Gieo gì hôm nay?

0

gieo gi hom nay

Chúng ta đang đứng trước kỷ nguyên mới với những thay đổi lạ lùng, tuyệt diệu của nền văn hóa, kĩ thuật luôn chuyển mình, thách thức con người tiến bộ hơn nữa, đồng thời cũng là một kỷ nguyên vô cùng phức tạp và bất ổn, đe dọa con người tự hủy diệt mình và hủy diệt lẫn nhau, bằng hận thù, chiến tranh, khoa học kĩ thuật và cả thực phẩm do chính con người tạo ra. Mỗi ngày trên các trang báo và mạng Internet, chúng ta thường đọc thấy biết bao tai nạn thảm khốc, nạn bạo hành trẻ em và phụ nữ; tệ nạn xã hội tràn lan như lạm dụng tình dục, giết người, nghiện hút, rượu chè, cờ bạc, tham nhũng,  … xảy ra từng phút giây. Đó là một thực trạng đau lòng báo hiệu một thế giới đang tự hủy hoại mình. Tình trạng mất cảm thức về tội, về tình thương yêu đồng loại có lẽ cũng tương tự như vậy, cho đến khi người ta thấy phạm tội và sống theo bản năng thì dễ chịu hơn nhiều, tự do hơn nhiều.

Trước những cơ hội và thách đố đó, hẳn sẽ là vấn đề nan giải cho chúng ta – những người có khả năng “đánh thức thế giới”[1]. Chúng ta sẽ phải làm gì, gieo gì cho con người, xã hội hôm nay? một xã hội như đang lôi kéo và gây áp lực trên chúng ta bởi vô số những đòi hỏi độc đoán, một thế giới đang ngủ mê trong bóng đêm mịt mù. Dù thế nào chăng nữa, chúng ta cũng phải ra khỏi nơi an toàn của mình, can đảm “chèo ra những chỗ sâu để thả lưới”[2]. Đó là sứ vụ của chúng ta, những người được tuyển chọn và thánh hiến cho công cuộc loan báo Tin Mừng Nước Trời, như Giáo Hội khẳng định trong Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến: “Sứ vụ của người thánh hiến là trở nên chứng tá của Chúa Ki-tô cho thế giới. Họ được gọi để cộng tác một cách hữu hiệu vào sứ vụ của Chúa Giê-su Ki-tô và đóng góp cách đặc biệt cho sự canh tân thế giới…”[3].

Hành trình lên đường không hề đơn giản, trái lại đầy những khó khăn hiểm nguy. Thách đố lớn nhất đối với chúng ta là sự cảm thức thần linh dường như bị chai lì trong tâm hồn con người, họ không còn biết đến tình yêu thương, đến Thiên Chúa, nên dù họ “có mắt mà không nhìn, có tai mà không nghe”[4].

Vậy, để chia sẻ những cảm nghiệm về Thiên Chúa cho anh em mình, chúng ta cần chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết để ra đi tung gieo Niềm Hi Vọng, Bình An, Hiệp Nhất và Lòng Xót Thương cho một thế giới đầy bất an, thất vọng, chia rẽ, ích kỉ và hận thù hôm nay.

HI VỌNG

Nếu ai đã từng đi trong cảnh đêm đen hẳn sẽ khát khao biết bao một đốm lửa dù là hiu hắt le loi, đốm lửa có thể không soi tỏ bước chân của người lữ khách nhưng chắc chắn sẽ nhóm lên một tia hi vọng, ấm áp, một dấu hiệu đầy niềm vui cho người đang lạc bước giữa đêm đen mịt mù. Nhân loại hôm nay cũng đang trải qua đêm đen như thế, một đêm đen vắng bóng Thiên Chúa. Nhưng trớ trêu thay là đa số người trong đoàn lữ hành kia không nhận ra tình trạng tối tăm của mình, họ mê thích bóng đêm hơn ánh sáng, họ không thấy cần phải có ánh sáng vì họ đã quen với bóng đêm, bóng đêm thì dễ chịu hơn, huyền bí hơn. Và trong đêm đen, mọi thứ xung quanh họ đều giống nhau.

Với những người thất bại, họ không tìm thấy lối thoát và đi vào con đường cùng của thất vọng, bế tắc, họ tìm đến cái chết hay buông thả đời mình trôi vô định.

Với những người được gọi là thành công thì đêm đen chính là cuộc sống của họ, ánh sáng từ hào quang của thành công ấy tỏa ra soi sáng chính họ; tiền của, địa vị, danh tiếng, tình yêu đam mê,…chính là lẽ sống của họ. Họ có thể làm được nhiều kì tích trong mọi lãnh vực cuộc sống mà không cần đến Thiên Chúa. Họ có thể thâm nhập và khám phá các vệ tinh ngoài trái đất; Có thể sinh con dù hiếm muộn hay bất cứ lý do gì; Có thể biến đổi giới tính con người; Có thể làm giả thành thật và ngược lại. Tóm lại họ có thể ngồi một chỗ mà vẫn điều khiển được thế giới; Con người đâu cần mơ một cuộc sống nào hoàn hảo hơn thế nữa vì mọi thứ đã có trong tầm tay. Họ không cần tin tưởng ở đâu ngoài trí tuệ siêu việt của con người. Nếu có hi vọng thì họ sẽ hi vọng con người một ngày nào đó có thể bá chủ địa cầu.

Vâng, nếu có một thứ “Ánh sáng” thuộc về thần linh, một thứ “Ánh sáng” khác với ánh sáng mà nhân loại đang kiếm tìm thì chắc chắn con người sẽ nhận ra tình trạng của mình. Vì thế thách đố lớn nhất và duy nhất của người thánh hiến là làm sao có thể nói cho thế giới biết tình trạng tăm tối của mình; biết những giá trị trần thế là phù du và chưa phải là cứu cánh đời mình. Nền móng để xây dựng niềm hy vọng vững bền là chính Thiên Chúa, thể hiện qua Đức Kitô. Bởi chưng, Thiên Chúa là nền tảng của hy vọng và cùng đích của con người, chỉ có trong Ngài, con người mới tìm thấy sự sống và hạnh phúc đích thật, vững bền và viên mãn.

Chúng ta – những người thánh hiến không thể làm những kì công vật chất vĩ đại hơn thế giới đã làm, nhưng chúng ta có thể xây những giá trị tinh thần lớn lao hơn nhiều qua chính đời sống dâng hiến của chúng ta cho Thiên Chúa, bằng việc cam kết sống 3 lời khuyên Phúc âm (trong chiều kích trọn vẹn thanh khiết, hy tế vâng phục và thanh thoát với vật chất); về cuộc sống yêu thương huynh đệ và sự dấn thân phục vụ vô vị lợi.

Nói như thế không có nghĩa là chúng ta dửng dưng trước cuộc sống trần thế và những thành tựu mà con người mang lại. Nhưng để con người biết hướng tới cùng đích thật là Thiên Chúa đang khi xây dựng cuộc đời mình nơi dương thế.

 Vâng, “thà thắp lên một ngọn nến còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng đêm” (Peter Benenson) và “Kẻ nào tỉnh thức chờ đợi những lời Đức Kitô hứa được thực hiện thì cũng có khả năng thông truyền niềm hy vọng cho anh chị em mình, những người thường bị nản chí và bi quan trước tương lai”[5].

Để thông truyền hy vọng, chúng ta hãy là những người sống niềm hy vọng.“Ánh sáng” hy vọng của người thánh hiến sẽ quy tụ và dẫn lối cho con người đến với Thiên Chúa.

BÌNH AN

Thế giới ngày nay có quá nhiều bất an, bất an không chỉ ở nơi công sở, ngoài đường đi, trong phố chợ,… mà còn ngay trong chính ngôi nhà của mình. Con người đặt sự an nguy của mình vào sức mạnh cơ bắp, đồng tiền và thế lực. Kẻ nào có sức, có tiền, có thế thì được yên ổn, được bảo vệ còn kẻ yếu thế thì không những cuộc sống bấp bênh mà còn bị đe dọa và nguy hiểm tứ bề. Song, thế giới tạm này có thể đáp ứng được những khát vọng của con người về của cải, địa vị, danh tiếng, thậm chí tình yêu nhưng không thể mang lại bình an đích thật vĩnh cửu cho họ.

Người thánh hiến không thể hiện những giá trị đó, sự hiện diện của họ mang chiều kích nội tại, là dấu chỉ của sự bình an đích thật được kín múc từ nơi Thiên Chúa trong Đức Giêsu, vì Ngài là “sự bình an của chúng ta”[6] – Đấng luôn bất chấp mọi hiểm nguy để mang lại sự chữa lành, hạnh phúc, sự sống cho con người. Vì thế, Đức Thánh Cha Phanxico kêu gọi người thánh hiến phải dám ra khỏi chính mình, khỏi nơi an toàn của mình để cảm nếm cuộc sống bấp bênh của người nghèo, đối diện với những thách đố, hiểm nguy để có thể chia sớt, cảm thông, yêu thương, chữa lành, an ủi anh em mình. Chính khi chúng ta thực hiện hành vi dấn thân đó, chúng ta mới có thể kín múc được nguồn bình an đích thực, bình an trong vết thương nơi cạnh sườn của Giêsu, chứ không phải bình an nhờ then cài cẩn thận trong ngôi nhà đóng kín như các môn đệ ngày xưa[7].

Như vậy, bình an thật sự không hệ tại ở hoàn cảnh yên ổn nhưng là trong tâm hồn. Vì  sự bất an bên ngoài, đôi khi chúng ta có thể né tránh được nhưng còn bất an trong lòng người thì không ai có thể mang lại cho chúng ta ngoài Thiên Chúa. Bình an khi vui sướng là bình thường, chúng ta được mời gọi sống điều phi thường, nghịch lý ngay trong những trái ý, phiền muộn luôn thường trực trong đời sống hằng ngày của chúng ta.

Là môn đệ Chúa thì phải có sự bình an vì chúng ta không thể gieo Tin mừng bình an cho người khác nếu trong lòng không bình an, chúng ta không thể chia trao cho người khác điều mà chúng ta không có. Chúa Giêsu sẵn sàng ban ơn bình an cho chúng ta, ban trước khi chúng ta cầu xin, nhưng ơn bình an chỉ sinh hoa trái khi chúng ta dám vượt qua nghi nan, dám chạm vào những vết thương của Thầy Chí Thánh Giêsu, dám để mình mang thương tích như Thầy[8]. Mặt khác chúng ta không thể tự tạo bình an cho mình nhưng phải cậy nhờ ơn Chúa để có thể đón nhận những mất mát, sợ hãi, bấp bênh của phận người với niềm tin tưởng phó thác tuyệt đối vào Chúa.

Vì thế cần biết bao chứng từ của người có niềm tin và mang bình an của Chúa. Chính Chúa cũng luôn đề cao sự bình an khi căn dặn các môn đệ trước khi sai các ông đi rao giảng: “Vào nhà nào anh em hãy chúc bình an cho nhà ấy.”[9] vì sự bình an chính là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa. Rao giảng là căn tính của người môn đệ nhưng sự bình an là giấy thông hành giúp chúng ta đến gần với anh chị em mình. Có khi chúng ta chẳng cần nói gì nhiều nhưng mọi người sẽ cảm nhận được sự bình an lan tỏa từ tâm hồn, trong thái độ ứng xử yêu thương của chúng ta. Trước hết và trên hết, Ơn Bình An là một mối phúc lành mà Chúa Giêsu ban cho hết mọi người trong sứ vụ loan báo Tin Mừng “Bình an cho anh em, như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”[10]. Vậy nên chúng ta đừng quá băn khoăn về hành trang của mình như kiến thức, kĩ năng chuyên môn,… nhưng trước hết và cần thiết hơn cả phải là người Môn Đệ Bình An để có thể làm chứng về Thiên Chúa – Vua Bình An trong cuộc sống nhiều bất an hôm nay.

HIỆP NHẤT

Lịch sử Kinh Thánh ngay từ đầu đã cho thấy từ khi ông bà Nguyên Tổ phạm tội bất tuân với Thiên Chúa, mầm mống sự tội bắt đầu xuất hiện trên trái đất: con rắn cám dỗ, loài người phạm tội và đổ lỗi cho nhau[11]. Sự chia rẽ bắt đầu[12] và tiếp tục chế ngự cuộc sống con người cho đến hôm nay, hình thành nên một xã hội ngày càng đề cao tự do – cá nhân chủ nghĩa. Những tai nạn, đổ vỡ, ly tán và chiến tranh cũng là nguyên nhân của sự chia rẽ, bất đồng, ích kỷ gây nên.

Thiên Chúa Cha đã sai Chúa Giêsu – Con Một yêu dấu của Ngài xuống thế gian để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối.[13] Chính Chúa Giêsu cũng đã cầu nguyện rất nhiều cho sự hiệp nhất của các môn đệ – nền tảng của Giáo Hội: “Xin cho họ tất cả được nên một; lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để họ cũng ở trong Chúng Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con”[14]. Và Ngài thiết lập một Hội Thánh duy nht, bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi, phản ánh mầu nhiệm của sự hiệp nhất và hiệp thông trọn vẹn trong Ba Ngôi. 

 “Đời sống huynh đệ thánh hiến, hiểu như là một đời sống chia sẻ trong tình yêu, là một dấu chỉ hùng hồn về sự hiệp thông Giáo Hội”[15] cho con người ngày nay, bởi “đời sống huynh đệ tuyên xưng Chúa Cha, Đấng muốn cho mọi người thành một gia đình duy nhất; tuyên xưng Chúa Con Nhập Thể, Đấng muốn qui tụ những người được cứu chuộc; tuyên xưng Chúa Thánh Thần là nguyên lý hiệp nhất trong Giáo Hội[16]. Hơn nữa, khi Chúa Thánh Thần thúc đẩy và quy tụ một số người từ khắp nơi trong một cộng đoàn thánh hiến, cho thấy họ có khả năng hiệp nhất những khác biệt đa dạng và cùng nhau loan báo Tin mừng Nước Chúa. Họ được Thiên Chúa phú ban những đặc sủng để trở nên “những chuyên viên về sự hiệp thông và thực hành linh đạo hiệp thông”[17], và “mở rộng sự hiệp thông tới toàn thể nhân loại”. Qua nếp sống này “Giáo Hội ký thác cho các cộng đoàn sống đời thánh hiến một nhiệm vụ đặc biệt: phát triển linh đạo hiệp thông trước tiên trong chính cộng đoàn của họ, sau đó trong cộng đồng Giáo Hội và ngoài Giáo Hội, bằng cách kiên trì theo đuổi cuộc đối thoại bác ái, nhất là tại những nơi mà nhân loại ngày nay đang bị xâu xé bởi hận thù chủng tộc hay bạo lực man rợ.”[18]

Để sống chứng tá hiệp nhất yêu thương, mỗi người người thánh hiến phải cảm nghiệm tình yêu của Chúa Ba Ngôi dành cho nhân loại qua mầu nhiệm cứu chuộc của Chúa Giêsu, cảm nghiệm tình huynh đệ cộng đoàn là ân huệ Chúa ban, đồng thời ý thức được vai trò cao quý của đời thánh hiến và sự ủy thác của Giáo Hội để có thể xây dựng nếp sống chứng tá yêu thương ngay trong chính cộng đoàn của mình, và cho sự hiệp nhất của tất cả các Kitô hữu. Chớ gì lời cầu nguyện hiệp nhất của Chúa Giêsu được sáng lên trong đời sống của những cộng đoàn thánh hiến và lan tỏa đến những người xung quanh chúng ta.

LÒNG XÓT THƯƠNG

Những năm gần đây, chúng ta thường đọc thấy trên các trang báo mạng những tin rất đau lòng xảy ra tại đất nước Trung Quốc, con người giết hại nhau bằng nhiều cách hay làm ngơ trước nỗi đau, trước sự lâm nguy của đồng loại mình. Có lẽ không chỉ ở Trung Quốc nhưng còn ở Việt Nam và rất nhiều nước trên thế giới ít nhiều cũng rơi vào cách sống như thế. Con người sẵn sàng loại trừ, hạ bệ nhau để dành phần lợi cho mình. Đâu đó lòng thương xót chỉ như ánh lửa yếu ớt trong đêm tối. Nhưng phải chăng, chính khi lòng thương xót càng ít đi thì chứng từ yêu thương càng trở nên cần thiết hơn nữa. Khi chủ nghĩa cá nhân và lợi nhuận tăng lên thì tính vị tha và lòng nhân ái sẽ như những ánh lửa ấm áp sưởi ấm màn đêm băng giá của con người vị kỉ hôm nay.

Vì thế, chứng từ yêu thương, cảm thông, tha thứ, lòng nhân ái cần được sáng lên nơi những người thánh hiến. Thế giới bạo lực, điên đảo cần được xoa dịu bởi những cánh tay nối dài của Thiên Chúa.

Nhưng làm sao có thể yêu thương người khác khi chúng ta không để cho Thiên Chúa lay động và biến đổi trái tim chúng ta?

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải hư mất nhưng được sống muôn đời”[19]. Lòng thương xót của Thiên Chúa Cha lớn hơn mạng sống của người Con Một yêu dấu. Chúng ta chỉ thực sự cảm nhận được tình yêu của Chúa khi chúng ta thấy mình được yêu không điều kiện, khi Chúa dường như che lấp những lỗi tội chúng ta, Chúa đến kịp lúc khi chúng ta không có chỗ nào để cậy dựa. Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta, thì đến lượt chúng ta cũng phải yêu thương anh em mình. Nhưng thực tế, con đường yêu thương không dễ đi, nếu tình yêu ấy không xuất phát từ việc cảm nhận được Thiên Chúa thương xót, yêu thương, hi sinh mạng sống vì chúng ta. Điều khó khăn là chúng ta khó thi hành việc đáp trả tình yêu Chúa qua người anh chị em mình, vì những yếu đuối và khuyết điểm của người đó cản trở chúng ta. Lúc đó chúng ta lại để cho cái tôi làm chủ, lòng thương xót của chúng ta nảy sinh điều kiện với đối phương. Tôi sẽ giúp họ khi họ tử tế với tôi, khi họ kính trọng, yêu mến và biết ơn tôi. Còn không thì họ phải ngỏ lời với tôi, hạ mình xuống với tôi,… Nhưng “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có ân nghĩa gì đâu? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng[20].  Có lẽ Chúa muốn chúng ta cần vượt lên trên những điều tự nhiên, bình thường để sống được tinh thần Chúa muốn ta sống. Ngài mời gọi chúng ta thực hiện lòng thương xót mà không cần điều kiện, yêu thương bằng hành động cụ thể: là làm ơn, là chúc lành, là cho vay, là cầu nguyện điều lành cho kẻ thù[21]. Điều này chẳng dễ dàng chút nào thậm chí quá khó khăn vì nó đòi ta vượt lên trên cái tự nhiên, suy nghĩ tự nhiên, tình cảm tự nhiên, phản ứng tự nhiên để sống theo Tin Mừng. Thực sự khó khăn để nở một nụ cười, chào hỏi một người làm chúng ta đau khổ. Nhưng chúng ta được mời gọi sống điều nghịch lý đó để biểu lộ đức tin của người Kitô hữu, của những người mạnh mẽ không phải nhờ cơ bắp, kiến thức, lý lẽ hay ăn miếng trả miếng, nhưng là nhờ sức mạnh của Chúa hướng dẫn qua cách hành xử nhẫn nại, bao dung. Cũng vậy, mọi việc làm chỉ có giá trị khi xuất phát từ lòng yêu mến Chúa. Nếu không, lòng thương xót đó sẽ cạn khi chúng ta không còn hứng thú, khi hoàn cảnh không thuận tiện, khi đối tượng được giúp đỡ không làm chúng ta hài lòng nữa, …Chúng ta chỉ có thể loan báo Tin mừng khi chúng ta yêu mến Thiên Chúa vì “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy”[22].

Thế giới ngày nay thực sự đói khát tình yêu thương, sự hiện diện và cuộc sống của người tu sĩ cần thiết hơn bao giờ hết. Con người cần người tu sĩ có trái tim yêu thương hơn là những lời giảng dạy hấp dẫn, vì tình thương yêu thì có sức lay động và biến đổi sâu xa hơn cả như câu nói của W. Got: “Trước trí tuệ vĩ đại tôi cúi đầu nhưng trước một trái tim vĩ đại tôi quỳ gối”. Thế giới văn minh có thể làm cho người ta tồn tại trên tiện nghi vật chất nhưng chính tình yêu thương, hi vọng mới làm cho người ta sống hạnh phúc thật trong Thiên Chúa.

***

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít, vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”[23] Lời kêu mời tha thiết của Chúa Giêsu cũng là lời thúc bách chúng ta – những thợ gặt được Thiên Chúa tuyển chọn, cũng hãy hân hoan ra đi tung gieo Tin mừng hiệp nhất yêu thương, hi vọng, bình an cho trần gian, như lời của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo II trong Tông huấn Đời sống Thánh hiến: Bổn phận đầu tiên của đời thánh hiến là làm hiển hiện những kỳ công Thiên Chúa thực hiện nơi nhân tính mỏng dòn của những kẻ được Người kêu gọi. Họ làm chứng về những kỳ công không bằng lời nói cho bằng ngôn ngữ hùng hồn của một cuộc sống đã được biến hình đổi dạng, có khả năng làm cho thế giới phải ngạc nhiên. Đứng trước sự kinh ngạc của loài người, họ đáp lại bằng cách loan báo những kỳ công Thiên Chúa thường thực hiện nơi những kẻ Người yêu thương….Như thế đời sống thánh hiến trở thành một trong những dấu vết hữu hình mà Thiên Chúa Ba Ngôi để lại trong lịch sử, để cho loài người có thể nhận ra được sức hấp dẫn của vẻ đẹp thần linh và lưu luyến nó.[24]

Cát Biển Xanh, OP

——–

[1] Trích trong thư gửi các tu sĩ nhân dịp năm Đời Sống Thánh Hiến 2014 của Đức Thánh Cha Phanxicô

[2] x. Lc 5,4

[3] Vita Consecrata – Tông huấn đời sống thánh hiến của ĐGH Gioan Phaolo II, số 25.

[4] x. Mt 13,14-15

[5] Vita Consecrata – Tông huấn đời sống thánh hiến của ĐGH Gioan Phaolo II, số 27

[6] Ep 2,14

[7] x. Ga 20,19

[8] x. Ga 20,20

[9]  Mt 10,12

[10] Ga 20,21

[11] x. St 3

[12] x. St 4

[13] x.Ga 11, 52

[14] Ga 17,21

[15] Vita Consecrata – Tông huấn đời sống thánh hiến của ĐGH Gioan Phaolo II, số 42

[16] Vita Consecrata – Tông huấn đời sống thánh hiến của ĐGH Gioan Phaolo II, số 21

[17] Vita Consecrata – Tông huấn đời sống thánh hiến của ĐGH Gioan Phaolo II, số 46

[18] Vita Consecrata – Tông huấn đời sống thánh hiến của ĐGH Gioan Phaolo II,  số 51

[19] Ga 3,16

[20] Lc 6, 32-34

[21] x.Lc 6, 27-28

[22] 1 Ga 4:20

[23] Lc 10, 2

[24] Vita Consecrata, – Tông huấn đời sống thánh hiến của ĐGH Gioan Phaolo II, số 20

Comments are closed.