Khấn không?

0

Sr. Têrêsa Đỗ Hà, OP

“Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,10).

Tuyên khấn là hành vi tự do đáp trả sáng kiến nhưng không của Thiên Chúa. Chính tình yêu đi bước trước từ thuở đời đời ấy làm nên nền tảng của mọi ơn gọi. Vì thế, đời sống thánh hiến là một lời đáp trả đầy khiêm tốn trước một huyền nhiệm diệu vời vượt tầm trí hiểu của con người. Người tu sĩ trước khi tuyên khấn sẽ được hỏi rất nhiều câu hỏi để xác định sự thích đáng, tự do, ý chí, cam kết… nhưng cuối cùng vẫn chỉ còn lại một câu hỏi ngắn: Khấn không?

“Không” thì mọi câu hỏi trước đó đều trở nên vô nghĩa. Nhưng một khi đã trả lời “Có”, thì từ từ giây phút ấy sẽ là khởi đầu một hành trình của những chuỗi ngày dài tự hỏi và tự trả lời cho chính mình: khấn để làm gì, khấn để sống điều gì, và sau cùng, lời khấn ấy sẽ dẫn mình đi đâu.

1. Một chút ánh sáng của Giáo hội

Công đồng Vatican II, trong sắc lệnh Perfectae Caritatis, đã xác định: “Đời sống thánh hiến là một ân huệ đặc biệt giúp các tín hữu theo Đức Kitô cách gần gũi hơn.”[1] Điều này cho thấy việc tuyên khấn không tách người tu sĩ khỏi Giáo Hội, nhưng đặt họ vào trong mầu nhiệm của Giáo Hội: hiệp thông và sứ vụ.

Thánh Tôma Aquinô thì ví đời sống tu trì là “trạng thái hướng đến sự hoàn thiện của đức ái” (Summa Theologiae II-II, q.186). Điều này cho chúng ta ý thức rất rõ: không phải người tu sĩ đã hoàn hảo, nhưng là chọn sống theo một nếp sống giúp họ nên hoàn hảo hơn mỗi ngày. Như thế, tuyên khấn không phải là đích đến, mà là khởi đầu của một hành trình hoán cải liên lỉ.

2. Nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô

Khiết tịnh không phải là hết yêu hay từ chối yêu, nhưng là học yêu theo cách của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã yêu bằng một tình yêu không chiếm hữu, không điều kiện, không giới hạn. Qua lời khấn khiết tịnh, người tu sĩ được mời gọi bước vào chính khuôn mẫu tình yêu ấy. Trong linh đạo Đa Minh, tình yêu đó không dừng lại ở chiêm niệm, mà phải trở thành điều được trao ban qua sứ vụ giảng thuyết và phục vụ tha nhân.

Khó nghèo không chỉ là không tích trữ, sở hữu của cải, mà là không để bất cứ điều gì sở hữu mình và cũng không để lòng mình muốn chiếm hữu cố định một sự gì. Đức Giêsu đã sống điều này cách triệt để trong suốt hành trình dương thế của mình. Cuộc sống của Ngài nay đây mai đó, không có chỗ tựa đầu, chết trần trụi, chôn nhờ mộ kẻ khác… đã hoàn toàn nên một với lời dạy của mình: “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Người nữ tu Đa Minh Tam Hiệp sống khó nghèo để nhẹ hành trang hơn cho sứ vụ, để trái tim không bị ràng buộc bởi vật chất nhưng đủ tự do mà lên đường đến bất cứ nơi đâu Hội dòng cần. Người nữ tu Đa Minh Tam Hiệp sống khó nghèo trong tinh thần và thực tế, gắn với sự hiệp thông trong đời sống cộng đoàn và để phục vụ cho sứ vụ giảng thuyết. Bởi lẽ, một nhà giảng thuyết nếu để lòng mình bị ràng buộc bởi vật chất thì lời giảng sẽ mất đi sự tự do và sức mạnh.

Vâng phục cũng không phải là đánh mất tự do, nhưng là học cách dùng tự do để chọn điều đẹp lòng Thiên Chúa. Thánh Tôma Aquinô khẳng định: “Trong ba lời khấn tu trì, lời khấn vâng phục là nhân đức cao nhất vì nó dâng hiến ý chí tự do – điều cốt lõi nhất của con người.” Đức Thánh Cha Lêô XIV cũng nhấn mạnh rằng: “Vâng phục là trường học của tự do trong tình yêu[2].” Cả cuộc đời Đức Giêsu là lời xin vâng trọn vẹn với Chúa Cha. Vì thế, vâng phục không làm con người nhỏ lại, nhưng giúp người tu sĩ trưởng thành hơn trong tình yêu, biết lắng nghe, phân định và cùng nhau tìm kiếm chân lý. Chính nhờ vâng phục mà người tu sĩ có thể bước ra khỏi ý riêng để đón nhận sứ vụ được trao phó.

3. Khấn: đời sống và sứ vụ

Thực tế đời sống thánh hiến của mỗi người không ai giống ai và cũng không giống bất cứ sách vở nào. Sẽ có thể không rực rỡ dưới góc nhìn của người đời và không thiếu những ngày mệt nhoài vì công việc mục vụ, có những lúc cảm thấy cô đơn hay đối diện với những thất bại, hiểu lầm. Đó là lúc chúng ta cảm nghiệm sâu sắc nhất về câu nói của Đức Giêsu: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con…” (Lc 22, 42). Tuy nhiên, chính trong những thử thách ấy, lời khấn lại trở thành nguồn sức mạnh nâng đỡ, neo giữ chúng ta ltrung thành trong đời sống thánh hiến. Thần học Thập Giá trở nên sống động như lời thánh Phaolô nói: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13)

Trải nghiệm đời tu càng dài, chúng ta càng nhận ra một sự thật hiển nhiên: một người nữ tu không lớn lên chỉ nhờ thành công, mà còn nhờ sự trung tín trong thất bại và yếu đuối, bởi vì “Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,10). Làm sao để tiếp tục mỉm cười khi mệt mỏi, thất bại; làm sao vẫn nói được lời dịu dàng khi bị hiểu lầm, làm sao để bền bỉ cầu nguyện dù khô khan nguội lạnh… Đó chính là cách mà Thiên Chúa âm thầm đào luyện người tu sĩ cho sứ vụ của Ngài.

Sứ vụ thật sự không phải là làm nhiều, mà là biết khiêm tốn và khôn ngoan chọn làm những điều Chúa muốn, làm trong tình hiệp thông cộng đoàn. Sự hiệp nhất, yêu thương trong cộng đoàn chính là sứ vụ đầu tiên và lời rao giảng quan trọng nhất mà chúng ta gửi trao cho thế giới hôm nay. Với mỗi thời đại, để đáp ứng những dấu chỉ không ngừng biến đổi ấy, chúng ta được mời gọi luôn xuất phát lại từ Đức Kitô để được nuôi dưỡng hồn tông đồ, nỗ lực không ngừng học hỏi, sẵn sàng làm mới chính mình để trở thành công cụ hữu dụng trong tay Chúa.

“Quyết định theo Chúa của con không phải chỉ là một chữ ký, không phải là một lời tuyên thệ thôi. Nhưng là một sự hiến dâng liên lỉ thực hiện trong cả cuộc sống.”[3] Thật vậy, mỗi ngày của người nữ tu là một lần lặp lại lời tuyên khấn, mỗi ngày là mỗi chuỗi lời thưa “Xin Vâng” như Đức Maria.

Nguyện xin Mẹ, người nữ đầu tiên đã sống đời thánh hiến trọn vẹn chuyển cầu và phù trợ chúng ta được trung tín trên hành trình theo sát Con Chí Thánh của Mẹ.

[1] PC, 1

[2] DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV CHO BỐN HỘI DÒNG: Dòng Thừa Sai Máu Châu Báu, Dòng Marist, Dòng Phanxicô Đức Mẹ Vô nhiễm và Dòng Nữ tu Ursuline Đức Mẹ Vô nhiễm, 18/9/2025

[3] ĐẤNG ĐÁNG KÍNH FX. NGUYỄN VĂN THUẬN, Đường Hy vọng, số 69

Comments are closed.

phone-icon