
Tiến sĩ tâm lý Trần Mỹ Duyệt
Đề cao phẩm giá, giữ gìn nhân cách, nêu cao khí tiết, liêm sỉ, và không để bị ai coi thường. Đó là quan niệm sống mang khí chất quân tử, trượng phu của người biết tự trọng. Trong nền văn hóa Nho học, gái thì: “Công, dung, ngôn, hạnh.” Trai thì: “Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.” Ở chốn riêng tư sao cũng được, nhưng bị coi thường nơi đông người, giữa bạn bè, giữa những người cùng nhóm, cùng hội đoàn, đoàn thể là chuyện không mấy ai chấp nhận. Ca dao Việt Nam có câu: “Miếng giữa làng bằng sàng xó bếp.” Tâm lý chung, đặc biệt đối với nam giới, việc bị coi thường nơi công cộng là một xỉ nhục, xúc phạm không thể chấp nhận. Nhưng một người tự trọng, một người sống đúng nhân cách để giữ danh tiếng khác với một người sống bằng sĩ diện, luôn tìm cách che dấu sự yếu kém của mình. Hai từ tự trọng và sĩ diện thoạt nghe như giống nhau, nhưng phân tích kỹ lưỡng, nhất là nhìn vào hai lối sống ấy được thể hiện, thì tự trọng và sĩ diện hoàn toàn khác nhau.
Sĩ diện là gì?
Theo Từ Điển Tiếng Việt. Nhà xuất bản Hồng Đức, Sĩ diện: 1.Thể diện cá nhân. Giữ sĩ diện cho nhau: Sợ mất sĩ diện trước đám đông. 2. Muốn làm ra vẻ không thua kém ai cho người ta coi trọng hoặc muốn che giấu sự thua kém của mình cho người ta khỏi coi thường. Đua đòi ăn mặc, thích sĩ diện với bạn bè. Vì sĩ diện nên giấu dốt. Sĩ diện hão.
Dưới cái nhìn tâm lý, sĩ diện (pride) là: “Trạng thái thỏa mãn với chính mình về những nỗ lực mà mình thực hiện và những thành quả đạt được.”
Và trong lãnh vực tâm thần, K. Horney, đã dùng từ pride neurotic để diễn tả tình trạng tâm thần về cảm giác của một người đối với sự xứng đáng vượt xa những gì mà thực tế mang lại. [1]
Như vậy sĩ diện là một hành vi tâm lý thiếu trưởng thành, lẫn lộn giữa tự tôn, tự ty và tự trọng. Tuy không thấy ghi trong DSM (The diagnostic guidebook for the American Psychiatric Association) tức là cẩm nang chẩn đoán các chứng bệnh tâm thần của Hiệp Hội Tâm Thần Hoa Kỳ, nhưng thực tế, nó như một hội chứng tâm lý do các triệu chứng của nó ảnh hưởng trên suy nghĩ và hành động của một người.
Trong thực tế, thái độ tự thỏa mãn, tự hài lòng của một người có thể là một hành động cao ngạo, một cảm giác thỏa mãn hoặc vui sướng thầm kín từ những kết qủa mình đạt được, những thành công của những người có liên lạc mật thiết, hoặc từ những thành tựu hay chiếm hữu mà nó được ngưỡng mộ rộng rãi. Thí dụ, nhìn thấy những bộ mặt của phụ huynh hãnh diện về con cái. Hoặc một ai đó thể hiện thái độ cao ngạo trong sự xuất hiện của mình.
Nó cũng là cảm giác về thành công mà một người hoặc một chuyện gì khiến làm bùng phát sự thỏa mãn sâu xa hoặc tự mãn trước những gì đạt được. Hoặc một nguồn cảm hứng làm thỏa mãn, hãnh diện và vui mừng khiến sáng con mắt của một người trước sự giầu có, thành công mà họ chiếm hữu hoặc được ngưỡng mộ.
Nhưng còn hơn thế nữa, nó không chỉ là tư tưởng, cảm giác hoặc thái độ tự thỏa mãn, tự hài lòng về mình, người sĩ diện luôn phủ nhận, chối bỏ mọi sự giúp đỡ, mọi ý kiến đóng góp và xây dựng từ người khác. Suy nghĩ và hành động của họ mang những triệu chứng thuộc trong nhóm những bệnh nhân tâm thần phân liệt, ái kỷ, hoang tưởng, và ảo tưởng, ảo giác.
Như người mang hội chứng tâm thần phân liệt, lúc buồn, lúc vui, lúc tỉnh táo, lúc cư xử như người thuộc thế giới khác, người sĩ diện cũng thay đổi như con tắc kè trước môi trường và tình huống quanh mình.
Như người ái kỷ lúc nào cũng thể hiện những hành động quy về cái tôi của mình, đề cao mình hơn tất cả mọi người khác: đẹp hơn người, khôn ngoan hơn người, tài năng hơn người, và giầu có hơn người. Người sĩ diện rất sợ bị coi là vô dụng, yếu kém, và thua sút người khác.
Như người ảo tưởng luôn sống trong mơ mộng, người sĩ diện cũng tự lừa đối, và đánh lừa mình về những gì họ nghĩ và họ có.
Và sau cùng, như người hoang tưởng là người có nhận thức sai lầm về mình và về cuộc sống. Người sĩ diện lúc nào cũng như sống trong thế giới siêu hình, xa rời thực tế.
Tóm lại, người sĩ diện thoạt nhìn bề ngoài xem như bình thường, nhưng bên trong mang mầm mống tâm bệnh. Để chữa trị tâm bệnh này, tùy theo từng trường hợp, ảnh hưởng giáo dục và môi trường sống, nó đòi hỏi sự phân tích chuyên môn và trị liệu cả về tâm lý, tâm thần, và tâm linh. Có trường hợp chỉ cần áp dụng một, có trường hợp phải tổng hợp của hai hoặc cả ba phương pháp:
Tâm lý trị liệu: Sĩ diễn nhẹ thuộc loại bất ổn trong quan niệm thiếu trưởng thành về tâm lý. Có thể vì tự ty mặc cảm về mình, hoặc do ảnh hưởng gia đình ngay từ còn nhỏ đã sống trong bầu không khí và lối giáo dục cực đoan. Thí dụ, từ bé đã được nghe bố mẹ dạy rằng: “Làm trai thì không được khóc!” Hoặc “Con gái thì phải nhẹ nhàng, đoan trang, chịu đựng.” Đây là quan niệm và lối sống của xã hội phong kiến, trọng nam, khinh nữ, một xã hội coi trọng mặt mũi. Sự dồn nén này tạo thành tâm lý miễn cưỡng chấp nhận, để rồi khi không còn chịu được nữa thì dùng sĩ diện để bao che.
Dưới cái nhìn tâm lý trị liệu, hội chứng sĩ diện có thể được trị liệu bằng phương pháp “interpersonal conflict” (xung đột nội tâm) hoặc “behavioral therapy treat” (thái độ trị liệu) để giúp bệnh nhân nhận ra họ là ai và cần thay đổi lối sống như thế nào.
Tâm thần trị liệu: Nếu tình trạng đã kéo dài lâu ngày, lâu tháng, và hành động cũng như lời nói của người sĩ diện mang tính cách hoang tưởng, ảo tưởng hay ảo giác, việc trị liệu lúc này phải dùng thuốc. Họ cần gặp thêm bác sỹ tâm thần. Những lời khuyên, những phân tích tâm lý trong trường hợp này không đủ mang lại kết quả. Họ cần được chữa trị song song bằng những thuốc về tâm thần trong nhóm antyspychotic để giúp quân bình não trạng và thần kinh. Thuốc sẽ giúp họ điều chỉnh những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực.
Tâm linh trị liệu: Nhiều người ngồi thiền, tập yoga, luyện khí công để kiểm soát tâm tính, kiểm soát hơi thở, nhịp tim giúp ổn định tâm thân. Cũng có người dùng cầu nguyện, tụng kinh, hoặc suy niệm để tìm lại sự bình an cho tâm hồn, tu tâm, dưỡng tính và cách sống. Nếu tâm linh trị liệu được áp dụng song song với tâm lý trị liệu hoặc tâm thần trị liệu, sẽ mau chóng giúp cho người sĩ diện tìm ra chỗ đứng thật sự của mình. Và chỉ có trong suy nghĩ và lối sống ấy, người sĩ diện mới không tự lừa dối mình, sống hai mặt và đề cao cái tôi thái quá.
Những người sống với hội chứng sĩ diện là vậy, còn đối với những nạn nhân của họ thì sao? Sau đây là lời khuyên và góp ý dành cho vợ, chồng, con cái, hoặc những người thân trong gia đình khi phải sống với những kẻ sĩ diện là dùng tình thương, sự nhẫn nại chịu đựng, cũng như phải biết thẳng thắn và can đảm.
Nhờ tình yêu và sự nhẫn nại chịu đựng sẽ giúp cho người sĩ diện nhận ra họ là ai? Nhưng sự can đảm và thẳng thắn sẽ giúp điều chỉnh và sửa sai lối sống của những người này. Như một con rắn ẩn mình dưới đống cỏ rác và nấp trong bụi rậm, người mang bệnh sĩ diện cũng phải được giúp đỡ bằng nhận thức của lý trí, và suy tư trưởng thành để đối diện với sự thật của chính họ. Cần nhẹ nhàng, nhưng thẳng thắn mỗi khi thuận tiện góp ý sửa sai.
Là nạn nhân của người chồng, người vợ, hoặc người cha, người mẹ đang sống trong mặc cảm sĩ diện, chúng ta cũng nên ứng dụng nguyên tắc tâm lý thực dụng: “Fight or fly” (chiến đấu hoặc trốn chạy). Nếu thấy rằng sự cố gắng, hy sinh và chịu đựng cũng như thiện chí của mình không mang lại kết quả, thì ít nhất cũng đừng để cái tính sĩ diện của kẻ khác làm mình đánh mất chính mình, mất bình tĩnh, mất bình an, trở thành nạn nhân, hoặc trầm cảm vì họ.
_________
Nguồn tài liệu:
1. Penguin Dictionary of PSYCHOLOGY. Penguin Reference Library.