
Tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt
Khi nghe nói về Thánh Monica (331-387), đa số chúng ta thường nghĩ rằng thánh nữ là một bà góa già nua, quê mùa, và lẽo đẽo đi theo một đứa con hoang đàng, khóc lóc, van xin nó quay trở về với đạo thánh Chúa. Nhưng nếu đọc kỹ lịch sử của thánh nữ, thì thật sự không phải như vậy. Thánh Monica là người phụ nữ hoàn toàn khác: trẻ, kiên cường, khôn ngoan, tâm lý và thánh thiện.
Sơ lược tiểu sử:
Monica sinh ở Bắc Phi năm 331 (cũng có tài liệu ghi năm 332) tại thành Thagaste, trong một gia đình giàu có với truyền thống Kytô giáo vững vàng. Lịch sử không ghi rõ cha mẹ thánh nữ là ai, và bà có bao nhiêu anh chị em. Lúc còn nhỏ Monica đã học về Sách Thánh với lòng sốt sắng phi thường. Cầu nguyện và việc chuyên cần lãnh nhận các Bí tích đã tôi luyện đời sống nội tâm của Monica, giúp bà tích cực dấn thân phục vụ cộng đồng Giáo Hội.
Monica kết hôn với Patricius. Năm 22 tuổi, bà sinh con đầu lòng là Augustine. Sau đó bà sinh thêm Navigius và người con gái út tên là Perpetua.
Năm 39 tuổi bà trở thành góa phụ, một mình phải lo quán xuyến gia tài chồng để lại và mọi việc trong ngoài.
Bà qua đời năm 56 tuổi. Di hài của Thánh Monica đã được lưu giữ suốt nhiều thế kỷ tại thánh đường Sant’Aurea. Ngày nay, tại đó chỉ còn lại tấm bia mộ, vì vào thế kỷ 15, Đức Giáo Hoàng Martinô V đã cho chuyển hài cốt của bà về Rome. Người ta tin rằng nhiều phép lạ đã xảy ra trên đường di chuyển, và lòng sùng kính Thánh Monica từ đó đã được xác lập vững chắc.
Tại Rome, Đức Tổng Giám Mục Rouen là Guillaume d’Estouteville đã cho xây dựng một nhà thờ tại để tôn vinh Thánh Augustinô, đó là Vương Cung Thánh Đường Sant’Agostino, và đặt thánh tích của Thánh Monica tại một nhà nguyện nằm bên trái bàn thờ chính được trang trí bằng các bức tranh tường của họa sĩ Pietro Gagliardi vào năm 1885.
Lòng sùng kính Thánh Monica đã bắt đầu từ ngay sau khi bà qua đời vào năm 387, khởi nguồn từ những ghi chép về cuộc đời bà do con trai bà là Thánh Augustinô trong tác phẩm “Tự thú” (Confessions). Việc tôn kính bà trong phụng vụ chính thức và sự sùng mộ của công chúng đã không ngừng phát triển trong suốt thời Trung cổ. Vào thế kỷ 13, lòng sùng kính này bắt đầu lan rộng và một ngày lễ kính Thánh Monica đã được cử hành vào ngày 4 tháng 5. Dù vậy, các nghi thức phụng vụ dành riêng cho Thánh Monica dường như chưa được đưa vào Sách Kinh Nhật Tụng Rôma (Roman Breviary) trước thế kỷ 16.
Thánh Monica được tôn kính trong Giáo Hội Công Giáo, Cộng Đồng Anh Giáo, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương, Các Giáo hội Chính Thống Cổ Đông Phương, Giáo Phái Tin Lành. Lễ kính ngày 27 tháng Tám hàng năm.
Nhân đức:
Khi nói đến Thánh Monica là nói đến một thiếu nữ, một góa phụ kiên cường, khôn ngoan, tâm lý và thánh thiện. Là nhấn mạnh đến sự chịu đựng, lòng nhiệt thành, và lời cầu liên lỷ mà thánh nữ đã dùng để hoán cải chồng, con cũng như những người thân yêu.
Chồng:
Monica lập gia đình sớm với Patricius, một quan chức La Mã đầy tham vọng, theo ngoại giáo tại Bắc Phi. Ông là người nổi tiếng với tính khí nóng nảy, gia trưởng, và lối sống thiếu chung thủy. Với sự dịu dàng, hiền hậu và khả năng tâm lý biết nắm bắt đúng thời điểm trong các cuộc trò chuyện, cùng “thái độ” biết chờ đợi, kiên nhẫn và cầu nguyện, bà đã thành công trong việc cảm hóa chồng mình. Patricius đã cảm nhận được tình yêu thương nơi bà và đã trở lại đạo Công Giáo. Ông đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội một năm trước khi qua đời. Bà đã chia sẻ kinh nghiệm này với các người bạn tìm đến tâm sự về những vấn đề hay những khó khăn họ gặp phải trong đời sống hôn nhân gia đình.
Mẹ chồng:
Không những cải hóa được chồng, Monica còn cảm hóa được mẹ chồng, người mà ngay từ ban đầu đã có thái độ thù địch với bà. Bà này cũng đã trở lại và gia nhập Công Giáo.
Con:
Monica đã nuôi dạy con cái theo Công Giáo. Augustine, con trai đầu lòng sau này là Giám mục Hippo, thần học gia, triết gia, và giáo phụ. Navigius, người con thứ sau này chọn đời sống tu trì và trở thành một tu sỹ. Perpetua, con gái út, người đã trở thành nữ tu và được bầu làm nữ viện trưởng.
Là người mẹ, Monica đã phải đau khổ rất nhiều với Augustine “đứa con của nước mắt”. Ngay từ còn nhỏ, vì không thể cho các con chịu phép rửa tội, bà đã vô cùng lo lắng khi Augustine lâm bệnh. Trong cơn lo âu, bà xin Patricius cho phép Augustine được rửa tội. Ông đã đồng ý nhưng sau đó lại rút lại sự chấp thuận này khi Augustine bình phục.
Khi Augustine còn bé, Monica đã nhận thấy trí khôn xuất chúng của con trai mình, nhưng cũng thấy rõ khuynh hướng ham mê những thú vui trần thế của con. Bà từng tạm thời đuổi cậu con trai tuổi thiếu niên Augustine khỏi nhà ở Thagaste sau khi cậu theo tà giáo Manichean và chối bỏ đức tin Kytô giáo. Dù vô cùng đau lòng trước lối sống của con, bà đã đón Augustine về sau khi nhận được một giấc mơ thị kiến báo hiệu sự trở lại của con mình.
Là một nhà hùng biện đầy tham vọng. Augustine sống buông thả và khước từ giáo lý Kytô giáo để theo đuổi triết thuyết Manichaean – một hệ tư tưởng phủ nhận nhiều niềm tin cốt lõi của Kytô giáo. Đau lòng trước tình trạng này, bà đã dành trọn tâm trí kiên trì cầu nguyện và chay tịnh, tha thiết nài xin Thiên Chúa cho con trai mình được hoán cải. Vì lý do đó, bà đã chuyển đến Carthage rồi sang Ý khi con trai bà, lúc bấy giờ là một giáo sư hùng biện đang ở đỉnh cao sự nghiệp.
Trong nỗ lực nhằm đưa Augustine trở về với Kytô giáo, bà đã tìm gặp Thánh Ambrose, Giám Mục của Milan để nhờ ngài khuyên bảo con trai mình. Bà tin rằng nếu được thuyết phục bằng những lý lẽ xác đáng, Augustine sẽ từ bỏ những quan điểm sai lầm để quay về với Chúa Kytô.
Nhận thấy nỗi lòng đau đớn cùng đức tin kiên định của bà, dịp này Thánh Ambrose đã gợi ý cho bà bằng một lời khuyên giá trị. Ngài đã nói với bà: “Hãy bớt nói với Augustine về Chúa, và hãy nói nhiều hơn với Chúa về Augustine.”
Thánh Monica đã cầu nguyện cho sự hoán cải của con trai mình là Augustine trong khoảng 17 năm. Truyền thống và các nhà viết tiểu sử thường nhắc đến quãng thời gian 17 năm này tính từ lúc Augustine hoàn toàn theo thuyết Manichae và lối sống thế tục xa rời đức tin Công Giáo, cho đến khi Augustine thực sự hoán cải và được Thánh Ambrose rửa tội tại Milan vào năm 387.
Ngay sau sự kiện đầy hân hoan và hạnh phúc này, Thánh Monica bày tỏ với Augustine rằng sứ mạng trần thế của bà đã hoàn tất. Rồi hai mẹ con đã lên đường trở về châu Phi, ghé lại Civitavecchia và Ostia trên hành trình của mình. Tại đây, bà Monica đã qua đời, và nỗi đau buồn của Augustine chính là nguồn cảm hứng cho tác phẩm “Tự thú” của ông sau này.
Giây phút nhiệm hiệp tại Ostia và qua đời:
Sau ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội từ tay Đức Giám Mục Ambrose, Augustine quyết định trở về Thagaste để thành lập một cộng đoàn các tôi tớ Chúa, và bà Monica cũng sát cánh cùng con.
Để trở về châu Phi, họ cần phải đi tàu từ cảng Ostia. Tuy nhiên, tại đây, hai mẹ con đã phải dừng lại để chờ tàu đến. Trong thời gian chờ xuống tàu tại Ostia, bà và Augustine đã dành những ngày giờ để cùng nhau đàm đạo sâu sắc về đời sống tâm linh. Một trong những khoảnh khắc ấy chính là sự kiện thường được gọi là “thị kiến Ostia”, được thuật lại trong tác phẩm “Tự Thú” (IX.x.23-27). Augustine đã viết:
“Bà và tôi đứng riêng với nhau, tựa mình bên một khung cửa sổ nhìn ra khu vườn của ngôi nhà chúng tôi đang trọ tại Ostia… Chúng tôi đang trò chuyện riêng tư đầy tâm đắc; và, quên đi những gì ở phía sau để vươn mình tới những gì ở phía trước, … chúng tôi mở rộng lòng mình để đón nhận những dòng suối thiêng liêng từ nguồn mạch của Ngài, nguồn mạch sự sống nơi Ngài ngự trị; để rồi, được tưới gội bởi dòng suối ấy tùy theo khả năng của mình, chúng tôi có thể phần nào thấu hiểu được mầu nhiệm cao cả này. Và khi cuộc đàm đạo đưa chúng tôi đến điểm mà mọi khoái lạc giác quan tột bậc – dù trong ánh sáng vật chất rực rỡ nhất – cũng trở nên chẳng đáng để so sánh, hay thậm chí chẳng đáng để nhắc tới khi đặt cạnh sự ngọt ngào của sự sống ấy, thì chúng tôi – với lòng khao khát mãnh liệt hướng về Đấng Hằng Hữu – đã dần vượt qua mọi sự vật hữu hình, vượt qua cả bầu trời nơi mặt trời, mặt trăng và các vì sao chiếu sáng xuống mặt đất; vâng, chúng tôi còn bay cao hơn nữa nhờ suy niệm nội tâm, nhờ đàm đạo và chiêm ngưỡng các công trình của Ngài. Chúng tôi tìm đến tâm trí mình rồi vượt qua cả nó, để vươn tới vùng đất của sự sung mãn bất tận, nơi Ngài nuôi dưỡng dân Israel đời đời bằng lương thực chân lý, và nơi sự sống chính là Khôn Ngoan, Đấng đã tạo dựng nên muôn loài vạn vật[.]”
Cũng theo tác phẩm “Tự Thú” trong cuộc trò chuyện tại Ostia, Monica đã nói với Augustine rằng bà không còn tìm thấy niềm vui nơi những sự thế gian nữa, bởi lẽ mục đích cuộc đời bà – là được thấy con trở thành một Kytô hữu Công Giáo – đã được hoàn tất. Khi lâm chung, bà dặn dò các con: “Hãy an táng thân xác mẹ ở bất cứ đâu và đừng bận tâm lo lắng về nó. Mẹ chỉ xin các con một điều duy nhất: hãy nhớ đến mẹ nơi bàn thờ Chúa, dù các con có đang ở bất cứ nơi đâu.”
Thánh Monica qua đời ngày 27 tháng 8 năm 387, hưởng dương 56 tuổi. Bà được an táng tại nơi ngày nay là Ostia Antica, trong nhà thờ Sant’Aurea – có lẽ là một vương cung thánh đường Kytô giáo thời sơ khai nằm cạnh một khu nghĩa trang cổ.
Mẫu gương người vợ và người mẹ:
Trong đời sống thường ngày, việc tìm được một người phụ nữ có tài, có sắc, có học thức và địa vị tuy khó nhưng không phải là không có. Nhưng tìm được một người vợ, người mẹ đẹp, tài đức vẹn toàn thì rất khó, và Thánh Monica chính là con người ấy. Sự thánh thiện, lòng nhiệt thành và trung thành với trách nhiệm của một người vợ và người mẹ khi phải đối diện với những thử thách đến từ chồng, con và những người thân yêu của thánh nữ chính là bài học, lời mời gọi và sự khích lệ đối với nữ giới. Dù là ai đi nữa. Dù làm gì đi nữa, sứ mạng cao cả nhất, vỹ đại nhất của người phụ nữ vẫn là làm vợ và làm mẹ. Chu toàn tốt sứ mạng ấy, họ sẽ là những phụ nữ được lưu danh muôn thủa.
_________
Tài liệu tham khảo:
1. St. Monica, Mother of St. Augustine, Bishop
https://www.vaticannews.va/en/saints/08/27/st–monica–mother-of–st–augustine–bishop.html
2.St. Monica’s Story
https://millionsofmonicas.com/st-monica/
3. Wikipedia, the free encyclopedia