạc khải

a. Mạc khải tự nhiên

Mạc khải tự nhiên là việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho mọi người qua vũ trụ tạo thành (Rm 1,19). Nhìn xem trời đất muôn vật và trật tự lạ lùng trong vũ trụ, con người có thể nhận biết một Thiên Chúa đã sáng tạo và an bài mọi sự, như  lời Thánh vịnh đã cất tiếng:

Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
không trung loan báo việc tay Ngài làm

(Tv 104,2; xem Rm 1,19-20; Cv14,15-17; 17,24-29).

Ngoài ra, tận sâu thẳm cõi lòng, con người luôn khát vọng về sự vĩnh cửu vô biên, niềm hạnh phúc đích thực. Điều đó chứng thực rằng lý trí và lương tâm con người luôn quy hướng về Đấng Thượng Đế Siêu Việt.

Mạc khải tự nhiên chỉ là chặng đường đầu tiên, còn rất giới hạn. Nếu chỉ dừng ở đây, con người yếu đuối dễ bị lầm lạc. Các thứ tôn giáo lệch lạc đa thần hay phiếm thần là một bằng chứng. Cần có một mạc khải cao hơn, đó là mạc khải siêu  nhiên.

b. Mạc khải siêu nhiên

Gọi là Mạc khải siêu nhiên, vì vượt trên khả năng tự nhiên của con người. Tự sức mình, con người không thể nào nhận biết được Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn siêu việt và bất khả thấu đạt, nếu Thiên Chúa không tự tỏ mình ra. Thiên Chúa ngỏ lời với con người qua một số người được tuyển chọn, để họ thông đạt nhữnng gì Chúa muốn cho biết. Những người này sống trong một không gian và thời gian nhất định, cho nên Lời Thiên Chúa cũng gắn liền với lịch sử, văn hóa của con người theo từng thời đại.

Thời Cựu ước, Thiên Chúa đã nói qua các Tổ phụ, các Thủ Lãnh và các Ngôn Sứ để thông đạt ý định cứu độ của Người cho con người. Người đã kêu gọi Abraham và kết ước với ông (St 12,17). Người đã gặp gỡ Môisê qua bụi gai đang cháy mà không tàn và trao cho ông sứ mệnh giải phóng dân Chúa khỏi ách nô lệ Ai cập (Xh 3). Người ban Thập điều và giao ước với Israel tại núi Sinai (Xh 24). Người tuyển chọn các Ngôn sứ và trao cho các ngài sứ mạng chuẩn bị dân đón nhận mạc khải hoàn hảo và chung cuộc là Đức Kitô.

Thời Tân ước, Ngôi Lời là Con Một hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha (Ga 1,18) đã nhập thể làm người (Ga 1,14)  ở với giữa chúng ta (Emmanuel). Ngài là mạc khải tròn đầy của Thiên Chúa, là Lời chung cuộc của Chúa Cha, nên sẽ không còn mạc khải nào khác sau Ngài (MK 4). Thư Do Thái ghi rõ: “Thuở xưa, nhiều lần và nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các Ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Con của Người” (Dt 1,1).

Tất cả những gì đã được Cựu ước loan báo và hứa hẹn nay được hoàn thành trong Tân ước qua chính người Con Một của Chúa Cha là Đức Giêsu Kitô, Đấng là mạc khải tột đỉnh: “Ai thấy Ta là thấy Cha. Ta và Cha là một” (Ga 14,9).

Từ nguyên thủy, Thiên Chúa tỏ mình ra cho nguyên tổ của chúng ta, là ông A-đam và bà E-và, và mời gọi họ bước vào sự hiệp thông mật thiết với Ngài. Sau khi họ sa ngã, Ngài đã không chấm dứt việc mặc khải, nhưng đã hứa ban ơn cứu độ cho tất cả miêu duệ của họ. Sau cơn lụt đại hồng thủy, Ngài đã ký kết với ông Nô-ê một Giao ước giữa Ngài với tất cả các sinh linh.

ª Đầu tiên Thiên Chúa tỏ mình ra bằng cách luôn cung cấp cho con người những bằng chứng về sự hiện hữu của Ngài qua các thụ tạo hữu hình. Ngài đã tỏ mình ra cho nguyên tổ và ban cho ông bà ân sủng cùng đức công chính nguyên thủy. Sau khi hai ông bà phạm tội, Ngài đã nâng hai ông bà dậy bằng lời hứa ơn cứu độ và tiếp tục săn sóc nhân loại.

ª Sau trận Đại Hồng Thủy, Thiên Chúa lập Giao Ước với ông Nô-ê. Ngài chia con người ra thành nhiều dân tộc với ngôn ngữ khác biệt để giới hạn tội kiêu ngạo của bản tánh loài người. Giao Ước với ông Nô-ê vẫn có hiệu lực cho dân ngoại cho đến khi Tin Mừng được loan báo khắp thế gian.

8. Những giai đoạn tiếp theo của Mặc khải của Thiên Chúa là gì? [59-64.72]

Thiên Chúa chọn ông Áp-ra-ham, khi gọi ông rời bỏ quê hương để làm cho ông trở thành “cha của vô số dân tộc” (St 17,5) và hứa qua ông sẽ chúc lành cho “mọi gia tộc trên mặt đất” (St 12,3). Con cháu của ông Áp-ra-ham là những kẻ thừa hưởng các lời Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ họ. Thiên Chúa đã lập Ít-ra-en làm dân Ngài tuyển chọn, cứu thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập, ký kết với họ Giao ước Xi-nai và, qua ông Mô-sê, Ngài ban cho họ Lề luật của Ngài. Các tiên tri đã loan báo một ơn cứu chuộc toàn diện cho dân Chúa cũng là ơn cứu độ dành cho tất cả mọi dân tộc, trong một Giao ước mới và vĩnh cửu. Chúa Giê-su, Đấng Mê-si-a, sẽ sinh ra từ dân Ít-ra-en, và từ dòng dõi vua Đa-vít.

ª Thiên Chúa chọn ông Áp-ram và ông đã đáp lại. Ngài đổi tên ông là Áp-ra-ham, và hứa cho ông thành tổ phụ của nhiều dân tộc.

ª Thiên Chúa hình thành dân Ít-ra-en . Thiên Chúa chọn dân Ít-ra-en làm Dân riêng của Ngài. Khi dân Ít-ra-en làm nô lệ tại Ai Cập, Thiên Chúa đã chọn ông Mô-sê để giải phóng họ. Ngài đã thiết lập Giao Ước với họ, và ban cho họ Mười Điều Răn để họ nhận biết Ngài và phụng sự Ngài như một Thiên Chúa hằng sống, chân thật và duy nhất. Qua các tiên tri, Ngài đã nuôi dưỡng họ trong đức tin, và trong niềm hy vọng cứu độ qua một Giao Ước mới sẽ được viết trong lòng họ.

III. ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ, “ĐẤNG TRUNG GIAN VÀ SỰ VIÊN MÃN CỦA TOÀN BỘ MẶC KHẢI”

9. Giai đoạn mặc khải trọn vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa là gì? [65-66,73]

Giai đoạn mặc khải trọn vẹn và dứt khoát của Thiên Chúa được thực hiện nơi Ngôi Lời nhập thể, là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng là trung gian và là viên mãn của Mặc khải. Chúa Giê-su, Con duy nhất của Thiên Chúa, đã làm người, là Lời hoàn hảo và dứt khoát của Chúa Cha. Mặc khải đã được hoàn tất cách trọn vẹn qua việc Thiên Chúa Cha sai Con Ngài và ban tặng Thánh Thần, mặc dù đức tin của Hội Thánh phải dần dần trải qua bao thế kỷ mới nhận biết ý nghĩa đầy đủ của Mặc khải.

 “Từ khi Thiên Chúa ban cho chúng ta Con Ngài, Đấng là Lời duy nhất và dứt khoát của Ngài, Thiên Chúa đã nói với chúng ta một lần duy nhất trong Lời này và Ngài không còn gì để nói thêm nữa” (Thánh Gio-an Thánh Giá).

Nơi Đức Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa đã hoàn tất công việc mặc khải của Ngài. Sau Chúa Giê-su và các Tông đồ thì không còn một mặc khải công khai nào nữa. Tất cả các mặc khải tư và thị kiến đều phụ thuộc vào Mặc khải của Thiên Chúa qua Đức Ki-tô. Chúng không bổ túc, nhưng giúp chúng ta sống trọn vẹn Mặc khải chính này.

10. Các mặc khải tư có giá trị gì? [67]

Mặc dầu các mặc khải tư không thuộc về kho tàng đức tin, nhưng chúng có thể giúp chúng ta sống đức tin, với điều kiện chúng có một liên hệ chặt chẽ với Đức Ki-tô. Huấn quyền Hội Thánh, có thẩm quyền để phân định các mặc khải tư đó, không thể chấp nhận những mặc khải tư nào Vượt qua hay muốn sửa đổi Mặc khải dứt khoát là chính Đức Ki-tô.

♣ Ghi nhớ

Mặc khải là việc Thiên Chúa tỏ bày cho con người biết chính Ngài và ý định yêu thương của Ngài đối với loài người chúng ta trong Đức Ki-tô, để nhờ đó, con người có thể đến với Thiên Chúa và tham dự vào sự sống thần linh của Ngài.

Thiên Chúa đã dùng lời nói và việc làm mà tỏ mình dần dần qua từng giai đoạn trong lịch sử. Trước tiên, Thiên Chúa tỏ mình cho tổ tông loài người, cho ông Nô-ê, ông Áp-ra-ham và dân Ít-ra-en. Sau cùng, Thiên Chúa đã nói tất cả qua Con Một Ngài là Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng vừa  là trung gian, vừa là viên mãn của Mặc khải.

Mặc khải đã được hoàn tất trọn vẹn qua việc Thiên Chúa Cha sai Con Ngài và ban tặng Thánh Thần, mặc dù đức tin của Hội Thánh phải trải qua nhiều thế kỷ mới nhận biết ý nghĩa đầy đủ của Mặc khải.

♣  Gợi ý suy nghĩ

1. Thư Do thái 1,1: “Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua ThánhTử”. Bạn nghĩ sao về câu này?

2. Vì sao Đức Giê-su Ki-tô được gọi là “Đấng Trung Gian và sự viên mãn của toàn bộ Mặc Khả)

Bài 3

CÁCH THỨC LƯU TRUYỀN MẶC KHẢI

Lời Thiên Chúa đến với con người trước tiên không phải nhờ Kinh Thánh mà là nhờ đoàn dân Thiên Chúa đã sống chân lý mạc khải và loan báo (truyền khẩu) cho nhau. Sau đó, một phần được ghi chép thành Kinh Thánh. Như vậy, mạc khải được lưu truyền theo hai phương thế: truyền khẩu và văn tự, gọi là Thánh Truyền và Thánh Kinh.

1. Thánh Truyền thời Cựu ước

Ngay từ khởi nguyên sáng tạo, Thiên Chúa đã mạc khải cho nguyên tổ loài người (St 3,8), sau đó cho các Tổ phụ Ab-ra-ham, I-sa-ac và Gia-cóp (St 12-15). Những lời mạc khải đó được truyền khẩu từ đời này qua đời kia cho tới Môi-sê, từ trong gia đình đến ngoài xã hội và các nơi thánh (Gs 24,4-24), sau này tại Đền thờ Giê-ru-sa-lem, dưới nhiều hình thức: cha ông kể chuyện cho con cháu, việc giảng dạy, việc phụng tự, việc kinh nguyện, phong tục tập quán… Nói chung, toàn thể sinh hoạt của dân Thiên Chúa là con đường lưu truyền mạc khải qua nhiều thời đại.

Đến thời Môi-sê, thế kỷ XIII tcn, Do Thái bắt đầu có chữ viết, các văn phẩm đầu tiên ra đời. Tuy nhiên, truyền khẩu vẫn là phương tiện chính yếu. Dần về sau, một phần các truyền khẩu ấy được sưu tập và chép thành Kinh Thánh (v/d: sự tích các Tổ phụ, Môisê, các Thủ lãnh, Đavít…). Bộ Mishna và hai tập Talmud (Tk II tcn) ghi lại các truyền thống Cựu ước và những lời giải thích Kinh Thánh, đặc biệt bộ Ngũ thư cho hợp với thời đại. Đầu thế kỷ III tcn, trước làn sóng vỡ bờ của phong trào Hy hóa, Thánh Truyền đóng vai trò làm tiêu chuẩn xác định quy điển Thánh Kinh.

Đức Giê-su tôn trọng các Truyền thống Cựu ước (v/d: việc giải thích Luật dành cho các kinh sư). Ngài lưu tâm đến đời sống nội tâm, đừng dừng lại ở những hình thức bên ngoài. Ngài mạnh mẽ công kích những truyền thống nghịch với Lề Luật của Chúa như luật sabbat, luật tinh sạch, lòng hiếu thảo với cha mẹ…).

2. Thánh Truyền thời Tân ước

Đức Giêsu rao giảng mà không để lại một văn phẩm nào. Ngài là mạc khải tột đỉnh và viên mãn. Toàn thể con người, cuộc sống, lời nói, việc làm, nhất là sự chết và sống lại là mạc khải tròn đầy và chung cuộc về Thiên Chúa và về chính mình. Ngài đã chọn các Tông đồ, giáo huấn cách đặc biệt và trao cho họ sứ mệnh truyền đạt mạc khải cho nhân loại.

Sau ngày Hiện Xuống, các Tông đồ bắt đầu đi rao giảng theo lệnh truyền của Đức Giê-su: “Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,20). Các ngài đã thuật lại những lời nói, hành động, đời sống, nhất là cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô (Lc 1,2; Cv 6,4), nhưng cũng không viết sách vì nghĩ rằng ngày Chúa trở lại gần kề. Thế rồi, Chúa vẫn chưa trở lại, các Tông đồ dần dần ra đi, thế hệ nối tiếp nhận thấy nhu cầu cần phải ghi chép và bảo tồn Lời hằng sống; đàng khác do nhu cầu phụng vụ, huấn giáo và truyền giáo, người ta bắt đầu ghi chép thành các sưu tập những giáo huấn và sự nghiệp của Thầy Chí Thánh. Cuối cùng, bộ Kinh thánh Tân ước với 27 cuốn được hình thành.

3. Thánh Truyền là gì?

Thánh Truyền là những chân lý mạc khải do chính Đức Kitô truyền dạy hoặc do Chúa Thánh Thần soi sáng cho các Tông đồ sau ngày Hiện Xuống. Gọi đó là những truyền thống thuộc về Thiên Chúa và các Tông Đồ. Cần phân biệt với những truyền thống Giáo hội là những phong tục tập quán của cộng đoàn Giáo hội. Chỉ có Thánh Truyền mới là nguồn mạch đức tin.

4.  Chân lý Thánh Truyền chứa đựng ở đâu?

Thánh Truyền chứa đựng trong Kinh Tin Kính, tác phẩm của các Giáo phụ, các tiến sĩ Hội thánh, Giáo lý, Phụng vụ, những văn kiện Công Đồng chung.

Ba tiêu chuẩn giúp xác định chân lý Thánh Truyền: tính phổ quát (Giáo hội khắp nơi chấp nhận), tính lâu đời (thời nào cũng chấp nhận), tính đồng tình (mọi người đều chấp nhận).

I. LƯU TRUYỀN MẶC KHẢI

13. Tại sao phải lưu truyền Mặc khải của Thiên Chúa và lưu truyền bằng cách nào? [74]

Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2,4), nghĩa là nhận biết Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế, phải rao giảng Đức Ki-tô cho mọi người, như chính lời Ngài dạy: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Điều này đã được thực hiện bởi Truyền thống các Tông đồ, gọi tắt là Truyền thống Tông đồ. 

“Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý”, tức là “nhận biết Chúa Giê-su Ki-tô”. Mặc khải này được truyền lại cho chúng ta trong Hội Thánh qua các Tông đồ và những người kế vị các ngài.

II. TRUYỀN THỐNG CÁC TÔNG ĐỒ

14.  Truyền thống Tông đồ là gì? [75-79,83,96,98]

Truyền thống Tông đồ là việc chuyển đạt sứ điệp của Đức Ki-tô, đã được hoàn tất ngay từ lúc khởi đầu Ki-tô giáo, qua việc rao giảng, làm chứng, các cơ chế, phụng tự, và các sách được linh ứng. Các Tông đồ đã chuyển đạt mọi điều các ngài đã lãnh nhận từ Đức Ki-tô và học hỏi từ Chúa Thánh Thần cho những người kế nhiệm các ngài, là các giám mục, và qua họ, cho mọi thế hệ đến tận thế.

15.  Truyền thống Tông đồ được thực hiện như thế nào? [76]

Truyền thống Tông đồ được thực hiện bằng hai cách: qua việc chuyển đạt sống động Lời Chúa (được gọi cách đơn sơ là Thánh Truyền) và qua Thánh Kinh, trong đó cùng một lời rao giảng ơn cứu độ được ghi lại thành chữ viết.

Đức Ki-tô truyền cho các Tông đồ rao giảng Tin Mừng cho toàn thể nhân loại. Tin Mừng này là nguồn gốc của mọi chân lý cứu độ và quy luật luân lý. Các Tông đồ truyền lại Tin Mừng các ngài nhận được bằng hai cách, truyền khẩu qua lời giảng dạy, và bằng văn tự qua Thánh Kinh. Các ngài trao nhiệm vụ này lại cho các giám mục là những người kế vị các ngài trong việc lưu truyền những giáo huấn của Đức Ki-tô. Sự lưu truyền sống động này được hoàn thành nhờ Chúa Thánh Thần, và được truyền lại liên tục cho đến tận thế, được gọi là Thánh Truyền.

III. GIẢI NGHĨA KHO TÀNG ĐỨC TIN

16.  Kho tàng đức tin đã được ủy thác cho ai? [84,91,94,99]

Từ thời các thánh Tông đồ, kho tàng đức tin đã được ủy thác cho toàn thể Hội Thánh. Nhờ Chúa Thánh Thần hỗ trợ và nhờ Huấn quyền hướng dẫn, với cảm thức siêu nhiên của đức tin, toàn thể dân Chúa đón nhận Mặc khải của Thiên Chúa, hiểu biết mỗi ngày một sâu xa hơn, và cố gắng sống Mặc khải đó. 

17.  Ai có thẩm quyền để giải nghĩa kho tàng đức tin? [85-90,100]

Chỉ có Huấn quyền sinh động của Hội Thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phê-rô làm Giám mục Rô-ma và các Giám mục hiệp thông với ngài, mới có đủ thẩm quyền giải thích kho tàng đức tin. Huấn quyền, trong việc phục vụ Lời Chúa, được hưởng đặc sủng chắc chắn về chân lý, có trách nhiệm xác định các tín điều, nghĩa là những công thức trình bày các chân lý chứa đựng trong Mặc khải của Thiên Chúa; thẩm quyền này cũng áp dụng trên các chân lý có liên hệ thiết yếu với Mặc khải.

III. TƯƠNG QUAN GIỮA THÁNH TRUYỀN, THÁNH KINH VÀ HUẤN QUYỀN.

18. Đâu là mối tương quan giữa Thánh Truyền, Thánh Kinh và Huấn quyền? [80-82; 95,97].

Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau. Thật vậy, cả hai làm cho mầu nhiệm Đức Ki-tô được hiện diện và sung mãn trong Hội Thánh và cả hai cùng xuất phát từ một cội nguồn là Thiên Chúa. Cả hai làm nên một kho tàng đức tin duy nhất, nơi đó Hội Thánh nhận được sự đảm bảo chắc chắn về tất cả những chân lý được mặc khải. 

Thánh Kinh và Thánh Truyền có chung một nguồn là Thiên Chúa. Cả hai đều làm cho mầu nhiệm Đức Ki-tô được hiện diện và sinh hoa kết quả trong Hội Thánh. Nhưng hai cách lưu truyền thì khác nhau. Thánh Kinh là Lời Chúa được ghi lại dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần. Thánh Truyền là trọn vẹn Lời Chúa mà Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần đã trao phó cho các Tông đồ, và truyền lại cho những người kế vị các ngài.

Ngoài Thánh Truyền, còn có các “truyền thống” thần học, kỷ luật, phụng vụ hoặc thờ phượng. Những truyền thống này có thể thay đổi, nhưng Thánh Truyền thì không thay đổi được.

1. Thánh Kinh và Thánh Truyền

Xét về lịch sử, Thánh Truyền có trước Thánh Kinh. Thời Tân ước, Chúa Giêsu giảng mà không viết. Các Tin mừng trước khi được viết thành sách đã được các Tông đồ rao giảng và được cộng đoàn dân Chúa sống, sau đó mới được ghi lại thành sách. Khi viết các thánh sử cũng dựa trên Thánh Truyền (x. 1Cr 11,23; 15,1; Gl 1,8; 2Tx 2,5.15; 1Tm 6,20; 2Pr 1,12)

Thánh Truyền tròn đầy hơn Thánh Kinh vì hàm chứa và lưu truyền toàn bộ kho tàng chân lý mạc khải. Bởi thế có những chân lý hàm ẩn trong Thánh Kinh, chỉ có thể được soi sáng nhờ ánh sáng của Thánh Truyền.

Tuy nhiên, Thánh Kinh trổi vượt hơn trong hình thức cũng như trong nội dung. Nội dung Thánh Kinh phong phú chính xác hơn, hình thức cụ thể dễ tra cứu.

Thánh Kinh chứa đựng mọi chân lý cần thiết cho phần rỗi. Quy điển Thánh Kinh được xác nhận bởi Thánh Truyền. Công Đồng Vatican II đã khẳng định: “Nhờ Thánh Truyền Giáo hội biết được toàn bộ chính lục Thánh Kinh, và cũng nhờ Thánh Truyền ấy, Thánh Kinh được hiểu thấu đáo hơn, cũng như Thánh Truyền đã làm cho Thánh Kinh không ngừng hoạt động” (MK 8).

Thánh Kinh và Thánh Truyền hợp thành kho tàng Thánh thiện duy nhất chứa đựng Lời Thiên Chúa (MK 10). Cả hai phát xuất từ một nguồn mạch là chính Thiên Chúa và hướng về cùng một mục đích là cứu rỗi con người. “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu thoát và được nhìn biết sự thật” (1Tm 2,4). Chính vì thế, cả Thánh Kinh và Thánh Truyền đều phải được đón nhận và tôn kính bằng một tâm tình yêu mến và quý trọng như nhau (MK 9).

2. Thánh Truyền và Huấn Quyền

Huấn Quyền là quyền giáo huấn được trao cho các đấng kế vị các Tông đồ, tức là hàng giám mục hiệp nhất với Đức Giáo Hoàng.

Thánh Truyền và Thánh Kinh được Huấn Quyền bảo tồn nguyên vẹn, rao giảng, giải thích và lưu truyền bằng việc giảng dạy, bằng những văn kiện của Công Đồng,  Giáo lý, Phụng Vụ.

Thánh Truyền đã được trọn vẹn thời các thánh Tông Đồ. Trong khi đó, Huấn Quyền luôn sinh động, đổi mới nơi các chủ thể nối tiếp nhau. Huấn Quyền sử dụng Thánh Kinh và Thánh Truyền để giải thích và minh chứng các tín điều, luật luân lý.

Huấn Quyền không những có nhiệm vụ lưu truyền mạc khải, mà còn có nhiệm vụ chú giải Thánh Kinh. Công Đồng Vatican II đã xác định: “Nhiệm vụ chú giải chính thức Lời Chúa đã được viết ra hay lưu truyền chỉ được ủy thác cho Huấn Quyền của Giáo hội” (MK 10).

Thánh Kinh – Thánh Truyền – Huấn Quyền, theo ý định khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa, liên kết và phối hợp với nhau như một thực thể duy nhất mà không thành phần nào có thể tồn tại một cách độc lập (MK 10).

Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn quyền liên hệ chặt chẽ với nhau, đến độ thực thể này không hiện hữu nếu không có hai thực thể kia. Dưới tác động của cùng một Chúa Thánh Thần, cả ba góp phần cách hữu hiệu vào ơn cứu độ loài người, mỗi thực thể theo cách thức riêng của mình.

Thánh Kinh và Thánh Truyền hợp thành một kho tàng đức tin, và được trao phó cho toàn thể Hội Thánh để giữ gìn và truyền lại cho đến tận thế. Nhiệm vụ giải thích cách trung thực Lời Chúa đã được viết ra hay lưu truyền được ủy thác cho Huấn quyền sống động của Hội Thánh, nhân danh Đức Ki-tô. Huấn quyền là các giám mục hiệp thông với Đức Giáo hoàng. Huấn quyền chỉ dạy những gì đã được truyền lại mà thôi. Chúng ta có nhiệm vụ vâng phục Huấn quyền như Chúa Giê-su đã truyền trong (Lc 10,16) .

Khi những chân lý thiết yếu được Huấn quyền long trọng công bố như là các tín điều, thì tất cả dân thánh phải tin. Toàn thể tín hữu được đồng chia sẻ sự hiểu biết các tín điều và những chân lý khác được Chúa mặc khải. Hơn nữa, toàn thể tín hữu không thể sai lầm trong đức tin khi họ cùng với các Giám mục “đều đồng ý về những chân lý liên quan đến đức tin và luân lý”.

Nhờ Chúa Thánh Thần, sự hiểu biết về đức tin có thể gia tăng trong đời sống Hội Thánh nhờ việc các tín hữu suy niệm, học hỏi và nghiên cứu thần học, và cảm nghiệm và sống Lời Chúa.

Giúp ghi nhớ

Thiên Chúa “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý”, nghĩa là nhận biết Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế, phải rao giảng Đức Ki-tô cho mọi người. Điều này được thực hiện bởi Truyền thống Tông đồ.

Truyền thống Tông đồ là việc chuyển đạt sứ điệp của Đức Ki-tô qua việc rao giảng, làm chứng, các cơ chế, phụng tự, và các sách được linh ứng. Việc chuyển đạt  này được thực hiện qua Thánh Truyền và qua Thánh Kinh.

Thánh Kinh là Lời Chúa được ghi lại dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần. Thánh Truyền là trọn vẹn Lời Chúa mà Đức Ki-tô và Chúa Thánh Thần đã trao phó cho các Tông đồ, và truyền lại cho những người kế vị các ngài.

Thánh Kinh và Thánh Truyền hợp thành một kho tàng đức tin duy nhất, được trao phó cho toàn thể Hội Thánh để giữ gìn và truyền lại cho đến tận thế. Chỉ có Huấn quyền của Hội Thánh, nghĩa là vị kế nhiệm thánh Phê-rô và các Giám mục hiệp thông với ngài, mới đủ thẩm quyền giải thích kho tàng đức tin cách trung thực, chắc chắn và không sai lầm.

♣ Gợi ý suy nghĩ

1. Giữa Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn quyền có sự tương quan như thế nào?

2. “Nhờ Chúa Thánh Thần, sự hiểu biết về đức tin có thể gia tăng trong đời sống Hội Thánh nhờ việc các tín hữu suy niệm, học hỏi và nghiên cứu thần học, và cảm nghiệm và sống Lời Chúa”. Bạn nghĩ về điều này thế nào?

BÀI 4

THÁNH KINH

I. THÁNH KINH – LỜI THIÊN CHÚA

Vì yêu thương, “Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Ngài” (Ep 1,9) bằng ngôn ngữ tự nhiên gắn liền với tạo thành (mạc khải tự nhiên) và bằng ngôn ngữ siêu nhiên (mạc khải siêu nhiên). Mạc khải siêu nhiên là Lời Thiên Chúa ngỏ với loài người, đã được Dân Chúa đón nhận, gìn giữ và lưu truyền qua các thời đại bằng truyền khẩu (gọi là Thánh Truyền) và sau đó, một phần được ghi chép thành sách (gọi là Thánh Kinh). Như vậy, Thánh Kinh là bộ sách gồm nhiều tác phẩm khác nhau, chia thành Cựu ước và Tân ước, ghi chép Lời Thiên Chúa đã mạc khải cho nhân loại qua lịch sử dân Israel mà Chúa đã chọn làm dân riêng, và hoàn tất nơi Đức Kitô là mạc khải chung cuộc.

Gọi là Lời Chúa vì Thánh Kinh có Chúa là tác giả. Các tác giả nhân loại đã được Chúa Thánh Thần Linh hứng để ghi chép theo ý Chúa những chân lý đức tin. Vì thế, “phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi chúng ta”  (MK 11). 

II. LỜI CHÚA TRONG NGÔN NGỮ NHÂN LOẠI

1. Thiên Chúa sử dụng ngôn ngữ con người

Kinh Thánh là Lời Chúa ngỏ với con người bằng chính ngôn ngữ của những ai mà Người muốn ký thác để họ chép thành văn. Theo cách diễn tả của các Giáo phụ về  hai cuộc nhập thể: “Ngôi Lời đã trở thành xác phàm” (Ga 1,14), nên giống loài người trong mọi sự, ngoại trừ  tội lỗi (Dt 4,15). Đức Kitô vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật. Trong Kinh Thánh, Lời Thiên Chúa cũng nhập thể thành lời con người mà không hề sai lầm. Kinh Thánh vừa là Lời Chúa vừa là lời con người. Người đã dùng các “tác giả nhân loại”, ban ơn Linh hứng giúp họ viết điều Người mạc khải vì phần rỗi nhân loại. Người không nói với ta hôm nay cách trực tiếp như đã từng nói với các Tổ phụ Israel, những người đương thời Môisê, các ngôn sứ hay hiền nhân, nhưng qua trung gian những tác giả nhân loại này. Vì thế, đọc Kinh Thánh, ta chỉ có thể lĩnh hội được điều Chúa muốn nói khi nắm bắt được chính xác điều tác giả nhân loại muốn trình bày.

2. Sứ điệp của Chúa và bối cảnh nhân loại

Thiên Chúa không nói trên mây gió, nhưng với con người trong một môi trường, một nền văn hóa, một thời đại cụ thể. Người thích ứng sứ điệp Người trao ban với môi trường văn hóa của những ai mà sứ điệp nhắm tới đầu tiên. Người vẫn tiếp tục nói với ta hôm nay, không phải bằng cung cách của người thời nay, nhưng bằng ngôn từ và cách suy nghĩ của người dân thuộc nền văn hóa Sêmít xa xưa, hoàn toàn khác hẳn với cách nhìn, cách nghĩ, tâm lý, não trạng của chúng ta hôm nay. Do đó, dễ có nguy cơ hiểu lệch lạc sứ điệp Lời Chúa khi mù tịt về điều kiện, môi trường của Lời được viết ra. Những phần mới nhất của Kinh Thánh cũng đã được viết khoảng 20 thế kỷ, những quyển lâu đời nhất đã hơn vài ba ngàn năm. Kinh Thánh luôn mang dấu vết thời đại, môi trường văn hóa; trong đó, mạc khải của Thiên Chúa được biên soạn. Vì thế Kinh Thánh không phải chỉ là Lời Thiên Chúa mà còn là lời được nói lên của những con người thuộc thời đại của họ. Cần khám phá điều các tác giả muốn nói qua việc khảo cứu lịch sử, môi trường, văn hóa, ngôn ngữ, những kiểu nói bóng bảy, những hình dung từ, những thể văn (thi phú, truyện thuật, tiểu thuyết). Đó cũng là con đường dẫn đến hiểu biết điều Thiên Chúa muốn nói với ta trong Kinh Thánh.

3. Giáo dục tiệm tiến

Thiên Chúa không ngỏ lời với con người cách đồng loạt, nhưng dùng các tác giả nhân loại là những người có ý thức và tự do, có tình cảm và hoàn cảnh riêng, để qua họ Người ngỏ lời với các độc giả Thánh Kinh. Người cũng không mạc khải hết trong một lúc, nhưng dùng đường lối giáo dục tiệm tiến. Khi Israel còn ấu trĩ, Chúa nói thứ ngôn ngữ thô sơ và có lối cư xử thích hợp để dần dần đưa họ đến trưởng thành. Trong Tân ước, Đức Giêsu cũng dùng đường lối sư phạm tiệm tiến trong việc đào tạo các môn đệ. Ngài kiên nhẫn mạc khải dần dần chân tính của mình qua cách sống, cách ứng xử, nhất là lời giảng dạy, những đòi hỏi…Do đường lối giáo dục tiệm tiến ấy, không lạ gì khi gặp thấy trong Cựu ước nhiều bất toàn trong cảm thức tôn giáo (chẳng hạn, quan niệm còn rất vật chất về Thiên Chúa: Giavê giới hạn trong lãnh thổ Israel, Giavê hay thay đổi như  các vua lân bang, Giavê báo thù và thường đánh phạt kẻ tội lỗi…), nhất là trong đời sống luân lý với những cảnh bạo lực, chiến tranh, ngoại tình, loạn luân, báo thù, trả đũa, đa thê, vụ lợi vật chất, kỳ thị…Những khuyết điểm ấy dần sẽ được giáo dục và biến đổi để đạt tới thiện hảo nơi Tân ước qua lời giáo huấn của Đức Kitô. Tuy nhiên, đừng quên rằng những bất toàn nơi Cựu ước cũng minh chứng cho thấy Kinh Thánh đâu phải là sưu tập gương các hiền nhân, nhưng chứng tỏ Kinh Thánh trình bày trung thực và chân thành lịch sử một dân tộc Chúa chọn với những ưu và khuyết điểm. Sự thật ấy còn minh chứng quyền năng kỳ diệu của Thiên Chúa và tình phụ tử nhẫn nại của Người trong việc biến đổi con người bất toàn nên hoàn thiện hơn để đón nhận ơn cứu độ nơi Đức Kitô.

Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành kho tàng Thánh thiện duy nhất chứa đựng Lời Thiên Chúa (MK 10). Khác với Thánh Truyền, Thánh Kinh lưu truyền mạc khải bằng chữ viết, trong đó ta tìm được những chân lý mà Thiên Chúa muốn cho ghi lại vì phần rỗi của chúng ta (MK 11). Như thế, Thánh Kinh có Thiên Chúa là tác giả chính, các thánh tác là những người mà Thiên Chúa muốn ký thác Lời để họ chép thành văn chỉ là “tác giả dụng cụ”. Điều đó có nghĩa là Thánh Kinh là những sách được viết dưới sự Linh hứng của Thánh Thần.

4. Linh hứng là gì?

Sách Thánh là những sách được soạn thảo dưới sự Linh hứng của Chúa Thánh Thần, nên có Thiên Chúa là tác giả. Điều đó có nghĩa là Kinh Thánh được Chúa Thánh Thần Linh hứng, nghĩa là Người hành động trên các thánh tác để họ viết những điều mà Chúa muốn thông truyền cho loài người. Vì thế, những điều được viết trong Kinh Thánh là Lời Chúa được viết ra. Thiên Chúa là tác giả chính, còn những người viết dưới sự Linh hứng của Thánh Thần là những tác giả phụ, tác giả dụng cụ, hay còn được gọi là thánh ký hay thánh tác.

III. LINH ỨNG VÀ CHÂN LÝ THÁNH KINH

18. Tại sao Thánh Kinh lại có thể dạy chân lý? [105-108,135-136]

Bởi vì chính Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh. Thánh Kinh là quyển sách được linh ứng và dạy dỗ cách không sai lạc những chân lý cần thiết cho ơn cứu độ chúng ta. Thật vậy, Chúa Thánh Thần linh ứng cho các tác giả phàm nhân để họ viết ra những điều Thiên Chúa muốn dạy dỗ chúng ta. Tuy nhiên, đức tin Ki-tô giáo không phải là một “tôn giáo của sách vở”, nhưng là của Lời Thiên Chúa, “không là một ngôn từ được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và sống động” (thánh Bênađô Clairvaux).

Thiên Chúa linh ứng các thánh ký để các ngài dùng tất cả khả năng và sự hiểu biết của mình mà viết Thánh Kinh, nên các ngài là tác giả các sách các ngài viết, nhưng Thiên Chúa cũng chính là tác giả của Thánh Kinh. “Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta”. Tuy vậy, đức tin Ki-tô giáo không phải là một “đạo Sách” mà là đạo của “Lời Chúa”, Ngôi Lời Nhập Thể và hằng sống. Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà chúng ta hiểu được Thánh Kinh.

IV. CHÚA THÁNH THẦN, ĐẤNG GIẢI NGHĨA THÁNH KINH

19. Chúng ta phải đọc Thánh Kinh như thế nào? [109-119,137]

Thánh Kinh phải được đọc và giải thích dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và phải theo sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội Thánh, theo ba tiêu chuẩn: (1) phải chú ý đến nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh; (2) phải đọc Thánh Kinh trong Thánh Truyền sống động của Hội Thánh; (3) phải chú ý đến tính tương hợp của đức tin, nghĩa là đến sự liên hệ hài hòa giữa các chân lý đức tin với nhau.

Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa nói với ta bằng cách thức của loài người, nên chúng ta phải lưu tâm đến các chủ ý, hoàn cảnh thời đại và văn hoá của các tác giả, cũng như các văn thể họ dùng, và sự diễn đạt tư tưởng của họ trong văn nói cũng như văn viết.

“Thánh Kinh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần nên cũng phải được đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần”. Thánh Kinh được trao phó cho Hội Thánh, nên Thánh Kinh chỉ được giải thích cách xác thực trong Hội Thánh. Công đồng Va-ti-ca-nô II đưa ra ba tiêu chuẩn để giải thích Thánh Kinh:

  • Phải chú ý đến “nội dung và tính thống nhất của toàn bộ Thánh Kinh “
  • Phải đọc Thánh Kinh trong “Truyền thống sống động của toàn thể Hội Thánh”.
  • Phải lưu ý đến “loại suy đức tin,” là tính tương hợp trong toàn bộ nội dung các chân lý đức tin và trong toàn bộ chương trình mặc khải.

Hội Thánh cũng phân biệt các nghĩa mà theo đó Thánh Kinh có thể được giải thích:

  • Nghĩa văn tự là nghĩa mà tác giả có ý nói đến.
  • Nghĩa thiêng liêng có thể là nghĩa ẩn dụ trong đó một biến cố ám chỉ một biến cố khác, hay là nghĩa luân lý để dẫn chúng ta đến một cách ăn ở công chính. Cũng có thể có nghĩa thần bí, hướng chúng ta về cùng đích trên Trời.

Sau hết mọi điều liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh đều phải tùy thuộc vào phán quyết của Hội Thánh, vì Hội Thánh được Thiên Chúa trao phó cho sứ mạng và chức vụ gìn giữ và giải thích Lời Chúa.

V. QUY ĐIỂN CÁC SÁCH THÁNH

20. Quy điển của các Sách Thánh là gì? [120,138]

Quy điển các Sách Thánh là danh mục đầy đủ về các Sách Thánh, mà Truyền thống Tông đồ đã phân định rõ ràng cho Hội Thánh. Quy điển này gồm có bốn mươi sáu tác phẩm Cựu Ước và hai mươi bảy tác phẩm Tân Ước.

21. Đâu là tầm quan trọng của Cựu Ước đối với các người Ki-tô hữu? [121-123]

Người Ki-tô hữu tôn kính Cựu Ước như là Lời đích thực của Thiên Chúa. Tất cả các tác phẩm của Cựu Ước được Thiên Chúa linh ứng nên có một giá trị trường tồn. Cựu Ước minh chứng cho thấy nghệ thuật giáo dục bằng tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Và nhất là, các tác phẩm Cựu Ước được viết ra để chuẩn bị cho việc Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ muôn loài, ngự đến.

22. Đâu là tầm quan trọng của Tân Ước đối với các người Ki-tô hữu? [124-127,139]

Trung tâm của Tân Ước là Đức Giê-su Ki-tô. Tân Ước dạy chúng ta chân lý dứt khoát được Thiên Chúa mặc khải. Trong Tân Ước, bốn quyển Phúc Âm – Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an – là những chứng từ chính yếu về đời sống và về lời giảng dạy của Chúa Giê-su; bốn quyển sách này tạo thành trung tâm của tất cả Sách Thánh và có một vị trí độc nhất trong Hội Thánh.  

23. Đâu là sự thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước? [128-130,140]

Thánh Kinh chỉ là một, vì chỉ có một Lời Chúa duy nhất, một chương trình cứu độ duy nhất của Thiên Chúa và một linh ứng duy nhất của Thiên Chúa cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước: cả hai soi sáng cho nhau.

Quy điển Thánh Kinh là danh sách những sách mà Hội Thánh công nhận là được Chúa Thánh Thần linh ứng, gồm có 46 sách Cựu Ước và 27 sách Tân Ước.

Cựu Ước mặc dầu chứa đựng nhiều điều bất toàn và tạm thời, nhưng hướng về Đức Ki-tô.

Tân Ước đặt trọng tâm vào giáo huấn và cuộc đời của Đức Ki-tô và vào Hội Thánh sơ khai dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Các Tin Mừng là trung tâm của tất cả Thánh Kinh vì là chứng từ chính về cuộc đời và giáo huấn của Ngôi Lời Nhập Thể. Tin Mừng được thành hình qua ba giai đoạn:

  • Giai đoạn thứ nhất là đời sống và giáo huấn của Chúa Giê-su.
  • Giai đoạn thứ hai là truyền khẩu qua lời giảng dạy của các Tông đồ và những môn đệ đầu tiên dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
  • Giai đoạn thứ ba là viết các sách Tin Mừng, khi các thánh sử thu góp tài liệu về Chúa Giê-su và thích nghi với hoàn cảnh của giáo đoàn mà tác giả nhằm đến.

Cựu Ước và Tân Ước liên hệ mật thiết với nhau. Các biến cố và nhân vật trong Cựu Ước là tiền thân của những biến cố và hình ảnh trong Tân Ước. “Tân Ước tàng ẩn trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ lộ trong Tân Ước” (Thánh Au-gút-ti-nô). Vì thế Tân Ước phải được đọc dưới ánh sáng của Cựu Ước, và Cựu Ước phải được đọc dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chịu đóng đinh và Phục sinh.

VI. THÁNH KINH TRONG ĐỜI SỐNG HỘI THÁNH

24. Thánh Kinh giữ vai trò nào trong đời sống Hội Thánh? [131-133, 141-142]

Thánh Kinh đem lại sự hỗ trợ và sức mạnh cho đời sống Hội Thánh. Đối với con cái Hội Thánh, Thánh Kinh là sự củng cố đức tin, là lương thực và nguồn mạch của đời sống thiêng liêng. Thánh Kinh là linh hồn của các môn thần học và giảng thuyết mục vụ. Tác giả Thánh Vịnh gọi Thánh Kinh là “đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 118 [119],105). Vì thế, Hội Thánh khuyến khích chúng ta thường xuyên đọc Thánh Kinh, vì “không biết Thánh Kinh là không biết Đức Ki-tô” (thánh Giê-rô-ni-mô).

Hội Thánh luôn tôn kính Thánh Kinh như tôn kính Thánh Thể, vì như Thánh Thể, Lời Chúa còn có sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Hội Thánh, ban sức mạnh đức tin, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh. Vì thế Hội Thánh “tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Ki-tô hữu “hãy năng đọc Thánh Kinh để học biết kiến thức siêu việt của Chúa Giê-su Ki-tô … “Vì không biết Thánh Kinh là không biết Đức Ki-tô” (Thánh Giê-rô-ni-mô).

♣ Giúp ghi nhớ

Thánh Kinh là kho tàng Thánh thiện chứa đựng Lời Thiên Chúa mạc khải cho chúng ta, trong đó ta tìm được những chân lý mà Thiên Chúa muốn cho ghi lại vì phần rỗi chúng ta. Thánh Kinh được viết dưới ơn Linh hứng của Chúa Thánh Thần, có Thiên Chúa là tác giả chính và các thánh tác là tác giả dụng cụ.

Trong việc viết Thánh Kinh, Chúa Thánh Thần đã chọn một số người và soi dẫn cho họ, để họ dùng tất cả khả năng, sự hiểu biết  và phương tiện của mình, mà viết ra những điều Thiên Chúa muốn nói. “Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta”.

Thánh Kinh phải được đọc và giải thích dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, và phải theo sự hướng dẫn của Huấn quyền Hội Thánh, theo ba tiêu chuẩn: (1) phải chú ý đến nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh; (2) phải đọc Thánh Kinh trong Thánh Truyền sống động của Hội Thánh; (3) phải chú ý đến tính tương hợp của đức tin, nghĩa là đến sự liên hệ hài hòa giữa các chân lý đức tin với nhau.

Quy điển Thánh Kinh là danh sách những sách mà Hội Thánh công nhận là được Chúa Thánh Thần linh ứng, gồm có 46 sách Cựu Ước và 27 sách Tân Ước. Giữa Cựu Ước và Tân Ước có một sự liên kết chặt chẽ và thống nhất với nhau. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước: cả hai soi sáng cho nhau.

Hội Thánh tôn kính Thánh Kinh như tôn kính chính Mình Thánh Chúa. Cả hai nuôi dưỡng và hướng dẫn toàn thể đời sống Ki-tô hữu.

♣ Gợi ý suy nghĩ

1. Bạn đã bao giờ đọc qua một lần toàn bộ quyển Thánh Kinh chưa? Bạn có bao giờ nghĩ đến điều đó không?

2. Thánh Giê-rô-ni-mô nói: “Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Ki-tô”. Bạn nghĩ sao về câu nói này?

3. Vì sao để hiểu đúng Thánh Kinh, ta cần khiêm nhường xin Chúa Thánh Thần soi sáng và vâng theo sự chỉ dẫn của Hội Thánh?

BÀI 5

ĐỨC TIN – CON NGƯỜI ĐÁP LẠI LỜI THIÊN CHÚA

Thiên Chúa yêu thương con người. Trước khi chúng ta hiện hữu, Ngài đã chọn chúng ta đi vào trong cuộc đời này để sống, để biết và yêu mến Ngài. Trước khi chúng ta nhận biết Thiên Chúa, Ngài đã tỏ lộ chính Ngài để chúng ta nhận biết. Trước khi chúng ta đáp lời Thiên Chúa, Ngài đã gọi chúng ta. Ngài đã tiến đến với chúng ta và lên tiếng gọi. Đáp lại cách xứng hợp lời mời gọi ấy chính là đức tin. (GLCG số 142).

Đức tin phải được thực hiện với sự vâng phục: vừa lắng nghe vừa đi vào mối tương quan với Thiên Chúa. Ab-ra-ham là mẫu gương cho sự vâng phục của đức tin (số 145). Đức Trinh nữ Ma-ri-a đã tin tưởng hoàn toàn rằng không có gì mà Thiên Chúa không làm được (Lc 1,37). Đức Ma-ri-a đã trao trọn vẹn cuộc đời mình cho thánh ý của Thiên Chúa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (số 148).

Bằng đức tin, con người đem trí khôn và ý chí của mình quy phục Thiên Chúa cách trọn vẹn (số 143). Sự quy phục này diễn tả lòng tôn thờ và làm vinh danh Thiên Chúa. Bất cứ ai tin Thiên Chúa cũng nhìn nhận sự vĩ đại, quyền năng vô hạn và tình yêu của Thiên Chúa, và quy phục Thiên Chúa. Một người có niềm tin thực sự vào Thiên Chúa là một người vĩ đại vì người đó tin rằng Thiên Chúa có thể làm mọi sự vĩ đại. Con người chỉ có thể dành sự quy phục trọn vẹn tín thác này cho một mình Thiên Chúa mà thôi (số 150).

Đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa, là một nhân đức siêu nhiên do Thiên Chúa ban (số 153). Đức tin còn là nỗ lực cộng tác của con người. Đức tin phải lớn lên, trưởng thành và sinh hoa trái. Đức tin sẽ bị “mục nát” nếu cuộc sống chúng ta không thực sự được sống từ bên trong tâm hồn. Đức tin sẽ bị héo khô nếu không thường xuyên được trợ giúp bằng cầu nguyện. Đức tin sẽ đạt được sức mạnh qua những thử thách; bám rễ sâu qua những kiên nhẫn và trung thành làm những điều thiện hảo; qua tình yêu và hy vọng, đức tin trở nên kiên định ngay cả trong những thời khắc tăm tối và đau khổ (số 162).

Đức tin còn hơn là một kinh nghiệm. Thường xuyên có những giai đoạn chúng ta đi như người đi trong khu rừng rậm, thỉnh thoảng đón nhận ánh sáng từ những tia chớp chợt lóe sáng trên bầu trời. Điều này không phải là trở ngại đối với đức tin, nhưng sẽ làm cho đức tin thêm vững mạnh hơn. Tôi tin vì uy quyền của chính Thiên Chúa, Đấng mạc khải, Đấng không thể sai lầm, cũng như không thể lừa dối tôi (số 156). Các thánh là những người thường xuyên sống “đêm tăm tối” trong đó tất cả những kinh nghiệm biến mất và chỉ còn lại đức tin (số 164).

Đức Giêsu là trung tâm của đức tin Kitô giáo.

       –  Đức tin được tóm kết trong câu hỏi và câu trả lời: “Anh bảo Thầy là ai?”; “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,15-16). Đó là trung tâm của đức tin: Tin Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, chịu chết và sống lại, Người là Đấng Cứu độ duy nhất của chúng ta. Đức Giêsu là chân lý trung tâm của đức tin.

       –  Đức tin Kitô giáo có đặc tính ngôi vị. Vì nó không dựa trên một nguyên lý trừu tượng mà trên ngôi vị Đức Giêsu: “Tôi biết tôi tin vào ai”. Đó là một gặp gỡ với chính con người Giêsu, và trong gặp gỡ ấy, nó giúp chúng ta khám phá được ý nghĩa của thế giới, của lịch sử và của từng con người trong chính ngôi vị Đức Giêsu: Người không những là nhân chứng của Thiên Chúa, mà hơn thế nữa Người là sự hiện diện của chính Đấng Vĩnh Hằng trong thế giới này, Người là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta; Người và Cha là một (Ga 14,9).

      –  Đức tin vừa là ơn Thiên Chúa ban, vừa là sự đáp trả có ý thức và tự do của con người. Đức tin vừa có tính cách cá nhân (Tôi tin) vừa có tính cách cộng đoàn (Chúng tôi tin). Mỗi người đón nhận và sống đức tin nhờ cộng đoàn dân Chúa.

I. TÔI TIN

1. Sự vâng phục đức tin

26. Con người đáp trả như thế nào với Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải? [142-143]

Được ân sủng của Thiên Chúa nâng đỡ, con người đáp lời Thiên Chúa bằng việc vâng phục đức tin, bao gồm việc tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lý của Ngài, chân lý được Thiên Chúa bảo đảm vì chính Ngài là Chân Lý.

Qua Mặc khải, Thiên Chúa đã nói với ta như bạn hữu, và mời gọi ta kết hợp mật thiết với Ngài. Cách đáp trả thích đáng của ta là Đức tin mà qua đó ta vâng phục Ngài bằng cả trí khôn và ý chí.

27. Trong Thánh Kinh, ai là những nhân chứng chính yếu cho việc vâng phục đức tin? [144-149]

Có rất nhiều chứng nhân, nhưng đặc biệt là hai vị:

–  Ông Áp-ra-ham, dù bị thử thách, “vẫn vững tin vào Thiên Chúa” (Rm 4,3) và luôn vâng phục tiếng gọi của Ngài; vì thế ông trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4,11.18);

–  Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, trong suốt cuộc đời đã thể hiện một cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin: “Xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

Vâng phục trong đức tin là tự nguyện vâng lời đã nghe, vì chân lý của lời ấy được bảo đảm bởi Thiên Chúa, là Chân Lý. Trong Cựu Ước ông Áp-ra-ham được gọi là Tổ phụ tất cả những người tin, vì ông đã hoàn toàn tin tưởng và vâng phục Thiên Chúa từ ngày Chúa gọi ông cho đến chết. Trong Tân Ước, Đức Mẹ biểu hiện cách hoàn hảo lòng vâng phục trong đức tin. Đức tin của Mẹ không hề lay chuyển suốt đời Mẹ, vì thế Hội Thánh tôn Mẹ là người có đức tin tinh tuyền nhất.

2. “Tôi biết tôi đã tin vào ai” (2 Tm 1,12)

28. Tin vào Thiên Chúa có ý nghĩa cụ thể gì cho con người? [150-152,176-178]

Tin vào Thiên Chúa có nghĩa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài và chấp nhận tất cả những chân lý do Ngài mặc khải vì Ngài chính là Chân Lý. Điều này có nghĩa là tin vào Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Tin là gắn bó bản thân với Thiên Chúa, đồng thời tự nguyện chấp nhận tất cả chân lý Thiên Chúa đã mặc khải. Chúng ta tin vào Đức Ki-tô vì Ngài là Con Thiên Chúa, và tin vào Chúa Thánh Thần. Đức Ki-tô đã mặc khải Chúa Thánh Thần cho chúng ta, và Chúa Thánh Thần giúp chúng ta tin vào Đức Ki-tô.

3. Những đặc điểm của đức tin

29. Đức tin có những đặc điểm gì? [153-165, 179-180, 183-184]

Đức tin là một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa, được trao ban cho tất cả những ai cầu xin với lòng khiêm hạ; đó là nhân đức siêu nhiên cần thiết để được cứu độ. Hành vi đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là một hành động của lý trí con người, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, tự do gắn bó với chân lý của Thiên Chúa. Ngoài ra, đức tin còn có đặc tính chắc chắn, vì được đặt nền tảng trên Lời Chúa; đức tin có đặc tính năng động “nhờ Đức ái” (Gl 5,6); đức tin luôn tăng triển, đặc biệt nhờ lắng nghe Lời Chúa và cầu nguyện. Trong hiện tại, đức tin cho chúng ta nếm trước niềm vui trên trời. 

  • Đức tin là một ân sủng. Chúng ta chỉ có thể tin nhờ ân sủng.
  • Đức tin là một hành động của con người. Trong đức tin, lý trí và ý chí của con người hợp tác với ân sủng của Thiên Chúa.
  • Chúng ta không hiểu tất cả những gì Chúa mặc khải, nhưng có thể tin, vì Ngài đã chứng minh những điều ấy bằng các phép lạ, các lời tiên tri, và sự phát triển của Hội Thánh. Nền tảng của Đức tin là Lời Thiên Chúa. Nhờ đức tin mà ta biết Thiên Chúa và hiểu Lời Chúa rõ ràng hơn. Đức tin không bao giờ mâu thuẫn với lý trí hay khoa học, vì chân lý không thể mâu thuẫn chân lý.
  • Đức tin trong tự do. Đức tin phải tự nguyện. Mặc dầu đức tin cần thiết cho ơn cứu độ, Thiên Chúa không cưỡng ép chúng ta tin.
  • Sự cần thiết của đức tin. Tin vào Đức Ki-tô và Đấng đã sai Ngài đến để cứu độ chúng ta là điều cần thiết để đạt được ơn cứu độ.
  • Kiên trì trong đức tin. Đức Tin là một ân sủng. Chúng ta có thể làm mất ân sủng ấy vì coi thường hay phạm tội. Cần phải nuôi dưỡng đức tin bằng việc học hỏi Lời Chúa, cầu nguyện, và các việc bác ái. Đức tin phải được đức cậy nâng đỡ và đâm rễ trong đức tin của Hội Thánh.

Đức tin là khởi điểm cuộc sống đời đời. Đức tin cho ta nếm trước niềm vui được hưởng nhan Thiên Chúa, là mục đích đời ta. Đức tin có thể bị thử thách bởi sự bất toàn của thế giới. Ta phải noi theo các gương mẫu về đức tin như ông Áp-ra-ham và Mẹ Ma-ri-a, là người hiệp thông với khổ hình Thập giá và cái chết Chúa Giê-su, cùng bao nhiêu nhân chứng đức tin khác.

30. Tại sao không có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học? [159]

Dù đức tin vượt lên trên lý trí, nhưng không bao giờ có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học, vì cả hai đều có cùng một cội nguồn là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa ban ánh sáng lý trí và đức tin cho con người.  

 “Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin” (Thánh Au-gút-ti-nô).

II. CHÚNG TÔI TIN

1. “Lạy Chúa, xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh Chúa”

31. Tại sao đức tin là một hành vi cá nhân nhưng đồng thời cũng là hành vi mang tính Giáo hội ? [166-169,181]

Đức tin là một hành vi cá nhân, vì đó là sự đáp trả tự do của con người đối với Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải. Nhưng đồng thời đó cũng là một hành vi mang tính Giáo hội, tính chất này được bày tỏ trong lời tuyên xưng đức tin: “Chúng tôi tin.” Thật vậy, chính Hội Thánh tin: qua đó, nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh đi trước, sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của mỗi người. Vì thế, Hội Thánh là Mẹ và là Thầy.

“Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà lại không có Hội Thánh là Mẹ.” (Thánh Cyp-ri-a-nô)

Đức tin là một hành động cá nhân, nhưng không riêng rẽ. Ta nhận được đức tin từ người khác, nên phải truyền bá đức tin và nâng đỡ đức tin của tha nhân. Đức tin của Hội Thánh, được mỗi tín hữu tuyên xưng, đặc biệt khi chịu phép Thánh Tẩy, là “Tôi Tin”, được cộng đoàn tín hữu cùng tuyên xưng khi cử hành phụng vụ là “Chúng tôi tin.” Hội Thánh là Mẹ chúng ta, lấy đức tin đáp lời Thiên Chúa, và dạy chúng ta: “tôi tin”, “chúng tôi tin”.

Hội Thánh đã tin, cưu mang, dưỡng nuôi và nâng đỡ đức tin của ta. Qua Hội Thánh ta nhận đức tin và đời sống mới trong Đức Ki-tô nhờ Phép Thánh Tẩy, nên Hội Thánh là mẹ và là người giáo dục đức tin.

2. Ngôn ngữ đức tin

32. Tại sao những công thức đức tin lại quan trọng? [170-171]

Những công thức đức tin là quan trọng vì chúng giúp ta diễn tả, đồng hoá, cử hành và cùng chia sẻ với những người khác các chân lý đức tin, khi sử dụng một ngôn ngữ chung.

Ta không tin vào những công thức, nhưng tin vào các thực tại mà chúng diễn tả, và đức tin cho ta “sờ được”. Ta đến gần những thực tại ấy nhờ các công thức của đức tin, và công thức này cho phép ta diễn tả và lưu truyền, bày tỏ và cử hành đức tin trong cộng đoàn, hấp thụ và sống đức tin mỗi ngày một hơn. Chính Hội Thánh ghi nhớ những Lời Đức Ki-tô. Hội Thánh cũng lưu truyền từ đời nọ đến đời kia lời tuyên xưng đức tin của các Tông đồ. Như mẹ dạy con, Hội Thánh cũng dạy ta ngôn ngữ đức tin để giúp ta hiểu và sống đức tin.

3. Một đức tin duy nhất

33. Phải hiểu như thế nào về đức tin duy nhất của Hội Thánh? [172-175, 182]

Dù được hình thành do nhiều người khác nhau về ngôn ngữ, văn hoá và phong tục, Hội Thánh đồng thanh tuyên xưng một đức tin duy nhất, được lãnh nhận từ một Chúa duy nhất và được chuyển đạt qua một Truyền thống Tông đồ duy nhất. Hội Thánh tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần – và dạy một con đường cứu độ duy nhất. Vì thế, chúng ta, cùng một lòng một ý, tin những gì chứa đựng trong Lời Chúa, được truyền đạt hay được viết ra và được Hội Thánh xác định là do Thiên Chúa mặc khải.

Qua bao thế kỷ, bằng nhiều ngôn ngữ, văn hoá, dân tộc và quốc gia, Hội Thánh không ngừng tuyên xưng một đức tin, nhận được từ một Chúa, được lưu truyền qua một Phép Rửa, ăn sâu trong niềm xác tín rằng tất cả mọi người chỉ có một Thiên Chúa là Cha. Đức tin mà ta đã lãnh nhận từ Hội Thánh, ta phải ân cần gìn giữ. Như một kho tàng quí giá được chứa đựng trong một bình quí, là Hội Thánh, dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Kho tàng này luôn được canh tân, đồng thời cũng canh tân cả bình chứa là Hội Thánh.

III. KINH TIN KÍNH

Ngay từ đầu, Hội Thánh đã diễn tả và lưu truyền đức tin bằng những công thức gọi là Kinh Tin Kính. Đó là lời “tuyên xưng đức tin” đầu tiên khi chúng ta được Rửa Tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Kinh Tin Kính này được chia làm ba phần: Chúa Cha và công trình tạo dựng, Chúa Con và mầu nhiệm Cứu Độ, Chúa Thánh Thần và việc thánh hoá chúng ta.

Qua nhiều thế kỷ, chúng ta có nhiều bản Tuyên Xưng Đức Tin để đáp ứng những nhu cầu các thời đại khác nhau. Hai bản quan trọng nhất là Kinh Tin Kính của các Tông đồ và Kinh Tin Kính Công đồng Nicea-Constantinopoli, hai Công đồng đầu tiên (325 và 381), hay Kinh Tin Kính Nicea. Kinh Tin Kính của các Tông đồ được coi như bản tóm lược trung thành đức tin của các Tông đồ.

34. Các Kinh Tin Kính là gì? [185-188,192,197]

Đó là những công thức ngắn gọn, còn được gọi là “những bản tuyên xưng đức tin” hay “Kinh Tin Kính” qua đó Hội Thánh, ngay từ thuở ban đầu, đã diễn tả đức tin của mình một cách tổng hợp và chuyển đạt đức tin ấy bằng một ngôn ngữ chuẩn hoá và chung cho mọi tín hữu.

35. Các Kinh Tin Kính cổ nhất là những kinh nào? [189-191]

Đó là những Kinh Tin Kính khi cử hành Bí tích Rửa Tội. Vì Bí tích Rửa Tội được ban “nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19), nên các chân lý đức tin mà các người lãnh nhận Bí tích Rửa Tội tuyên xưng, được phân chia theo ba Ngôi vị của Thiên Chúa Ba Ngôi.

36. Các Kinh Tin Kính quan trọng nhất là những kinh nào? [193-195]

Những kinh quan trọng nhất là:

– Kinh Tin Kính của các Thánh Tông đồ, là bản tuyên xưng đức tin cổ xưa nhất dùng khi cử hành Bí tích Rửa Tội của Giáo hội Rô-ma;

– Kinh Tin Kính Công đồng Nicea-Constantinopoli, là kết quả của hai Công đồng Chung đầu tiên, tại Nicea (năm 325) và tại Constantinopoli (năm 381).

Hai kinh này vẫn còn là hai bản kinh chung cho tất cả các Giáo hội lớn của Đông Phương và Tây Phương.

 Kinh Tin Kính các thánh Tông đồ

Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.Tôi tin kính Đức Chúa Giê-su Ki-tô là Con Một Đức Chúa Cha  cùng là Chúa chúng tôi. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh, chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng, ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công.Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.Tôi tin hằng sống vậy. Amen.

Kinh Tin Kính Nicea-Constantinopoli

Tôi tin kính một Thiên Chúa  là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Tôi tin kính một Chúa Giê-su Ki-tô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật,  được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha: nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.

Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm người. Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng ta, thời quan Phongxiô  Philatô; Người chịu khổ hình và mai táng, ngày thứ ba Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha, và Người sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng.

Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra. Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con: Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện,  công giáo và tông truyền. Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa để tha tội.

Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. Amen.

♣ Giúp ghi nhớ

Tin vào Thiên Chúa là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân cho Ngài và chấp nhận tất cả những chân lý do Ngài mặc khải vì Ngài chính là Chân Lý.

Đức tin vừa là ơn Thiên Chúa ban, vừa là sự đáp trả có ý thức và tự do của con người.

Ngoài tính cách cá nhân, đức tin còn có tính cách cộng đoàn vì ta đón nhận và sống đức tin nhờ cộng đoàn dân Chúa. Hội Thánh đã tin, cưu mang, dưỡng nuôi và nâng đỡ đức tin của ta. Hội Thánh là mẹ và là người giáo dục đức tin của ta.

♣ Gợi ý suy nghĩ

1. Theo bạn, tin vào Thiên Chúa nghĩa là gì?

2. Có gương mẫu nào nổi bật về lòng tin khiến bạn cảm phục?

3. Phải chăng Dạy Giáo lý là việc thông truyền đức tin mình đã nhận lãnh cho thế hệ tương lai?

4. Có khi nào bạn đọc thật chậm rãi và suy niệm về Kinh Tin Kính không?

Bài 6 

TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI

Lời tuyên xưng đức tin của Giáo Hội bắt đầu bằng câu “Tôi tin kính Đức Chúa Trời”. Đó là nền tảng cho tất cả những gì theo sau và cách nào đó chứa đựng toàn bộ tín biểu (GLCG số 199). Tất cả những gì được nói đến trong kinh Tin Kính đều tùy thuộc niềm tin vào Thiên Chúa. Do đó, thư Do Thái viết: “Không có đức tin thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người” (Dt 11,6).

Vì thế, bản tuyên xưng đức tin được khởi đầu bằng “Tôi tin kính Đức Chúa Trời” (số 198-199). Xác quyết này là nguồn gốc của mọi chân lý khác về con người, về vũ trụ và về toàn bộ đời sống của những ai tin Thiên Chúa.

Bản tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt đầu với Thiên Chúa, là nguyên thủy và cứu cánh của mọi sự. Kinh Tin Kính bắt đầu với Thiên Chúa Cha.

I. TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA DUY NHẤT

37. Tại sao chúng ta tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất? [200-202, 228]

Bởi vì Thiên Chúa đã mặc khải cho dân Ít-ra-en biết rằng Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, khi Ngài nói: “Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất” (Đnl 6,4). “Ta là Thiên Chúa, chẳng còn chúa nào khác” (Is 45,22). Chính Chúa Giê-su cũng xác nhận điều này: Thiên Chúa là “Đức Chúa duy nhất” (Mc 12,29). Tuyên xưng Chúa Giê-su và Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đức Chúa, không hề đưa đến sự chia cắt nào nơi Thiên Chúa duy nhất.  Thiên Chúa tự mặc khải là Đấng Duy Nhất cho dân Ít-ra-en. Chính Chúa Giê-su xác định Thiên Chúa là “Chúa Duy Nhất”, và có Ba Ngôi.

Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, vì vậy:

  • Không có một vị nào khác ngang bằng với Ngài, nên chúng ta phải đặt Ngài và chỉ một mình Ngài ở địa vị trên hết (số 223).
  • Chúng ta là gì và có gì thì cũng đều phát xuất từ Ngài, nên chúng ta phải sống trong sự biết ơn Ngài (số 224).
  • Chúng ta hiểu rõ hơn tính duy nhất và nhân phẩm đích thực của mọi người vì họ được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (số 225).
  • Chúng ta phải đối xử với tạo vật như là tạo vật, không được coi chúng như là các thần để tôn thờ chúng (số 226).

II. THIÊN CHÚA MẶC KHẢI DANH THÁNH

38. Thiên Chúa tự mặc khải với danh xưng nào? [203-205, 230-231]

Từ bụi gai bốc cháy, Thiên Chúa mạc khải danh Ngài cho Mô-sê: “Ta là Đấng Hằng Hữu” (YHWH) (Xh 3,14). Thiên Chúa đã mặc khải chính mình cho Mô-sê là Thiên Chúa hằng sống “Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp” (Xh 3,6).Ngài hứa với Môsê: “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3,12). Ngài mặc khải cho Mô-sê biết: “Ngài là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu ân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Sự vĩ đại và gần gũi của Thiên Chúa gắn kết với sự thánh thiện và giàu lòng thương xót của Ngài (số 210). Thiên Chúa là “Đấng Hằng Hữu” từ muôn thuở đến muôn muôn đời, Ngài là Đấng luôn trung tín với chính mình Ngài và với các lời hứa của Ngài (số 212). Ngài không thể lừa dối vì Ngài là chân lý, Ngài không làm ai thất vọng vì Ngài là tình yêu.

Vì người Do Thái không dám gọi đích danh tên cực thánh của Thiên Chúa, nên mỗi khi gặp chữ YHWH trong Sách Thánh, họ thường đọc thành ‘Adonai’ (tiếng Hi lạp là ‘Kyrios’), có nghĩa là ‘ĐỨC CHÚA’ (GLCG 209). (Trong bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh và một số bản tiếng Việt, khi từ ‘ĐỨC CHÚA’ viết chữ in hoa, có nghĩa là nguyên bản tiếng Hípri dùng từ YHWH. Khi viết bằng chữ thường, có nghĩa là nguyên bản tiếng Hípri dùng từ ‘Adonai’’).

Thiên Chúa là Hiện Hữu, thuần tuý và đơn nhất. Tên gọi YHWH (‘Giavê’),Đấng Hằng Hữu chỉ về sự hằng hữu của Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn luôn hiện hữu, Người luôn luôn có, Người đã hiện hữu thế nào trước kia thì cũng sẽ hiện hữu như vậy trong tương lai giống như Người đang hiện hữu bây giờ. Bất cứ cái gì hiện hữu đều phát xuất từ Người. Mọi vật hiện hữu nhờ nhận được sự hiện hữu từ Thiên Chúa.

Trong Tân Ước, Chúa Giê-su được người ta gọi là Đức Chúa, tức là được nhìn nhận là Thiên Chúa thật.

39. Có phải chỉ một mình Thiên Chúa “hiện hữu” không? [212-213]

Trong khi tất cả mọi thụ tạo đều lãnh nhận từ Thiên Chúa tất cả những gì chúng là và có, chỉ Thiên Chúa mới tự mình hiện hữu một cách trọn vẹn và tuyệt hảo. Ngài là “Đấng hằng hữu” không có khởi đầu và cũng chẳng có cùng tận. Chúa Giê-su cũng mặc khải rằng Ngài mang Danh Thánh: “Ta là Đấng hằng hữu” (Ga 8,28).

40. Tại sao việc mặc khải Danh Thánh Thiên Chúa là điều quan trọng? [206-213]

Qua việc mặc khải Danh Thánh, Thiên Chúa cho thấy sự phong phú chất chứa trong mầu nhiệm khôn lường của Ngài. Chỉ mình Ngài hiện hữu từ muôn thuở và cho đến muôn đời. Ngài siêu việt trên vũ trụ và lịch sử. Chính Ngài là Đấng tạo thành trời đất. Ngài là Thiên Chúa trung tín, luôn gần gũi với dân để cứu độ họ. Ngài là Đấng Thánh tuyệt hảo, “giàu lòng nhân hậu” (Ep 2,4), luôn sẵn sàng tha thứ. Ngài là Hữu Thể thiêng liêng, siêu việt, toàn năng, vĩnh cửu, ngôi vị, trọn hảo. Ngài là chân lý và tình yêu.

Trong Thánh Kinh, tên của một người diễn tả căn tính và ý nghĩa đời họ. Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho dân Ngài cách tiệm tiến dưới nhiều Danh Thánh khác nhau. Mặc khải của Ngài cho ông Mô-sê tại núi Xi-nai được nhận là căn bản cho Cựu và Tân Ước.

  • Thiên Chúa đã mặc khải chính mình cho Mô-sê là Thiên Chúa hằng sống, “Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp” (Xh 3,6).
  • Ngài mặc khải tên Ngài là YHWY (Giavê), nghĩa là Ta là “Đấng Tự Hữu,” luôn hiện diện bên cạnh Dân Ngài để giải cứu họ.
  • Sau khi dân Ít-ra-en phạm tội thờ bò vàng, Ngài nhận lời ông Mô-sê và đồng hành giữa họ. Ngài cho biết Ngài là Đấng hay thương xót và nhân hậu, chậm bất bình, giàu nhân ái và trung tín. Ngài thương ta đến nỗi hiến tế Con Một của Ngài để cứu ta khỏi tội lỗi.
  • Thiên Chúa tỏ cho dân Ít-ra-en biết rằng ngoài Ngài ra không có thần nào khác. Ngài siêu vượt thế giới và lịch sử. Chính Ngài đã dựng nên trời đất, là “Đấng Hiện Hữu” từ muôn đời, cho nên Ngài luôn trung tín với chính mình và với các lời Ngài hứa.

III. THIÊN CHÚA: “ĐẤNG HIỆN HỮU” LÀ CHÂN LÝ VÀ LÀ  TÌNH YÊU

41. Phải hiểu “Thiên Chúa là chân lý” như thế nào? [214-217, 231]

Thiên Chúa là chính Chân lý; và do đó, Ngài không tự dối gạt mình cũng không dối gạt ai. Ngài là “Ánh sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5). Người Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, là sự Khôn Ngoan nhập thể, đã được sai đi vào thế gian “để làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37).

42. Thiên Chúa mặc khải Ngài là Tình Yêu như thế nào? [218-221]

Thiên Chúa tự mặc khải cho dân Ít-ra-en rằng Ngài là Đấng có một tình yêu mạnh mẽ hơn tình yêu của cha mẹ đối với con cái hoặc của vợ chồng đối với nhau. Tự bản chất, Thiên Chúa “là Tình Yêu” (1 Ga 4, 8.16), Ngài tự hiến ban mình cách trọn vẹn và nhưng không, Ngài “yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, […] để nhờ Con Ngài, mà thế gian được cứu độ” (Ga 3,16-17). Khi sai phái Con Ngài và Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa mặc khải chính Ngài là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu.

Thiên Chúa là Chân Lý, vì Ngài là Ánh Sáng, nơi Ngài không có một chút tăm tối nào; Ngài không hề thay đổi và không hề gian dối; Ngài luôn thực hiện những lời Ngài hứa. Chân Lý của Ngài được biểu lộ qua sự khôn ngoan Ngài dùng điều khiển toàn thể trật tự vũ trụ.

Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình yêu vĩnh cửu giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ngài chia sẻ tình yêu này với ta. Tình yêu thắng mọi bất trung, và đưa đến hồng ân quý giá nhất là “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một Ngài.” Trong mọi công trình, Ngài biểu lộ lòng ưu ái, nhân hậu, ân sủng và tình yêu; Ngài cũng tỏ ra là Đấng đáng tin cậy, bền vững, trung tín, và chân thật.

IV. TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỨC TIN VÀO THIÊN CHÚA DUY NHẤT

43. Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm những gì? [222-227, 229]

Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất bao hàm việc nhận biết sự vĩ đại và quyền năng của Ngài, sống trong sự cảm tạ, luôn tin tưởng vào Ngài, cả khi gặp nghịch cảnh, nhận biết sự hợp nhất và phẩm giá đích thực của mọi người, đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, và sử dụng cách đúng đắn những gì Thiên Chúa đã dựng nên.

Tin vào Thiên Chúa nghĩa là nhận biết sự cao cả của Ngài, và luôn sống trong niềm tạ ơn. Cũng có nghĩa là nhận ra phẩm giá của tất cả những ai được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, sử dụng những gì Thiên Chúa đã dựng nên cách chính đáng, và tín thác vào Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh.

♣ Giúp ghi nhớ

Qua lời nói và việc làm, Thiên Chúa tỏ cho ta biết chỉ có Ngài là Thiên Chúa duy nhất. Ngoài Ngài ra, không có Thiên Chúa nào khác, và ta phải tin kính và thờ phượng một mình Ngài mà thôi.

Khi tỏ cho ông Mô-sê biết tên Ngài là Đấng Hiện Hữu, Thiên Chúa muốn cho biết Ngài là Đấng tự mình mà có, không do ai tạo thành, không có kết thúc, luôn có mặt bên ta để chăm sóc và cứu giúp ta.

Thiên Chúa còn tỏ cho ta biết Ngài là Đấng giàu lòng thương xót, luôn trung tín, chân thật và yêu thương.

Niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất giúp ta nhận biết sự cao cả và uy quyền của Thiên Chúa, để yêu mến và phụng thờ Ngài trên hết mọi sự.

♣ Gợi ý suy nghĩ

1. Thiên Chúa duy nhất nghĩa là gì?

2. Vì sao niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất khiến ta biết sống cảm tạ, luôn tin tưởng vào Thiên Chúa, cả khi gặp nghịch cảnh, nhận biết sự hợp nhất và phẩm giá đích thực của mọi người?

3. Những gì khiến ta nhận biết Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, luôn trung tín, chân thật và yêu thương?

BÀI 7

THIÊN CHÚA LÀ CHA VÀ CON VÀ THÁNH THẦN

Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm đứng đầu trong ba mầu nhiệm chính của đạo Công Giáo. Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi dạy cho chúng ta biết có một Thiên Chúa mà Người có Ba ngôi. Ba Ngôi hiệp nhất và yêu thương nhau. Nhân loại được hiện hữu nhờ tình yêu của Ba Ngôi. Đồng thời khi cử hành mầu nhiệm này, chúng ta được thúc đẩy hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa và yêu thương nhau như chính Ngài.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo. Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất, cao cả nhất mà lý trí con người, ngay cả óc trí khôn con người cũng không thể nào thấu hiểu hay hình dung được. Bởi vì Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một vấn đề, càng không phải là một vấn đề toán học. Chính Chúa Giêsu đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này. Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ. Chính Chúa Giêsu, trong đời sống công khai giảng dạy đã mạc khải dần dần, tức là Ngài đã dần dần vén lên bức màn của mầu nhiệm này. Ngài cho biết Chúa Cha là Thiên Chúa, còn Ngài là Con Một của Chúa Cha. Ngài và Chúa Cha là một. Ngài cùng bản tính với Chúa Cha, Ngài cũng là Thiên Chúa. Và Chúa Thánh Thần là Đấng Ngài và Chúa Cha sai đến, cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi riêng biệt nhau.

Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất là Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất. Tôi tin kính một Chúa duy nhất là Đức Giêsu Kitô, con Một Thiên Chúa, được Chúa Cha sinh ra trước muôn thưở muôn đời. Tôi tin kính Chúa Thánh thần, người là Chúa và là Đấng ban sự sống, Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con“. Đó là  một công thức thần học súc tích, mang nặng tính chất lý luận dài dòng và khó hiểu. Thế nhưng đây là một mầu nhiệm tuyệt đối nhất trong các mầu nhiệm. Mầu nhiệm của sự hiệp thông sự sống và tình yêu

Thiên Chúa là tình yêu, nghĩa là Ngài không đơn độc một mình. Nếu như Ngài đơn độc một mình thì Ngài sẽ yêu một mình Ngài một cách ích kỷ vô cùng. Nhưng Ngài là ba: Cha, Con và Thánh Thần. Là ba, nhưng cả ba hoàn toàn yêu thương nhau, hiến tặng sự sống cho nhau, hoàn toàn tương quan, hiệp nhất với nhau: Cha hoàn toàn là của Con, Con hoàn toàn là của Cha và mối tương quan tình yêu và sự sống này giữa Cha và Con là chính Chúa Thánh Thần.  Tình yêu Thiên Chúa không khép kín lại nơi cộng đồng Ba Ngôi, nhưng lan toả ra ngoài trên khắp vũ trụ và đến nhân loại: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con chí ái của Ngài” (Ga 3, 16), nghĩa là chính “sự sống của Thiên Chúa” .

Thiên Chúa là tình yêu. Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là một công thức khác để nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, nghĩa là ban cho con người được hạnh phúc như Chúa. Nhưng con người đã phạm tội phản nghịch đánh mất hạnh phúc. Thiên Chúa không từ bỏ con người. Ngài đã quyết định ban con yêu dấu của Ngài để cứu chuộc. Và vì yêu thương con người, Chúa Con đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian thực hiện sứ mệnh yêu thương đó. Và khi hoàn tất, Ngài về trời, Người Con ấy cũng lại trao ban Thánh Thần, nghĩa là chính sự sống của Ngài cho thế gian. Thánh Thần đến để tiếp tục công việc của Chúa Con, công việc yêu thương. Chính nơi Người Con ấy, nơi bản thân, cuộc sống, cái chết và sự Phục Sinh của Chúa Giêsu mà chúng ta nhận ra được Thiên Chúa là tình yêu, thế nào là sống như con người được tạo dựng giống hìng ảnh Thiên Chúa: “Ai không yêu thương anh em là không biết Thiên Chúa” (1Ga 4, 8) còn ai đã biết Thiên Chúa thì phải yêu thương anh em như Ngài đã yêu thương, “vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8). Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa tiếp tục được bày tỏ mãi cho tới chúng ta hôm nay và mãi về sau nữa.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi còn là mầu nhiệm của sự hiệp nhất. Có thể nói Thiên Chúa là một gia đình: Cha, Con và Thánh Thần. Yêu thương chính là bản tính thần linh chung của Ba Ngôi, là lời lý giải cho mầu nhiệm cao cả mà chúng ta tuyên xưng.

Mầu nhiệm đức tin không bao giờ là một trò chơi và thách đố trí tuệ, nhưng luôn hàm chứa lời mời gọi sự sống, Thiên Chúa Ba Ngôi là thực tại sống động trong đời sống người Kitô hữu được khai sinh nhờ bí tích Rửa tội “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần“. Lời cầu nguyện luôn luôn là lời nguyện ” với Chúa Cha, nhờ Chúa Con và trong Chúa Thánh Thần“. Thánh Lễ, trọng tâm của đời sống Kitô hữu, cũng được khai mở và kết thúc trong danh Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi đang sống trong lòng mỗi người, đời sống Ba Ngôi đang diễn ra trong mỗi tâm hồn.Từng giây từng phút, người Kitô hữu được liên kết chặt chẽ với Chúa Con, đến độ khi được tràn đầy Thánh Thần của Ngài, người Kiô hữu trở thành con của Cha trên trời. Vì vậy, phúc lành vĩ đại nhất cho kẻ tin là ” được tràn đầy ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Chúa Cha và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần“. Vì thế, sự nhận biết Thiên Chúa là tình yêu và là tình yêu cứu độ phải là sự thúc đẩy chúng ta yêu thương mọi người như Thiên Chúa yêu thương.

44. Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Ki-tô giáo là gì? [232-237]

Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Ki-tô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh. Các người Ki-tô hữu được rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Chúng ta được rửa tội “nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là trọng tâm của đức tin và đời sống Ki-tô hữu, là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa, là giáo huấn căn bản nhất và trọng yếu nhất theo “phẩm trật các chân lý đức tin.” Mầu nhiệm này là căn bản của tất cả các chân lý khác.

45. Chỉ dùng lý trí, con người có thể nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi hay không? [237]

Thiên Chúa đã để lại những dấu vết về thực thể Ba Ngôi của Ngài trong công trình tạo dựng và trong Cựu Ước, nhưng đời sống nội tại của Ba Ngôi chí thánh vẫn là một mầu nhiệm mà lý trí thuần túy của con người không thể nào đạt đến được, và ngay cả đức tin của Ít-ra-en cũng không thể biết mầu nhiệm đó, trước thời Con Thiên Chúa nhập thể và Chúa Thánh Thần được gởi đến. Mầu nhiệm này đã được Đức Giê-su Ki-tô mặc khải và là nguồn gốc của tất cả các mầu nhiệm khác.

I. MẶC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA BA NGÔI

46. Chúa Giê-su đã mặc khải cho chúng ta điều gì về mầu nhiệm Chúa Cha? [240-242]

Đức Giê-su Ki-tô mặc khải cho chúng ta Thiên Chúa là “Cha”, không những vì Ngài là Đấng sáng tạo vũ trụ và con người, nhưng trên hết, từ đời đời Ngài đã sinh ra Chúa Con tự lòng mình, Đấng là Ngôi Lời, là “phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Dt 1,3).

47. Chúa Thánh Thần, mà Chúa Giê-su đã mặc khải cho chúng ta, là ai? [243-248]

Ngài là Ngôi thứ ba trong Ba Ngôi cực thánh. Ngài là Thiên Chúa, hợp nhất và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con. Ngài “xuất phát từ Chúa Cha” (Ga 15,26), Đấng là nguyên lý không có khởi đầu, là nguồn gốc trọn vẹn cuộc sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần cũng xuất phát từ Chúa Con (Filioque), vì Chúa Cha đã trao ban Ngài cho Chúa Con như ân ban vĩnh cửu. Được Chúa Cha và Chúa Con nhập thể sai phái, Chúa Thánh Thần hướng dẫn Hội Thánh đến sự nhận biết “Chân lý trọn vẹn” (Ga 16,13).

Cựu Ước gọi Thiên Chúa là “Cha” vì Ngài là nguồn gốc của mọi sự, và săn sóc cho ta như Cha săn sóc con. Chúa Giê-su gọi Thiên Chúa là Cha vì Ngài là Cha trong tương quan với Chúa Con. Tân Ước tuyên xưng rằng Chúa Con, Ngôi Lời Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa. Công đồng Nicea dạy rằng Chúa Con đồng bản tính với Chúa Cha.

Chúa Giê-su mặc khải rằng Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa qua việc hứa ban Đấng An Ủi xuống thánh hoá chúng ta. Chúa Thánh Thần đồng bản thể và ngang hàng với Chúa Cha và Chúa Con. Theo truyến thống La-tinh thì Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra. Theo truyền thống Hy Lạp thì Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha qua Chúa Con.

II. TÍN ĐIỀU THIÊN CHÚA BA NGÔI

48. Hội Thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi như thế nào? [249-256,266]

Hội Thánh diễn tả đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi khi tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất mà Ngài có Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi vị thần linh chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, vì mỗi Ngôi vị đều có trọn vẹn bản thể duy nhất và không thể phân chia của Thiên Chúa. Ba Ngôi thực sự phân biệt giữa nhau qua các liên hệ tương quan với nhau. Chúa Cha sinh Chúa Con; Chúa Con được Chúa Cha sinh ra; Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con.

Chân lý về Chúa Ba Ngôi là nền tảng của đức tin Hội Thánh. Chân lý này được hình thành ngay từ thời Tân Ước. Ba Ngôi là một Thiên Chúa đồng bản thể. Các Ngôi không chia nhau một thiên tính, nhưng mỗi Ngôi đều trọn vẹn là Thiên Chúa. Ba Ngôi khác biệt nhau trong các mối tương quan với nhau như Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi là “Một Thiên Chúa nhưng không đơn độc.”

III. HOẠT ĐỘNG CỦA BA NGÔI

49. Các Ngôi vị Thiên Chúa hoạt động như thế nào? [257-260,267]

Ba Ngôi vị thần linh không thể tách rời nhau trong cùng một bản thể duy nhất, thì cũng không thể tách rời trong các hoạt động của mình. Ba Ngôi có cùng một hoạt động duy nhất. Tuy nhiên, trong hoạt động thần linh duy nhất này, mỗi Ngôi vị hiện diện theo cách đặc thù của mình trong Ba Ngôi.

 “Lạy Thiên Chúa của con, Lạy Ba Ngôi con tôn thờ… xin ban bình an cho linh hồn con, xin biến  linh hồn con thành thiên đàng của Chúa, nơi trú ngụ dễ mến và nơi yên nghỉ của Chúa. Không bao giờ con muốn bỏ mặc Chúa một mình, nhưng con sẽ trọn vẹn ở đó, tỉnh thức trong đức tin, hoàn toàn thờ lạy, và hoàn toàn phó thác vào hoạt động sáng tạo của Chúa.” (Chân phước Elisabeth Chúa Ba Ngôi)  

Thiên Chúa là hạnh phúc và sự sống bất diệt, là ánh sáng không bao giờ tàn. Ngài là tình yêu. Ngài tự ý chia sẻ vinh quang, sự sống và hạnh phúc của Ngài với ta. Tình yêu này được trải ra trong việc tạo dựng, trong suốt lịch sử cứu độ, trong sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, mà Hội Thánh nối tiếp. Toàn thể kế hoạch của Thiên Chúa là công trình của Ba Ngôi. Ba Ngôi có cùng một hoạt động, nhưng mỗi Ngôi thực hiện công trình chung theo đặc tính riêng của mình, đặc biệt trong sứ mạng Tạo Dựng của Chúa Cha, Nhập Thể của Chúa Con, và việc ban tặng Chúa Thánh Thần cho ta. Các sứ vụ này mời gọi ta kết hợp với Ngài, để nên đền thờ cho Ba Ngôi ngự trị.

BÀI GIÁO LÝ: CHÚA BA NGÔI.

 A – Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.

Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của Đức Tin và đời sống Kitô hữu. Đây là cội nguồn của Đức Tin và là giáo lý căn bản của Kitô Giáo.

Ngay trong những ngày đầu của đời sống Kitô hữu, Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi đã hiện diện: Rửa tội nhân danh Ba Ngôi.

Trong đời sống hằng ngày chúng ta thường làm dấu Thánh Giá Nhân Danh Ba Ngôi.

 B – Mạc khải Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.

Chúa Giêsu đã Mạc khải cho ta biết về Chúa Cha. Người không phải chỉ là Cha theo nghĩa là Đấng Tạo Hoá, nhưng Người là Cha trong tương quan với Ngôi Con Duy Nhất: “Không ai biết Con trừ ra Cha, cũng như không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho” (Mt 11, 27).Chúa Giêsu còn hứa ban Đấng Bảo Trợ là Chúa thánh Thần cho các Môn Đệ (Ga 14,26).

 C – Ba Ngôi nhưng là Một.

Ba Ngôi thực sự khác nhau, nhưng Duy Nhất trong cùng một Thần Tính. Thiên Chúa Duy Nhất nhưng không đơn độc vì Chúa Cha, Chúa Con Và Chúa Thánh Thần thực sự phân biệt nhưng không tách biệt nhau mà Một Thiên Chúa Duy Nhất.

 D – Hoạt Động của Ba Ngôi.

Ba Ngôi cùng hoạt động trong mọi công trình. Nhưng trong hành động duy nhất, mỗi Ngôi biểu lộ nét riêng biệt:

Ngôi Cha tạo dựng.
Ngôi Con cứu chuộc.
Ngôi Thánh Thần thánh hóa.

 E – Sống Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.

Khi nhân danh Ba Ngôi với tất cả ý thức để dâng công việc và cả con người chúng ta cho Ba Ngôi, xin ơn thánh hoá cho những gì chúng ta làm được tốt đẹp.

Ba Ngôi yêu thương kết hợp thành Một, chúng ta xin Chúa ban cho mỗi người, có con tim biết yêu thương, để trở nên một trong Chúa và trong mọi người. 

♣ Giúp ghi nhớ

Mầu nhiệm trung tâm của đức tin Ki-tô giáo là mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, vì mỗi Ngôi đều có trọn vẹn bản thể duy nhất và không thể phân chia của Thiên Chúa. Ba Ngôi thực sự phân biệt giữa nhau: Chúa Con được Chúa Cha sinh ra; Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con. Chính Chúa Giê-su đã mặc khải cho ta biết mầu nhiệm này.

Ba Ngôi cùng hoạt động trong mọi công trinh, nhưng mỗi Ngôi biểu lộ một nét riêng biệt: Chúa Cha tạo dựng, Chúa Con cứu chuộc và Chúa Thánh Thần thánh hoá.

♣ Gợi ý suy nghĩ 

1. Những yếu tố nào cho thấy mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Ki-tô giáo?

2. Khi tỏ cho ta biết mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Giê-su mời gọi ta điều gì ?

3. Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm yêu thương và hiệp nhất: Ba Ngôi yêu thương và hiệp nhất với nhau đến nỗi Ba Ngôi chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Sự hiệp nhất này chính là mẫu mực cho đời sống gia đình cũng như cho mọi cộng đoàn trong Hội Thánh. Bạn suy nghĩ về điều này thế nào?

BÀI 8

THIÊN CHÚA TẠO DỰNG CON NGƯỜI

Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài. Con người có xác có hồn, có nam có nữ.

A. CON NGƯỜI

Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” Trước câu hỏi đầy ngỡ ngàng này, vịnh gia trả lời:

Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,
cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân:
Nào chiên bò đủ loại, nào thú vật ngoài đồng,
nào chim trời cá biển, mọi loài ngang dọc khắp trùng dương” (Tv 8,5-8)

Con người là đỉnh cao của tạo dựng như cách nói của Công đồng Vatican II : “Những người tin cũng như những người không tin đều có chung quan điểm là mọi vật trên địa cầu phải được quy hướng về con người như là trung tâm và đỉnh cao của vạn vật” (Gaudium et Spes, số 12). Ngày nay, nhiều khuynh hướng nhìn con người là kẻ tàn phá thiên nhiên và làm rối loạn hòa bình. Lại chẳng phải do sự tự phụ của con người đã tự nâng mình lên trên các thụ tạo khác hay sao?

Cách đây nhiều năm, Adolf Portmann, một nhà sinh vật học lớn, đã viết: “Thời gian vẫn chưa quá xa khi chúng ta đã có thể tin rằng muôn sắc của các loài bướm, những tiếng hót của các loài chim, và sự rực rỡ của các loài hoa được tạo nên vì niềm vui của chúng ta. Sự lừa dối an toàn này, qua đó hiện hữu của chúng ta được nâng lên quá cao dường như là đỉnh điểm của tất cả sự sống, đã bị phá hủy bởi cái nhìn đầu tiên của chúng ta xuống dưới đại dương bao la”. Đúng như vậy, thế giới sâu thẳm của đại dương bao la không liên quan đến chúng ta, cũng như sự giãn nở của vũ trụ bao la. Tuy nhiên, chỉ con người mới có thể thâm nhập vào những chiều sâu của đại dương và không gian bên ngoài để khám phá đôi chút những huyền nhiệm của nó, và chỉ con người mới có thể nhận ra rằng có nhiều điều mình không biết.

Sự vĩ đại của con người không nằm ở sức mạnh thể lý vì sư tử mạnh hơn nhiều và loài hươu nhanh hơn nhiều, nhưng là ở bản tính thiêng liêng và trí tuệ của con người. Chỉ mình con người mới có thể biết và yêu, do đó nhận ra rằng nó biết và nó yêu. Đó là điều Công đồng Vatican II viết: “Con người, tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ” (Gaudium et Spes, số 24) và sách Giáo Lý giải thích: “Chỉ con người được kêu gọi tham dự vào sự sống của Thiên Chúa, bằng sự nhận biết và tình yêu” (GLCG số 356).

Sự vĩ đại của con người là ở chỗ họ có thể trở thành bạn hữu của Thiên Chúa. Bất cứ ai nhìn con người chỉ là thành phần của thiên nhiên, không có mục tiêu nào khác hơn sự sống trần thế này, sẽ cho rằng những trình thuật của thánh vịnh về sự cao cả của con người là cường điệu. Nhưng sẽ hoàn toàn khác nếu chúng ta chấp nhận lời mặc khải của Thiên Chúa: “Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa” (St 1,27). Vị thế độc đáo này của con người được diễn tả qua thuật ngữ “ngôi vị”: “Mỗi cá nhân con người, bởi vì được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên có phẩm giá của một ngôi vị, không chỉ là một sự vật nào đó nhưng là một ai đó.” (số 357). “Ngôi vị” đó không đơn giản là một con số trong hàng loạt các dãy số tự nhiên, nhưng “tôi” duy nhất được mong muốn, được yêu và được gọi bởi Thiên Chúa. Và bất cứ ai nói “ngôi vị” cũng là nói đến “cộng đoàn”. Anh hay chị không phải là một sự vật khác nhưng là một ai khác. “Một tôi” chủ thể (là anh hay chị) cũng được Thiên Chúa yêu thương như tôi, và được kêu gọi đến sự sống vĩnh cửu. Do đó, “mọi người thật sự đều là anh em” (số 361).

B. XÁC VÀ HỒN

Sự khác biệt giữa các thực tại thể lý và tâm lý là kinh nghiệm quen thuộc đối với mọi người. Chẳng hạn, đau răng là một điều khác biệt đối với dằn vặt tâm lý. Suy tư là điều khác biệt đối với tiêu hóa. Nhưng cả hai loại này gắn liền với một nhân vị. Chúng ta nói rất chính xác: “Tôi” bị nhức đầu, hoặc “tôi” thưởng thức âm nhạc. Như Công đồng Vatican II trình bày: “Con người là một chủ vị duy nhất gồm có thể xác và linh hồn” (Gaudium et Spes số 14; GLCG số 364).

Con người là một nhân vị gồm thể xác và tinh thần trong đó thế giới vật chất và thế giới tinh thần được liên kết với nhau, đó là một chân lý có thể hiểu được nhờ lý trí của chúng ta. Tuy nhiên, những nhận thức sai lầm về con người dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm vẫn thường xuyên được lặp lại. Thí dụ, chủ nghĩa duy vật chất từ chối sự hiện hữu của linh hồn và chỉ thấy con người là một phần của thế giới vật chất. Ngược lại, Ngộ đạo thuyết và những giáo phái bí truyền đang lan rộng mạnh ngày nay, dạy rằng: con người, trong yếu tính, là một thần linh bị đày đọa vào trong thế giới vật chất, xa lạ.

Ở đây, đức tin trợ giúp cho lý trí khẳng định trong cách nhìn chính xác: con người gồm tinh thần và vật chất. Trình thuật Thánh Kinh về tạo dựng diễn tả điều này bằng ngôn ngữ hình ảnh: Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người và thổi vào mũi nó sinh khí của sự sống: “Và con người trở nên một sinh vật” (St 2,7). Thân xác và sinh khí của sự sống: cả hai là công trình của Thiên Chúa, nhưng chính “linh hồn” là điều trước hết làm cho con người là người: qua linh hồn, con người tương tự với Thiên Chúa, hiện hữu theo hình ảnh của Thiên Chúa (St 1,27).

Đó là lý do tại sao linh hồn có giá trị hơn thân xác (GLCG số 363). Điều này được biết đến nơi các thánh tử đạo xuyên qua các thời đại. Trung thành với Thiên Chúa thì quan trọng hơn duy trì sự sống thân xác với cái giá của sự phản bội. Do đó ngay từ trong Cựu Ước, cụ già Eleazar đã kháng cự lại những nỗ lực bắt ông bất tuân giới răn của Thiên Chúa, ông nói: “Tôi vẫn cam chịu những lằn roi gây đau đớn dữ dằn trong thân xác, còn trong tâm hồn tôi vui vẻ chịu khổ vì lòng kính sợ Người” (2Mcb 6,30). Chính Đức Kitô dạy chúng ta: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28).

“Con người không được khinh miệt sự sống thân xác” (số 364). Không có khẳng định nào mạnh mẽ hơn về giá trị thân xác cho bằng mầu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa. Đức Kitô sinh ra trong một thân xác, phục sinh trong thân xác. Ngài ngự bên hữu Chúa Cha với thân xác vinh quang của Ngài. Và chúng ta được gắn bó với Chúa Giêsu trong thân xác qua các bí tích (số 1116), đặc biệt qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta hình thành một thân thể với Đức Kitô, chúng ta được phép trở thành những chi thể trong thân mình Ngài (số 789). “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Thánh Thần sao?” (1Cr 6,19)

Cả thân xác và linh hồn được tạo dựng cho Thiên Chúa. “Thân xác con người không phải để gian dâm mà để phụng sự Chúa” (1Cr 6,13). Do đó, chúng ta buộc phải tôn trọng thân xác: thân xác của chúng ta và thân xác của anh chị em, đặc biệt thân xác của những người đau khổ. “Như thế, anh em tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1Cr 6, 20).

C. NAM VÀ NỮ

Lời đầu tiên con người thốt lên trong Thánh Kinh là tiếng reo vui về sự hiện diện của người nữ mà Thiên Chúa đã ban cho để người nam không đơn độc: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi” (St 2,23). Như thế, khẳng định đầu tiên về người nam và người nữ là: Thiên Chúa đã tạo dựng – cũng có nghĩa Ngài muốn như thế – con người là phái nam và phái nữ. Con người hiện hữu trong hình thức khác biệt được nhấn mạnh là nam giới và nữ giới, đó không phải là một sự tình cờ ngẫu nhiên hoặc bởi cơ may mù quáng nhưng đó là một “ý tưởng” tuyệt vời của thiên Chúa (GLCG số 369).

Có hai chân lý chứa đựng trong điểm thiết yếu này:

(1) Cả hai người nam và người nữ chia sẻ cùng một bản tính căn bản, do đó họ bình đẳng về mặt giá trị – cả hai bình đẳng hoàn toàn như những nhân vị.

(2) Dù họ khác nhau, cả hai là “sự hoàn hảo” và họa ảnh của Thiên Chúa theo cách riêng của họ. Là nam và là nữ thì tốt; chính Thiên Chúa đã xác định và mong muốn điều này: “Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Trong truyền thống kinh nguyện Do Thái giáo, mỗi sáng thức dậy người đàn ông tạ ơn Thiên Chúa: Con tạ ơn Chúa vì con được sinh ra là người đàn ông. Người phụ nữ cũng thế: con tạ ơn Chúa vì con được sinh ra là người đàn bà.

Đàn ông và đàn bà được tạo dựng cho nhau. Như ngôn ngữ biểu tượng của Thánh Kinh đã trình bày: Không con vật nào là “trợ tá tương xứng” với con người vì thế con người cảm thấy thiếu vắng và đơn độc (St 2,20). Ngày nay, thật là đáng thương khi có những vật nuôi trong nhà được chờ đợi để bù đắp cho sự đơn độc của con người (số 2418). Nhưng, cả hai người nam và nữ không phải là những phần thiếu hoàn hảo mà trước hết phải bổ sung cho nhau qua sự hợp nhất hỗ tương. Họ là những nhân vị độc lập, mỗi người mong muốn là “người trợ giúp” cho người khác. Sự kiện người nam và người nữ được lôi cuốn đến với nhau được Thánh Kinh giải thích khác với huyền thoại Hy Lạp. Huyền thoại này cho rằng mỗi người nam và người nữ là thành phần của con người toàn thể trước đây bị các thần linh trừng phạt phân đôi, kết quả từ đó cả hai nửa này tìm kiếm lẫn nhau một cách khó khăn. Mạc khải Thánh Kinh cho biết tình yêu giữa người nam và người nữ được chính Thiên Chúa ban tặng. Tình yêu mãnh liệt, đam mê dữ dội, ngọn lửa bừng cháy, sức mạnh không thể hủy diệt (Diễm ca 8,6) là những hình ảnh ưa thích mà Thánh Kinh dùng để diễn tả tình yêu mãnh liệt của Thiên Chúa đối với con người (GLCG số 796).

Nhưng tại sao lại thường xuyên diễn ra những kinh nghiệm đau thương phát sinh từ sự xáo trộn trong mối tương quan giữa người nam và người nữ? Sách Giáo Lý giải thích: “Sự hợp nhất của họ lúc nào cũng bị đe dọa bởi sự bất hòa, óc thống trị, sự bất trung, lòng ghen tương, và sự xung đột những điều đó có thể đưa đến hận thù và đoạn tuyệt” (số 1606). “Theo đức tin, sự xáo trộn này – mà chúng ta cảm nghiệm một cách đau lòng – không phát xuất từ bản tính của người nam và người nữ, cũng không do bản chất của các mối tương quan giữa họ, nhưng do tội lỗi” (GLCG 1607).

Nguyên tội, một sự phá vỡ nền tảng trong tương quan với Thiên Chúa, cũng phá hủy sự hiệp thông hài hòa nguyên thủy giữa người nam và người nữ. Tương quan hợp tác bị thay thế bởi ý muốn thống trị và tương quan tin tưởng lẫn nhau bị thay thế bởi đổ lỗi lẫn nhau (St 3,12.16). Từ đó, người nam và người nữ tìm lại con đường đến với nhau chỉ trong điều kiện tình yêu của họ được giải thoát khỏi những hậu quả của tội nguyên tổ qua thập giá của Chúa Kitô.

Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ và cho họ trở nên bạn hữu Ngài. Con người giữ một địa vị độc tôn trong công trình tạo dựng vì là hình ảnh của Thiên Chúa; trong bản tính, họ kết hợp thế giới thiêng liêng với thế giới vật chất.

I. CON NGƯỜI ĐƯỢC DỰNG NÊN THEO HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚA

66. Phải hiểu “Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa” theo nghĩa nào? [355-357]

Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa theo nghĩa họ có khả năng nhận biết và yêu mến một cách tự do Đấng Sáng Tạo nên mình. Trên mặt đất, chỉ có con người là thụ tạo đã được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ và mời gọi họ tham dự vào đời sống thần linh của Ngài nhờ nhận biết và yêu thương. Vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người có phẩm giá của một ngôi vị; họ không phải là một sự vật, nhưng là một con người có khả năng nhận thức về bản thân mình, tự hiến mình cách tự do và đi vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân. 

67. Thiên Chúa dựng nên con người với mục đích gì? [358-359,381]

Thiên Chúa đã dựng nên tất cả cho con người, nhưng con người được dựng nên để nhận biết, phục vụ và yêu mến Thiên Chúa; hầu ở trần gian, họ dâng lên Thiên Chúa mọi thụ tạo mà tạ ơn Ngài, nhờ đó họ sẽ được nâng lên trời sống với Thiên Chúa. Chỉ trong mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập thể mà mầu nhiệm về con người mới thực sự được sáng tỏ. Con người được tiền định để phản ánh hình ảnh của Con Thiên Chúa làm người, Đấng là “hình ảnh trọn hảo của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15).

68. Tại sao loài người tạo thành một sự thống nhất? [360-361]

Tất cả mọi người tạo thành sự thống nhất của dòng giống loài người, vì họ có cùng một nguồn gốc, được lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa. Hơn nữa, Thiên Chúa, “đã tạo thành toàn thể nhân loại từ một người duy nhất” (Cv 17,26). Tất cả đều có một Đấng Cứu Độ duy nhất. Tất cả đều được mời gọi dự phần vào hạnh phúc vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Trong các thụ tạo hữu hình, chỉ con người là có khả năng hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, cùng được mời gọi chia sẻ sự sống của Ngài. Vì thương yêu, Ngài đã dựng nên ta để hưởng phúc trường sinh. Vì ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, nên có ngôi vị. Con người có khả năng tự biết mình, tự làm chủ chính mình và tự do tự hiến và thông hiệp với những người khác. Thiên Chúa đã tạo nên mọi sự cho con người; còn con người để phụng sự, yêu mến Ngài cùng quản lý các thụ tạo khác. Vì cùng xuất phát từ một gốc nên mọi người đều là anh em dù có nhiều khác biệt giữa các cá nhân, văn hoá, và chủng tộc. Chúng ta còn được liên kết với nhau trong Đức Kitô.

II. CÓ THÂN XÁC VÀ LINH HỒN, NHƯNG LÀ MỘT NGƯỜI

69. Trong con người, linh hồn và thân xác tạo thành một sự thống nhất như thế nào? [362-365,382]

Con người là một hữu thể vừa thể xác, lại vừa tinh thần. Trong con người, tinh thần và vật chất tạo thành một bản thể duy nhất. Sự thống nhất này rất sâu xa đến độ, nhờ nguyên lý tinh thần là linh hồn mà thể xác, vốn là vật chất, trở thành một thân xác con người sống động, và được dự phần vào phẩm giá “là hình ảnh của Thiên Chúa”.

70. Ai ban linh hồn cho con người? [366-368,382]

Linh hồn thiêng liêng không đến từ cha mẹ, nhưng được Thiên Chúa tạo dựng cách trực tiếp, và nó bất tử. Linh hồn lìa khỏi thân xác lúc người ta chết, nhưng linh hồn không chết. Linh hồn sẽ tái hợp với thân xác trong ngày sống lại sau hết.

Kinh Thánh dùng lối văn biểu tượng để diễn tả rằng Thiên Chúa dùng đất sét mà làm nên con người, rồi thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Chúng ta có linh hồn và thân xác. Linh hồn là nguyên lý thuần linh và thân xác là nguyên lý vật chất nơi chúng ta. Cả hai kết hợp lại thành một thực thể. Mỗi linh hồn thiêng liêng được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng. Linh hồn bất tử, không hư mất khi lìa khỏi xác, và sẽ tái hợp với thân xác trong ngày sau hết. Đôi khi linh hồn được phân biệt với tinh thần. Nhưng không có sự nhị phân trong linh hồn. Hội Thánh nhấn mạnh đến tâm hồn, từ đó họ quyết định chọn hay từ bỏ Thiên Chúa.

III. THIÊN CHÚA DỰNG NÊN HỌ CÓ NAM CÓ NỮ

71. Thiên Chúa đã thiết lập mối liên hệ nào giữa người nam và người nữ? [369-373,383]

Người nam và người nữ được Thiên Chúa dựng nên với một phẩm giá ngang nhau là những nhân vị, và đồng thời họ bổ túc cho nhau trong tư cách là nam và nữ. Thiên Chúa đã muốn tạo dựng họ cho nhau, làm nên một sự hiệp thông các bản vị. Cả hai cùng được mời gọi truyền lại sự sống con người trong hôn nhân, khi cả hai trở nên “một xương một thịt” (St 2,24) và làm chủ trái đất như những “người quản lý” của Thiên Chúa.

Thiên Chúa muốn con người bình đẳng nhưng khác nhau, nên Ngài dựng nên một nam và một nữ. Theo hình ảnh Ngài, người nam và người nữ có nhân phẩm như nhau, nhưng phản chiếu sự toàn hảo của Ngài cách khác nhau. Họ được tạo dựng cho nhau, để hiệp thông với nhau, để người này thành trợ tá cho người kia. Trong hôn nhân, Ngài kết hợp họ thành một xương một thịt để họ có thể truyền sinh. Khi truyền sinh, họ với tư cách là vợ chồng và cha mẹ, cộng tác một cách độc đáo vào công trình của Ngài. Ngoài ra con người còn được Ngài đặt làm chủ trái đất như những người quản lý của Ngài. Do đó, chúng ta có trách nhiệm với thế giới mà Thiên Chúa trao phó cho chúng ta.

IV. CON NGƯỜI TRONG VƯỜN ĐỊA ĐÀNG\

72. Tình trạng nguyên thủy của con người theo kế hoạch của Thiên Chúa là gì? [374-379,384]

Khi sáng tạo người nam và người nữ, Thiên Chúa đã cho họ tham dự cách đặc biệt vào đời sống thần linh của Ngài, trong sự thánh thiện và công chính. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, con người sẽ không phải đau khổ, cũng không phải chết. Ngoài ra, có một sự hài hòa tuyệt hảo nơi chính con người, giữa thụ tạo với Đấng Sáng Tạo, giữa người nam với người nữ, cũng như giữa đôi vợ chồng đầu tiên với toàn thể thụ tạo.

Thiên Chúa dựng nên những con người đầu tiên trong tình trạng thánh thiện và công chính nguyên thủy, đó là ơn được tham dự vào sự sống của Ngài. Ngài có ý định cho họ sống đời đời trong hạnh phúc, không đau khổ và chết, hoà hợp với mình, với người khác và mọi thụ tạo. Sự hòa hợp này mất đi vì tội nguyên tổ. Dấu hiệu của sự thân thiện với Ngài là việc đặt họ trong vườn địa đàng. Họ sống ở đó để canh tác và trông coi đất đai. Lao động là sự cộng tác của con người với Thiên Chúa trong việc kiện toàn vạn vật hữu hình.

♣ Giúp ghi nhớ

Con người cao trọng hơn mọi loài trên trái đất, vì chỉ có con người được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, có khả năng nhận biết và yêu mến Thiên Chúa.

Thiên Chúa tạo dựng con người vừa là vật chất, vừa là tinh thần, nghĩa là có xác và hồn kết hợp thành một con người duy nhất.

Linh hồn mỗi người thì thiêng liêng, không đến từ cha mẹ, nhưng được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng. Linh hồn thì bất tử, không hư mất khi lìa khỏi xác, và sẽ tái hợp với thân xác trong ngày sống lại sau hết..

Thiên Chúa tạo dựng loài người có nam có nữ cùng một phẩm giá để họ bổ túc cho nhau, và trong hôn nhân họ được cộng tác với Ngài để lưu truyền sự sống.

Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho tổ tông loài người được sống hạnh phúc trong tình thân mật với Thiên Chúa, luôn sống hòa hợp với bản thân, với người khác, với vạn vật, không phải đau khổ và không phải chết

♣ Gợi ý suy nghĩ

1.Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa”. Ta phải hiểu câu này theo nghĩa nào?

2. Trong con người, linh hồn và thân xác tạo thành một sự thống nhất như thế nào?

3. Bạn ý thức như thế nào về phẩm giá con người khi bạn được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa?

4. Thiên Chúa muốn thiết lập những mối quan hệ nào giữa người nam và người nữ khi dựng nên loài người có nam, có nữ?

BÀI 9

CON NGƯỜI SA NGÃ

A. SỰ DỮ

Xin giải thoát chúng con khỏi sự dữ”. Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện như thế (GLCG số 2850). Thế nhưng, chúng ta cần được giải thoát khỏi sự dữ nào? Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta thưa: “Lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi mọi sự dữ”. Lời cầu xin này nói đến mọi sự dữ, cả thể lý lẫn thiêng liêng. Trong lời cầu nguyện của Hội Thánh còn kê khai rõ ràng “đói kém, dịch bệnh, chiến tranh” (số 2327).

Dù quan tâm nhiều đến những sự dữ này, nhưng điều được nhấn mạnh không phải là “những sự dữ” cho bằng “ác thần”: “Trong lời cầu xin này, Sự Dữ không phải là một điều trừu tượng nào đó, nhưng là một cá vị, là Satan, Ác thần, là thiên thần đã chống lại Thiên Chúa. Ma quỷ (tiếng Hi Lạp là dia-bolos) là “kẻ phá ngang” kế hoạch của Thiên Chúa và công trình cứu độ của Ngài được thực hiện trong Đức Kitô” (số 2851).

Không có nơi nào ma quỷ xuất hiện rõ ràng cho bằng khi nó hiện ra cám dỗ Chúa Giêsu. Trong sự cô tịch của hoang địa, chính tên cám dỗ đã tìm cách làm cho Chúa Giêsu sa ngã như tổ tiên loài người đã sa ngã: “Nếu ông là Con Thiên Chúa…”. Tên cám dỗ đã muốn Chúa Giêsu từ bỏ thái độ hiếu thảo với Thiên Chúa (số 538). Nhưng nó thất bại hoàn toàn trước sự vâng phục đầy tình hiếu thảo của Chúa Giêsu với Chúa Cha. Những phép lạ trừ quỷ mà Chúa Giêsu thực hiện chứng tỏ rằng cùng với Người, Nước Thiên Chúa đã khởi sự, và vương quốc của Satan bị đè bẹp: “Nếu nhờ Thần khí của Thiên Chúa mà Ta trừ quỷ thì ắt là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ngươi” (Mt 12,28).

Vậy “Tên cám dỗ” này là ai? Thánh Kinh và Truyền Thống của Hội Thánh coi hữu thể này là một thiên thần sa ngã, gọi là Satan hay ma quỷ. Hội Thánh dạy rằng thoạt đầu đó là một thiên thần tốt lành do Thiên Chúa tạo dựng, nhưng chính nó – cùng với ma quỷ và các thần dữ khác – đã làm cho mình nên ác xấu (số 391).

Chúa Giêsu gọi nó là “cha sự dối trá” và “kẻ sát nhân ngay từ ban đầu” (Ga 8,44). Không nhìn nhận thực tại này, coi ma quỷ chỉ là một thứ quyền lực vô danh của cái ác, điều đó không những là ngây thơ mà còn đẩy chúng ta đến bờ vực mù lòa khi nhìn vào những vực sâu của cái ác mở ra trước mắt chúng ta trong thế kỷ này: “Hoàn cảnh bi đát như vậy của trần gian đang “nằm dưới ách thống trị của Ác thần”, làm cho đời sống con người trở thành một cuộc chiến” (số 409).

Thế nhưng, “quyền năng của Satan không phải là vô hạn. Nó chỉ là một thụ tạo, có quyền năng vì là thuần túy thiêng liêng, nhưng vẫn luôn là thụ tạo: nó không thể ngăn chặn công trình xây dựng Nước Thiên Chúa… Hoạt động của nó có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho mỗi người và cho xã hội, trong lãnh vực tinh thần và một cách gián tiếp, trong cả lãnh vực vật chất… Việc Thiên Chúa cho phép ma quỷ hoạt động quả là một mầu nhiệm lớn lao, nhưng “chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (số 395).

B. TỘI TỔ TÔNG

Thánh Augustinô nói: “Tôi đã tìm xem sự dữ từ đâu đến và không thấy câu giải đáp” (GLCG số 385). Đâu là cội nguồn của sự dữ ở bên trong và giữa chúng ta, giữa người nam và người nữ, giữa các thế hệ và các dân tộc? Augustinô đã không tìm được câu trả lời cho câu hỏi này cho đến khi ngài tìm gặp được Đấng mà chỉ mình Ngài chiến thắng sự dữ: đó là Đức Kitô. Thế rồi từ đó sự chắc chắn này không bao giờ rời Augustinô, đó là Danh “Giêsu” nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Đức Giêsu là Thiên Chúa cứu toàn thể nhân loại. Nếu đúng là Đức Giêsu đã đến và đã chết cho mọi người, thì không một người nào lại không cần đến Đức Giêsu: “Hãy đến với ta, tất cả…” (Mt 11,28).

Tất cả, bao gồm trẻ thơ: “Hãy để trẻ em đến với Ta…” (Mc 10,14). Trẻ thơ cũng cần Chúa Giêsu, Ngài muốn là “Thiên Chúa cứu” của chúng, cũng là “Đấng Cứu Độ” của chúng. “Tội tổ tông” trước hết hàm ý tất cả mọi người không trừ ai đều cần Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ. “Giáo lý về tội tổ tông, có thể nói được, là ‘mặt trái’ của Tin Mừng này: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của tất cả mọi người” (GLCG số 389).

Tội tổ tông là một mầu nhiệm đức tin; chúng ta biết về điều này chỉ qua mạc khải. Nó không thể nắm bắt chỉ qua lý trí thuần túy, mặc dù người ta có thể chứng minh rằng giáo thuyết này cung cấp một câu trả lời hữu lý đối với tính bí ẩn của sự dữ. Do đó điều quan trọng là cần biết chính xác những gì giáo huấn đức tin khẳng định về tội nguyên tổ, nhất là khi những ý niệm sai lầm về tội nguyên tổ đang lan tràn.

Đức tin nói cho chúng ta biết, ngay từ khởi đầu của lịch sử gia đình nhân loại, những người là cha mẹ đầu tiên của chúng ta đã lạm dụng sự tự do của mình, tự nâng mình lên chống lại Thiên Chúa (số 415). Thánh Kinh sử dụng ngôn ngữ hình tượng để phác họa những hậu quả của chọn lựa đó: Adam và Evà mất đi sự gần gũi nguyên thủy đối với Thiên Chúa và chạy trốn Thiên Chúa. Một sự rối loạn nội tại và lên án lẫn nhau, thống trị và thèm muốn, những điều đó trở thành rõ ràng trong mối liên hệ giữa người nam và người nữ. Và sự chết, vốn là hậu quả đã được báo trước, nay bước vào lịch sử nhân loại (số 399-401). Những gì được trình bày trong chương 3 sách Sáng Thế cũng được chúng ta kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày.

Nhưng tại sao lại quy chiếu về “tội tổ tông”? Tại sao một đứa trẻ lại bị vết nhơ bởi tội tổ tông ngay khi nó vừa sinh ra, đến nỗi trẻ nhỏ cũng cần chịu Phép Rửa (số 1250)? Tội tổ tông không quy chiếu về bất cứ tội cá nhân nào mà hậu duệ của bà Evà phạm. Nó hàm ý rằng tất cả mọi người (ngoại trừ Đức Trinh Nữ Maria) đang thiếu một điều gì đó: Điều mà cặp cha mẹ đầu tiên của chúng ta đã đánh mất qua tội cá nhân của họ – như một di sản mà tổ tiên đã phung phí. Họ đánh mất cho chính họ và cho cả chúng ta nữa, tức là sự gần gũi nguyên thủy với Thiên Chúa và sự hài hòa xuất phát từ sự gần gũi này (số 404). Trong một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta là hậu duệ của đứa con hoang đàng, và chỉ sau khi Thiên Chúa trao cho chúng ta “cái áo tốt nhất” của ân sủng thì chúng ta mới được bình an và bước vào nhà (Lc 15,11-32).

Tuy nhiên, “tội tổ tông” còn hàm ý, mặc dù với ân sủng của Bí tích Thánh Tẩy và với sự giúp đỡ của ân sủng, chúng ta vẫn phải chiến đấu trong suốt cuộc đời để chống lại những nghiêng chiều về sự dữ (số 407). Đó là điều mà chúng ta thừa hưởng từ nguyên tổ. Nhưng nếu chúng ta chiến đấu cùng với Đức Kitô, đó là “cuộc chiến đấu cao đẹp” (2Tm 4,7), chúng ta sẽ chiến thắng.

c. SA NGÃ

Nếu Thiên Chúa vô cùng tốt lành thì làm sao có sự dữ? Tình yêu Thiên Chúa được mặc khải trong Đức Ki-tô đã biểu lộ giới hạn của sự dữ cùng sự dồi dào của ân sủng. Chúng ta phải giải quyết vấn đề sự dữ bằng cặp mắt đức tin hướng về Đức Ki-tô.

73. Làm thế nào để hiểu được thực tại của tội lỗi? [385-389]

Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người. Một thực tại như thế chỉ được hiểu biết cách đầy đủ dưới ánh sáng Mặc khải của Thiên Chúa, và nhất là dưới ánh sáng của Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ mọi người, Đấng tuôn đổ ân sủng thật sung mãn bất cứ nơi nào tràn đầy tội lỗi.

Tội lỗi là lạm dụng sự tự do Chúa ban để chối bỏ và chống lại Ngài. Chúng ta chỉ hiểu được tội lỗi nhờ mặc khải của Thiên Chúa. Câu chuyện nguyên tổ sa ngã được kể bằng ngôn ngữ tượng hình, nhưng xác nhận một biến cố có thật, một tội phạm bởi nguyên tổ ngay từ khởi đầu lịch sử nhân loại. Mặc khải giúp chúng ta xác tín rằng tất cả lịch sử nhân loại đều mang dấu tích tội nguyên tổ. Mặc dù được đề cập Cựu Ước nhưng lịch sử sự sa ngã này chỉ được hiểu rõ nhờ ánh sáng cuộc tử nạn và Phục sinh của Đức Ki-tô. Chúng ta phải nhận ra Đức Ki-tô là nguồn ân sủng thì mới biết rằng A-đam là nguồn tội lỗi. Vì thế không thể nói đến tội nguyên tổ mà không nhắc đến Đức Ki-tô.

I. SỰ SA NGÃ CỦA CÁC THIÊN THẦN

74. Sự sa ngã của các thiên thần là gì? [391-395,414]

Với cách diễn tả này, người ta muốn nói rằng Sa-tan và các ma quỉ khác, được Thánh Kinh và Thánh Truyền nói đến, vốn là các thiên thần tốt lành do Thiên Chúa dựng nên, nhưng đã trở thành ác xấu, bởi vì, qua việc chọn lựa tự do và dứt khoát, chúng từ chối Thiên Chúa và Vương quyền của Ngài và như thế làm phát sinh ra hoả ngục. Chúng cố gắng lôi kéo con người vào cuộc nổi loạn chống lại Thiên Chúa; nhưng trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa xác nhận chiến thắng chắc chắn của Ngài trên Ác thần.

Sa-tan và các thần dữ được Thiên Chúa dựng nên là những thiên thần tốt lành. Nhưng chúng đã chống lại Ngài nên thành ma quỷ. Chúng xúi dục nguyên tổ và loài người bất tuân Thiên Chúa. Tuy khôn ngoan sảo quyệt nhưng sức mạnh của Sa-tan có hạn. Nó không thể ngăn cản công trình của Thiên Chúa. Việc Thiên Chúa để quỷ hành động là một mầu nhiệm, nhưng “chúng ta biết rằng Thiên Chúa làm mọi sự đều nhằm đến ích lợi cho những ai yêu mến Ngài” ( Rm 8,28 ).

II. TỘI NGUYÊN TỔ (TỘI TỔ TÔNG)

75. Tội đầu tiên của con người cốt tại điều gì? [396-403,415-417]

Con người, bị ma quỷ cám dỗ, đã dập tắt trong trái tim mình sự tin tưởng vào những liên hệ với Đấng Sáng Tạo của mình. Khi không tuân phục Thiên Chúa, con người muốn trở nên “như Thiên Chúa”, mà không cần Thiên Chúa và không tuỳ thuộc Thiên Chúa (St 3,5). Như thế, A-đam và E-và lập tức đánh mất ân sủng của sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy cho bản thân và tất cả con cháu họ. 

76. Tội tổ tông truyền là gì? [404,419]

Mọi người đều bị sinh ra trong nguyên tội. Nguyên tội là tình trạng thiếu vắng sự thánh thiện và công chính nguyên thủy. Đó là một tội mà chúng ta “vướng mắc” chứ không phải là một tội mà chúng ta phạm; đó là tình trạng lúc chào đời chứ không phải là một hành vi cá nhân. Do sự thống nhất của toàn thể loài người, tội này được truyền lại cho con cháu của A-đam trong bản tính loài người, “không phải do bắt chước, nhưng là qua truyền sinh”. Việc truyền đạt này là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu được cách trọn vẹn.

77. Những hậu quả khác do nguyên tội gây nên là gì? [405-409,418]

Sau khi tổ tông đã phạm tội, bản tính con người không hoàn toàn bị hủy hoại, nhưng bị thương tật trong các sức lực tự nhiên của mình, chịu sự u mê, phải đau khổ, phải nằm dưới quyền lực sự chết; bản tính con người bị nghiêng chiều về tội lỗi. Sự nghiêng chiều này được gọi là dục vọng (concupiscentia).

Câu chuyện Thiên Chúa cấm con người ăn trái cấm là một biểu tượng nói lên rằng con người tùy thuộc vào Đấng Tạo Hoá, nên phải tuân theo các định luật tự nhiên và các tiêu chuẩn luân lý khi sử dụng tự do. Nguyên tổ đã bị ma quỷ cám dỗ không vâng lời Thiên Chúa, nên đã mất tình trạng thánh thiện nguyên thủy. Khả năng điều khiển thân xác của họ bị thương tổn. Quan hệ giữa họ nên căng thẳng, đầy ham muốn và thống trị. Sự chết đã xâm nhập vào lịch sử nhân loại. Từ tội này cả thế gian và nhân loại bị chìm ngập trong tội. Chúng ta dễ hướng về sự dữ, và bị kiềm toả bởi ma quỷ. Những điều này chỉ có thể hiểu được trong mối tương quan với tội nguyên tổ. Tội này đã truyền lại cho ta một bản tính nhân loại bị mất sự thánh thiện và công chính. Nó không làm cho bản tính con người hoàn toàn sa đọa, hay mất sự tự do, nhưng làm cho nó nên yếu đuối, dễ phạm tội, dốt nát, đau khổ và chết. Bí tích Thánh Tẩy xóa bỏ tội nguyên tổ, nhưng không xóa bỏ khuynh hướng dễ phạm tội này, cho nên chúng ta phải luôn luôn chiến đấu với sự dữ. Chúng ta bị cám dỗ bởi ma quỷ và sự xấu xa của xã hội mà chúng ta đang sống. Hoàn cảnh bi đát này làm cho cuộc sống con người trở nên một cuộc chiến đấu cam go chống lại quyền lực sự dữ. Chúng ta chỉ có thể chiến thắng khi hết sức cố gắng với sự trợ giúp của Chúa mà thôi.

III. NGÀI ĐÃ KHÔNG BỎ MẶC HỌ DƯỚI QUYỀN SỰ CHẾT

78. Thiên Chúa đã làm gì sau tội đầu tiên của con người? [410-412,420]

Sau tội đầu tiên, thế gian đã bị tràn ngập tội lỗi, nhưng Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người dưới quyền lực sự chết. Trái lại, Ngài đã tiên báo cách mầu nhiệm – trong “Tiền Tin Mừng” (x. St 3,15)– rằng sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sẽ được nâng dậy khỏi sự sa ngã của họ. Đó là lời tiên báo đầu tiên về Đấng Mê-si-a cứu chuộc. Vì thế, chúng ta đã gọi sự sa ngã là “tội hồng phúc” (felix culpa), vì “nhờ có ngươi, ta mới có được Đấng Cứu Chuộc cao cả dường này” (Phụng vụ đêm Vọng Phục sinh).

Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ nhân loại. Ngài hứa cho nhân loại một Đấng Cứu Tinh. Ki-tô giáo nhận ra rằng lời hứa này đã được hoàn thành nơi Chúa Giê-su Ki-tô, một A-đam mới. Ngài đem ơn cứu độ là phục hồi sự sống và tình yêu của Thiên Chúa cho chúng ta đến muôn đời. Hội Thánh cũng thấy nơi Đức Ma-ri-a, Mẹ Đức Ki-tô, một E-và mới.

♣ Giúp ghi nhớ

Nếu Thiên Chúa vô cùng tốt lành thì làm sao có sự dữ? Bởi vì ngay từ đầu tổ tông loài người đã nghe theo lời cám dỗ của ma quỷ mà từ chối vâng phục Thiên Chúa. Đó là tội tổ tông.

Tội tổ tông làm cho loài người mất ơn nghĩa với Thiên Chúa, mất sự hoà hợp với bản thân, với người khác và vạn vật, bị đau khổ và phải chết.

Tội tổ tông làm cho mọi người sinh ra trong tình trạng tội lỗi, bản tính bị yếu đuối, dễ nghiêng về điều xấu. Đó là tội tổ tông truyền.

Sau khi tổ tông phạm tội, Thiên Chúa không bỏ mặc con người trong sự chết, nhưng hứa ban Đấng Cứu Thế đến để cứu chuộc loài người.

♣ Gợi ý suy nghĩ

1. Tổ tông loài người đã phạm tội gì? Tội đó đã gây nên những hậu quả nào?

2. Chúng ta thường bị cám dỗ bởi những cạm bẫy của ma quỷ, của thế lực xấu trong xã hội. Chúng ta phải làm gì để chiến thắng những cám dỗ đó?

3. Trong bài công bố Tin Mừng Phục sinh “Mừng vui lên” (Exultet) đêm Vọng Phục sinh, chúng ta nghe nói đến “tội hồng phúc”. Vậy “tội hồng phúc” có nghĩa là gì?

BÀI 10

TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ, CON MỘT THIÊN CHÚA

CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ

Chúa Giê-su là tâm điểm đức tin của chúng ta, bởi lẽ “dưới bầu trời này, không có Danh nào khác”, ngoài Danh Giêsu, “được ban cho loài người để nhờ đó chúng ta được cứu độ” (Cv 4,12). Vì thế, Đức Kitô là trung tâm của giáo lý. Mục đích của giáo lý là đưa con người đến sự hiệp thông với Đức Giê-su Ki-tô. Đức Chân phước giáo hoàng Gioan Phaolô II nói như thế (GLCG số 426).

Nếu ai đó hỏi rằng điều gì làm nên một Ki-tô hữu, thì câu trả lời là: đó là người tin rằng Đức Giê-su Na-da-rét là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Niềm tin đó là đá nền trên đó Hội Thánh được xây dựng (số 424). Tin vào Chúa Giê-su Ki-tô có nghĩa là yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức lực. Yêu mến Người như chúng ta có thể yêu mến Thiên Chúa (Đnl 6,4-5). Điều độc đáo và đặc biệt của niềm tin Ki-tô giáo là tin rằng Đức Giê-su, một con người được sinh ra dưới thời hoàng đế Cê-sa-rê Au-gus-tô và chết trên thập giá dưới thời hoàng đế Ti-bê-ri-ô, người ấy chính là Thiên Chúa, là Con hằng hữu của Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật và là người thật. Đó là mầu nhiệm khôn dò của đức tin Kitô giáo, “Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,11).

Chỉ trong ánh sáng này chúng ta mới hiểu được tại sao tin vào Đức Ki-tô cũng có nghĩa là bước theo Người, và bước theo Chúa là đòi hỏi quan trọng hơn mọi cam kết khác trong đời. Làm sao một con người thuần túy mà có thể nói: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy; ai yêu con trai con gái hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37)? Đòi hỏi ấy chỉ có thể đến từ Đấng là chính Thiên Chúa. Làm sao một con người mà có thể nói: “Tất cả những ai nhìn nhận Thầy trước mặt người đời thì Con Người cũng sẽ nhìn nhận họ trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa” (Lc 12,8)? Điều đó lại chẳng có nghĩa rằng ơn cứu độ vĩnh cửu tùy thuộc vào thái độ của người ta đối với Chúa Giê-su sao?

Nếu chỉ nơi Chúa Giê-su mới có ơn cứu độ, nếu chỉ có Người mới là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” thì liệu có ai có thể được cứu độ mà không cần đến Chúa Giê-su? Nếu như thế, biết bao người chưa hề nghe đến Danh Chúa Giê-su, không có cơ hội để nhận biết và yêu mến Người thì sao (số 846-847)? Chính Chúa Giê-su đã trả lời cho câu hỏi này: đến giờ phán xét, Con Người sẽ tỏ cho thấy tất cả những hành động yêu thương chân chính dành cho tha nhân (Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm…), tất cả những hành động yêu thương ấy đều là cho chính Chúa: “Điều gì các ngươi đã làm cho người anh em bé mọn nhất, là làm cho chính Ta” (Mt 25; GLCG số 1038).

Đã thế thì tại sao lại còn cần loan báo Đức Ki-tô nữa? Thánh Phao-lô đưa ra lý do rất rõ ràng: “Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách tôi” (2Cr 5,14). Bất cứ ai được tình yêu này chiếm hữu, bất cứ ai kinh nghiệm về sự hiệp thông với cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su và quyền năng phục sinh của Người, thì người ấy sẽ cảm thấy nỗi ước mong loan báo về Người, rao giảng Tin Mừng của Người, và dẫn mọi người đến niềm tin vào Chúa Giêsu (số 429).

CON THIÊN CHÚA

Tước hiệu “Con Thiên Chúa” hàm nghĩa “mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của Chúa Giê-su Ki-tô với Thiên Chúa, Cha của Người. Người là Con Một của Chúa Cha và là chính Thiên Chúa. Ai muốn trở thành Ki-tô hữu, người ấy nhất thiết phải tin rằng Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa” (GLCG số 454).

“Giê-su không phải là Con Thiên Chúa”. Nhiều người có niềm tin tôn giáo nhưng khẳng định như thế. Đối với họ, Thiên Chúa là duy nhất, và vì thế, Giê-su không thể là Thiên Chúa được. Thế nhưng, chúng ta nhờ ân sủng và qua đức tin mà nhận biết và yêu mến Chúa Giê-su như là Con Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã tóm tắt toàn bộ Tin Mừng trong những lời này: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới” (Gal 4,4). Và khi Phao-lô nói với dân Ga-la-ta về sự trở lại của ngài, thì điều ngài nhấn mạnh không phải là những biến cố bên ngoài đã xảy ra trên đường đi Đa-mas, nhưng là sự phát triển ở bên trong: “Thiên Chúa đã tách riêng tôi ra từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Ngài. Ngài đã đoái thương mặc khải Con của Ngài cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Ngài cho các dân ngoại” (Gal 1,15-16).

Điều gì đã xảy ra trong tâm hồn vị tông đồ dân ngoại? Chắc chắn ngài đã nghe nói về nhân vật Giê-su Na-da-rét và xác tín rằng con người này là tiên tri giả, là kẻ nói phạm thượng. Chính vì thế, Sao-lê mới hăng say bắt bớ những người theo ông Giê-su đến thế. Nhưng rồi điều xảy ra là chính Thiên Chúa đã mặc khải cho Sao-lê biết nhân vật Giê-su ấy chính là Con của Ngài. Thánh Lu-ca, đệ tử của thánh Phao-lô, cũng kể lại: “Và ngay lập tức trong các hội đường, ông loan báo Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa” (Cv 9,20).

Chính Chúa Giê-su đã bày tỏ bí mật thâm sâu này khi ngài kể dụ ngôn “Những tá điền bất lương”. Ông chủ vườn nho sai các tôi tớ đến gặp những tá điền để lấy phần hoa lợi. Sau khi bọn tá điền đã đánh đuổi, kể cả giết chết, tôi tớ của chủ, dụ ngôn nói về ông chủ rằng: “Ông chỉ còn một người nữa là người con yêu dấu, người này là người cuối cùng ông sai đến gặp họ; ông nói: chúng sẽ nể con của ta” (Mc12,1-11). Qua nhiều thế kỷ, sau nhiều lần sai các tiên tri (những tôi tớ), Thiên Chúa đã sai chính Con của Ngài đến như vị sứ giả cuối cùng! Tình yêu Thiên Chúa không còn cách biểu lộ nào lớn lao hơn thế, cho nên thánh Phao-lô kêu lên: “Đến như chính Con Một mà Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8,32).

Thế nhưng “tất cả mọi sự” mà Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta là gì? Thánh Phao-lô nói: Thiên Chúa đã sai Con của Ngài tới để chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử, và Ngài cũng sai “Thần Khí của Con Ngài” đến ngự trong chúng ta (Gal 4,4-6). Là Kitô hữu có nghĩa là tin vào Đức Ki-tô, yêu mến Người, bước theo Người. Và hơn nữa, “Anh em không còn là nô lệ nhưng là con” (Gal 4,7). Nhờ Chúa Giêsu, với Người và trong Người, chúng ta trở nên những “con cái của Thiên Chúa” (Cor 6,18).

I. TIN MỪNG: THIÊN CHÚA ĐÃ SAI CON NGÀI

79. Tin Mừng cho con người là gì? [422-424]

Đó là lời loan báo về Đức Giê-su Ki-tô, “Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), Đấng đã chết và đã sống lại. Vào thời vua Hê-rô-đê và Hoàng đế Xê-da-rê Au-gút-tô, Thiên Chúa đã thực hiện những lời Ngài đã hứa với Áp-ra-ham và dòng dõi qua việc Ngài đã sai “Con Mình tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4,4-5).

Vào thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai chính Con Một Ngài đến để thực hiện lời Ngài đã hứa. Hội Thánh tuyên xưng Chúa Giê-su thành Na-da-rét chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa, là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Cho nên việc truyền đạt đức tin trước hết bao gồm việc loan báo Đức Ki-tô, để dẫn mọi người đến đức tin vào Người. Đức Ki-tô là Lời ban sự sống đã xuất hiện để cứu độ chúng ta. Chúng ta tiếp tục công việc của các Tông đồ là rao giảng sự phong phú khôn lường của Đức Ki-tô cho nhân loại .

II. TRỌNG TÂM CỦA MÔN GIÁO LÝ: ĐỨC KI-TÔ

80. Tin Mừng này được loan truyền như thế nào? [425-429]

Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đã khao khát loan báo Đức Giê-su Ki-tô, nhằm làm cho mọi người tin vào Ngài. Ngày nay cũng thế, sự hiểu biết say mê Đức Ki-tô làm nẩy sinh nơi các tín hữu niềm khao khát rao giảng Tin Mừng và huấn giáo, nghĩa là giúp mọi người nhận thấy tất cả kế hoạch của Thiên Chúa trong con người Chúa Giê-su và dẫn đưa nhân loại đến hiệp thông với Ngài.

Mục đích của Giáo lý và của đạo Công giáo là đưa ta đến kết hợp với Đức Ki-tô. Trọng tâm của việc dạy Giáo lý là một Người, con người Đức Giê-su thành Na-da-rét, Con Một Đức Chúa Cha … đã chịu khổ hình, chịu chết vì chúng ta và nay sống lại, và sống mãi với chúng ta …. Dạy Giáo lý là dạy về Đức Ki-tô. Tất cả những điều khác được giảng dạy đều quy về Ngài. Đức Ki-tô chính là Đấng giảng dạy, còn những người khác đều là phát ngôn viên của Ngài, để Ngài dạy qua miệng lưỡi họ…. Mọi Giáo lý viên đều phải áp dụng cho mình lời nói nhiệm mầu của Chúa Giê-su: “Giáo huấn tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi.” Ai được mời gọi để dạy về Đức Ki-tô trước hết phải tìm “mối lợi tuyệt vời là hiểu biết Đức Ki-tô;” người đó phải “mất hết … để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người.” Từ sự hiểu biết Đức Ki-tô trong tình yêu, chúng ta mới khao khát rao giảng về Ngài và đem tha nhân đến đức tin vào Ngài.

“TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ, LÀ CON MỘT ĐỨC CHÚA CHA, CÙNG LÀ CHÚA CHÚNG TÔI”

1. Giê-su

81. Danh Thánh “Giê-su” nghĩa là gì? [430-435, 452]

Danh Thánh Giê-su, được thiên thần gọi ngay từ lúc Truyền tin, có nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”. Danh Thánh này nói lên căn tính và sứ mạng của Chúa Giê-su, vì “chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội” (Mt 1,21). Thánh Phê-rô khẳng định rằng “dưới gầm trời này không có danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).

Danh xưng Giê-su, tiếng Do Thái có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Chúa Giê-su đến để cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Ơn cứu độ này chính là sự sống và ân sủng của Thiên Chúa ở đời này và hạnh phúc đời sau trên Thiên Đàng. Danh Giê-su là danh thần linh, danh duy nhất mang lại ơn cứu độ. Danh Giê-su là trọng tâm của kinh nguyện Ki-tô giáo.

2. Ki-tô

82. Tại sao Chúa Giê-su lại được gọi là “Đấng Ki-tô”? [436-440, 453]

“Ki-tô” là tiếng Hy Lạp, còn “Mê-si-a” là tiếng Híp-ri, có nghĩa là “được xức dầu”. Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô vì Ngài được Thiên Chúa thánh hiến, được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần để đảm nhận sứ mạng cứu chuộc của Ngài. Ngài là Đấng Mê-si-a mà dân Ít-ra-en mong đợi, được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian. Chúa Giê-su đã chấp nhận tước hiệu Mê-si-a, nhưng đã xác định rõ ràng ý nghĩa tước hiệu này: “từ trời xuống” (Ga 3,13), chịu đóng đinh và rồi sống lại, Ngài là Tôi Trung Đau Khổ, “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Từ tước hiệu Ki-tô này, chúng ta được mang danh hiệu là người Ki-tô hữu.

Từ “Ki-tô”, tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “được xức dầu”. Ki-tô trở nên tên riêng của Chúa Giê-su vì Ngài đã chu toàn sứ mạng thần linh của Đấng Ki-tô. Trong Cựu Ước các vua, tư tế, và ngôn sứ, được xức dầu nhân danh Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã làm trọn các lời tiên tri trong Cựu Ước về Đức Ki-tô qua ba sứ vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế. Ngài được Chúa Cha và Chúa Thánh Thần xức dầu. Ngài đã nhận danh hiệu Ki-tô trước mặt các Tông đồ, nhưng đã không cho phép công khai gọi Ngài bằng danh hiệu ấy, vì người Do Thái khi ấy mong đợi một Đức Ki-tô như một lãnh tụ chính trị. Ý nghiã chân chính của Đấng Được Xức Dầu được biểu lộ khi Chúa Giê-su chịu chết và sống lại vì tội chúng ta. Từ đó, Hội Thánh công nhận Ngài là Đấng Mê-si-a, là Đức Ki-tô.

3. Con Một Thiên Chúa

83. Chúa Giê-su là “Con Một Thiên Chúa” theo ý nghĩa nào? [441-445, 454]

Chúa Giê-su là “Con Một Thiên Chúa” theo một ý nghĩa duy nhất và trọn hảo. Vào lúc Ngài chịu Phép Rửa và trong cuộc Hiển Dung, tiếng của Chúa Cha cho thấy Chúa Giê-su là “Con yêu dấu” của Ngài. Khi Chúa Giê-su tự giới thiệu mình là Con, chỉ mình Ngài “biết Chúa Cha” (Mt 11,27), Ngài khẳng định mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của mình với Thiên Chúa là Cha của Ngài. “Ngài là Con duy nhất của Thiên Chúa” (1 Ga 4,9), là Ngôi Hai trong Ba Ngôi. Ngài là trung tâm của lời rao giảng của các thánh Tông đồ: các Tông đồ đã thấy “vinh quang của Ngài, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Ngài, là Con Một” (Ga 1,14).

Trong Cựu Ước “con Thiên Chúa” được dùng để gọi các thiên sứ, dân Ít-ra-en và các vua của họ. Nhưng “Con Một Thiên Chúa” chỉ được dùng cho Chúa Giê-su. Ngài là Đấng được Thiên Chúa gọi là Con Yêu Dấu khi chịu Phép Rửa, và khi biến hình. Ngài được thánh Phê-rô tuyên xưng là “Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”, và được các môn đệ tuyên xưng là Con Thiên Chúa sau khi Phục sinh.

4. Đức Chúa

84. Tước hiệu “Đức Chúa” có ý nghĩa gì? [446-451, 455]

Trong Thánh Kinh, thường tước hiệu này chỉ Thiên Chúa tối cao. Chúa Giê-su tự nhận cho mình tước hiệu này và mặc khải quyền tối thượng thần linh của Ngài qua quyền năng của Ngài trên thiên nhiên, trên ma quỉ, trên tội lỗi và trên cái chết, và nhất là qua cuộc Phục sinh của Ngài. Những lời tuyên tín đầu tiên của các người Ki-tô hữu công bố rằng quyền năng, danh dự và vinh quang dành cho Thiên Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giê-su, Đấng mà Thiên Chúa “đã ban tặng danh hiệu trổi vượt trên mọi danh hiệu” (Pl 2,9). Ngài là Đức Chúa của trần gian và của lịch sử, là Đấng duy nhất mà mọi người, với sự tự do của mình, phải hoàn toàn tùng phục.

Cựu Ước gọi Thiên Chúa là (Đức) Chúa. Tân Ước cũng dùng “Chúa” để nói về Chúa Giê-su. Trong suốt thời công khai, Chúa Giê-su  đã làm những việc đầy quyền năng trên thiên nhiên, bệnh tật, ma quỷ, sự chết và tội lỗi. Điều đó chứng tỏ Ngài có quyền tối thượng của Thiên Chúa. Trong các sách Tin Mừng, những kẻ đến xin Ngài cứu chữa đều thờ lạy Ngài và gọi Ngài là “Chúa”. Thánh Tô-ma thờ lạy Ngài rằng “Lạy Chúa và Thiên Chúa của con.” Vì Chúa Giê-su là Chúa, nên Hội Thánh tin rằng Ngài là chìa khoá, trung tâm, và cứu cánh của tất cả lịch sử nhân loại. Danh xưng “Chúa” nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa. Tuyên xưng hay kêu cầu Chúa Giê-su là Chúa có nghĩa là tin vào thần tính của Ngài.

♣ Giúp ghi nhớ

-Khi tới thời gian thực hiện lời hứa cứu độ, Thiên Chúa đã gửi Con Một yêu dấu của Ngài xuống thế làm người, chịu chết và sống lại để cứu chuộc chúng ta.

-Con Thiên Chúa làm người có tên là Giê-su. Tên gọi ấy nói lên sứ mạng của Ngài là “Thiên Chúa cứu độ”.  Đức Giê-su còn được gọi là Đấng Ki-tô vì Ngài được Thiên Chúa thánh hiến, và dùng Thánh Thần mà xức dầu tấn phong làm vua, tư tế và ngôn sứ để Ngài chu toàn sứ mạng cứu chuộc loài người.

-Đức Giê-su là Con Một Thiên Chúa nghĩa là “Ngài là Con duy nhất của Thiên Chúa” (1 Ga 4,9), được Chúa Cha sinh ra từ đời đời, là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa.

-Đức Giê-su Ki-tô được tuyên xưng là Đức Chúa vì Ngài là Thiên Chúa như Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

♣Gợi ý suy nghĩ

1. Tên gọi Giê-su có nghĩa là gì?

2. Vì sao Đức Giê-su còn được gọi là Đấng Ki-tô?

3. Khi rao giảng về Chúa Giê-su, thánh Phê-rô khẳng định rằng: “Dưới gầm trời này không có danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). Bạn nghĩ sao về câu nói của thánh Phê-rô?

4. Đối với bạn, Đức Giê-su Ki-tô là ai?

(Còn tiếp)

1 2 3 4 5

Comments are closed.