Thái độ trước tiệc cưới – Chúa Nhật 28 Thường Niên, năm A

0

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

Khi khâm liệm kẻ mới qua đời, tín hữu Việt Nam chúng ta thường cho hai bàn tay người chết chắp trên ngực lại rồi đặt vào đó một cây thánh giá hay một tràng chuỗi. Tín hữu Ba Lan thì để hai bàn tay người chết lên trên bụng, cho cầm một cây sáp lớn hay một cây đèn. Cây đèn này sẽ cháy sáng cho tới khi thi thể được đặt vào áo quan. Họ muốn sống tinh thần dụ ngôn mười cô trinh nữ. Còn tín hữu Trung Quốc lại khác. Họ cho người chết cầm lấy chiếc áo trắng đã mặc ngày rửa tội. Chiếc áo này sau đó sẽ được bỏ vào quan tài đem chôn theo luôn. Thói tục tốt đẹp này nói lên niềm tin chết là được Thiên Chúa mời vào dự tiệc cưới vĩnh cửu với y phục lễ cưới đã nhận từ ngày chịu phép rửa tội và đã được cố giữ gìn “sạch sẽ” cho tới hôm ấy. Nó cũng là cách sống dụ ngôn bài Tin Mừng ta đang suy niệm.

Mỗi thánh lễ nhắc ta nhớ tới dụ ngôn lớn lao đó, dụ ngôn về những lời mời: “Phúc cho ai được mời dự tiệc Chiên Thiên Chúa !” Nhưng Mt, nhà luân lý, đã vội vàng cảnh báo chúng ta: khốn cho ai từ chối lời mời và khốn cho ai đến mà không làm một nỗ lực để xứng đáng với vinh dự được gọi. Vì như đã nói tuần trước, dụ ngôn này là một minh họa đồng thời là một lời tố cáo thái độ của các thượng tế (những thủ lãnh tôn giáo), các kinh sư (những nhà thần học), các Pha-ri-sêu (Biệt phái, những người đạo đức) và nói chung là dân Do-thái, những kẻ đã được gọi đi vào Nước Thiên Chúa trước tiên nhưng đã chối từ.

1. Thái độ từ chối lời mời

Đúng thế, đang khi dụ ngôn “các tá điền sát nhân” (Chúa nhật tuần trước) nhắm cách riêng những người nắm trách nhiệm trong Ít-ra-en, thì câu chuyện hôm nay có tầm mức chung hơn nhiều: “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình.” Quân vương mở tiệc cưới cho hoàng tử là Thiên Chúa khai mở thời Mê-si-a cho Con Một của Người nhập thể; gia nhân đi mời khách là các ngôn sứ và các Tông đồ; những kẻ được mời trước đã không thèm đếm xỉa tới, lại còn làm nhục và giết gia nhân: đó là dân Do-thái. Những người được tập hợp lại từ các ngã đường là các dân ngoại và các kẻ tội lỗi. Cuộc tiêu hủy thành phố của những kẻ bất nhân là sự tàn phá Giê-ru-sa-lem sau này (năm 70). Ít-ra-en từ khước ơn cứu độ thì Tin Mừng được bung ra cho khắp mọi dân.

Tuy nhiên, những chi tiết xác định như thế (phần nào có tính chất ám dụ) vẫn không cấm ta nới rộng tầm mức dụ ngôn hơn nữa. Khách mời là vô số con người. Đức Giê-su, vị hoàng tử, cũng là anh của tất cả. Người không chỉ “ở giữa” Chúa Cha và loài người, nhưng còn “hướng về Cha” và “được ban cho loài người” (x. Ga 1), kết hợp Thiên Chúa với nhân loại trong tiệc cưới phi thường kỳ lạ. Không gì vui hơn một tiệc cưới! Chớ bao giờ đánh mất cái nhìn như thế về cuộc lễ hội bao la của Tin Mừng, vốn mở ra cho mọi người các cánh cửa của Thiên Chúa.

Đức Giê-su nhấn mạnh đến thái độ kiên trì của Chúa Cha khi mời mọc: xin mời đến, mọi sự đã sẵn sàng! “Nhà vua sai đầy tớ đi… Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi… Nhà vua bảo đầy tớ: các ngươi gặp ai thì mời hết vào tiệc cưới.” Ai không cảm thấy được Thiên Chúa mời cách vui vẻ thì quả thật chẳng biết Người.

Vậy tại sao lại có những sự chối từ? Mát-thêu phác qua các lý do còn Lu-ca thì nói rõ: “Họ bỏ đi, Mát-thêu nói, kẻ thì đi thăm nông trại, người thì đi buôn.” Còn Lu-ca: “Tôi mới mua một thửa đất… Tôi mới tậu năm cặp bò… Tôi mới cưới vợ…” (Lc 14,18-20). Đó là cái mà người ta gọi là những lý do rất chính đáng, và biết bao Ki-tô hữu cuối cùng đã từ chối lời mời gọi của Thiên Chúa với các đủ lý do như vậy! Thoạt tiên, người ta cố gắng và cho là điều quá tự nhiên khi xếp đặt các giờ phút gặp gỡ Thiên Chúa, các việc đạo đức của đời Ki-tô hữu… vào những giây phút thừa, những thời gian cặn, lúc chẳng còn công chuyện gì để làm, sau giờ lao động, sau công việc thường nhật, cả sau khi đã vui chơi nữa. Rồi đến lúc giờ rảnh rỗi sót lại ấy cũng không có. Người ta bắt đầu trở nên bê bối, rồi tìm cớ chứa lỗi cho mình: “Làm việc cũng là cầu nguyện… ” Dần dần, mỗi ngày một chút, người ta thôi cầu nguyện, bỏ tham dự bí tích, bỏ các buổi giáo lý, hội họp hay huấn luyện tông đồ, viện cớ rằng: “Chẳng còn thời giờ để sống đạo nữa… ”. Đôi lúc thái độ từ chối tiếp nhận Đức Giê-su, từ chối đáp lại tiếng gọi của Người là do không biết hoặc thù nghịch với Người. Đức Giê-su gây phiền hà, nên chướng ngại! Thế là chống đối, là bách hại. Không cứ gì một dân tộc mới làm thế, mà mọi người đều có thể làm thế, và ta là thành phần của nhân loạn này!

2. Thái độ khinh thường chủ tiệc

Nhưng tiệc cưới không thể bị ế. Thiên Chúa vẫn mời gọi không ngừng: “Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai bất luận tốt xấu, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.” Điều này giúp ta thấy Hội Thánh nhất định không phải là nơi tập họp những “kẻ thập toàn”, là tổ chức gồm những người chẳng có gì đáng chê trách. Đôi khi chúng ta quan niệm Hội Thánh là thành phần ưu tuyển, có cảm giác rằng Hội Thánh phải loại khỏi lòng mình tất cả những ai không sống theo Phúc Âm. Đúng là Hội Thánh đón nhận khá rộng rãi và điều đó chẳng làm thỏa mãn những ai muốn Hội Thánh tạo cho mình một hình ảnh vô tì vết! Liệu Hội Thánh đưa ra một hình ảnh như thế có tốt không? Đó chẳng phải là con đường mở ra cho lối sống giả hình như kiểu Biệt phái sao? Đức Giê-su đã tự xưng mình là thầy thuốc, nên Hội Thánh hẳn phải là một bệnh viện!

Tuy nhiên, những khách tiệc giờ thứ 25 này, những kẻ được mời không phân biệt này cũng phải tỏ ra có thái độ xứng hợp khi vào bàn tiệc hoàng cung. Nhà vua đã để sẵn cho họ ngoài phòng tiệc những bộ y phục lễ cưới đẹp đẽ như nhau. Đó là thói tục của những bậc vua chúa, quyền quý thời cổ bên Trung Đông (nhiều đại gia hiện thời cũng thế), nhằm mục đích khoe khoang sự sang giàu của mình, đồng thời tạo vẻ bình đẳng giữa các thực khách để họ khỏi (tự tôn hay tự ti) mặc cảm. (Mt không cắt nghĩa điều này vì viết cho chính các độc giả biết rõ thói tục. Xin nói thêm là phong cách đồng loạt mặc veston của các khách tiệc hiện thời cũng chẳng đạt được hiệu quả như thế sao?). Thế nhưng có một kẻ đã tỏ ra khinh thường gia chủ. Và y đáng chịu hình phạt đối với kẻ tự làm cho mình bất xứng với ơn huệ bất ngờ này.

Các Ki-tô hữu phải cảnh giác với ý nghĩ cho rằng chỉ cần được gọi và đáp lại Tin Mừng là bảo đảm linh hồn được rỗi. Đâu chỉ tuyên xưng danh Đức Ki-tô, tham gia vào cộng đoàn của Người (tức chịu phép rửa để được vào Nhà cưới) là đủ, mà còn phải chu toàn các việc do đức công chính mới đòi buộc (x. Mt 7,21tt). Nếu không, dù đã được nhận vào phòng tiệc, người ta vẫn có nguy cơ bị ném ra ngoài, bị loại khỏi Nước Trời vĩnh viễn. Sự lựa lọc diễn ra vào phút cuối, khi “vua tiến vào quan sát khách dự tiệc” cũng là điều mà hai dụ ngôn cỏ lùng và lưới cá đều đã nói lên: “Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 13,49-50).

Được dự tiệc cưới Nước Trời không tùy thuộc văn hóa, màu da, chủng tộc, nhưng căn cứ vào sự trở lại, đổi đời, vào những việc lành phúc đức… Khi nhận chiếc áo trắng ngày rửa tội, chúng ta đã được mời gọi “giữ cho tinh tuyền phẩm giá người con Chúa.” Y phục của dân mới, y phục lễ cưới, chính là Đức Ki-tô mà chúng ta đã mặc lấy, là phẩm cách Ki-tô hữu, là thái độ sống phù hợp của công dân Nước Trời. Sống sao cho xứng đáng với những gì ta đã lãnh nhận, đó chính là đáp lại lời Thiên Chúa mời gọi. Đừng làm Ki-tô hữu trên lý lịch, Ki-tô hữu ngày Chúa nhật, Ki-tô hữu ở nhà thờ!

Như thế, mở đầu bằng sự biết ơn đầy kinh ngạc thán phục, dụ ngôn chấm dứt bằng phản tỉnh về thái độ kẻ được mời của chúng ta. Chúng ta ở trong phòng tiệc cưới, tức Hội Thánh, cộng đoàn Chúa nhật, bàn tiệc Thánh Thể. Lời mời gọi xem xét con tim không thiếu: “Chúng ta hãy cúi đầu thú nhận tội lỗi của chúng ta…” Và “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào lòng con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh.”

Comments are closed.

phone-icon