Sống Đức Ái theo Thánh Đaminh

0

SỐNG ĐỨC ÁI THEO THÁNH ĐAMINH

78

Đọc hạnh các thánh, mỗi vị đều có những nét thánh thiện độc đáo khác nhau, điều đó khiến cho ai biết đến cũng cảm thấy yêu mến, khâm phục và ước ao nên giống các ngài. Thánh Đaminh, một trong những vị thánh sống vào thế kỷ XIII, cũng không thiếu những nét thánh thiện phi thường, đặc biệt là đức ái. Đức ái theo thánh Đaminh bao gồm hai việc làm một trật là “mến Chúa, yêu người”. Đây cũng chính là luật truyền của Chúa (x. Dt 6,5; Mc 12,31), là giới răn trọng nhất và quan trọng nhất Thánh Đaminh đã sống và thực hành. Vậy ngài đã thực hành đức ái như thế nào? Các nhân chứng trong Dòng của ngài sẽ cho thấy rõ hơn về nhân đức này.

1. Thánh Đaminh “mến Chúa”

Nhìn vào đời sống của thánh Đaminh, ta thấy ngài có nhiều sáng kiến trong việc thực hành nhân đức “ái”. Trước hết, để kính mến Chúa, thánh Đaminh chuyên cần cầu nguyện, suy niệm mầu nhiệm kinh Mân côi và hy sinh hãm mình.

a. Chuyên cần cầu nguyện

Vì muốn nên giống Chúa Giêsu, thánh Đaminh đã tạo cho mình mối tương quan thân tình với Thiên Chúa qua việc cầu nguyện. Ngài cầu nguyện không ngừng: trong nhà nguyện tu viện, trong phòng riêng hoặc ngay cả khi đi đường cha cũng cầu nguyện. Các anh em trong Dòng đều quả quyết rằng: cha Đaminh vẫn có tinh thần cầu nguyện cao siêu. Ngài chỉ biết than thở với Thiên Chúa, rồi lại nói với người ta về Thiên Chúa (contemplate aliis tradere).[1]

Kinh nghiệm này ngài đã học từ thánh Phaolô: “Anh em hãy dùng mọi lời  kinh … mà cầu nguyện luôn mãi” (Eph 6,18) và lời dạy của Chúa Giêsu: “Ai yêu mến Thầy, thì giữ lời Thầy” (Ga 14, 23), nên ngài không bao giờ rời cuốn Phúc âm và các thư của Thánh Phaolô. Mục đích của ngài không phải chỉ để “giữ” Lời của Chúa, mà để thấu hiểu Lời Chúa, được Lời Chúa biến đổitruyền thông Lời Chúa cho mọi người.

Đặc biệt trước Thánh Thể,[2] trong thinh lặng và đêm thanh vắng, Cha Đaminh tỏ bày niềm vui nỗi buồn một cách tự nhiên, sốt sắng trong tâm tình khiêm tốn, được diễn tả bằng nhiều cử chỉ khác nhau. Chân phước Jordano, người chứng kiến thánh Đaminh cầu nguyện, kể lại rằng: “Ngài thường cầu nguyện ban đêm, cầu nguyện cho các tội nhân, cho người nghèo và người sầu khổ, cảm thông với họ tận đáy lòng và biểu hiện ra bên ngoài bằng cả những dòng nước mắt. Có khi giữa đêm thanh vắng, ngài lớn tiếng kêu nài “Chúa ơi! Rồi đây các tội nhân sẽ ra sao?”[3]. Lời cầu nguyện của thánh Đaminh chứng tỏ ngài không chỉ là bạn thân tình của Thiên Chúa, mà còn yêu thương hết mọi người không phân biệt đối xử.

b. Suy niệm và truyền bá kinh Mân Côi

Tình yêu dành cho Chúa còn thúc đẩy cha Đaminh suy niệm các mầu nhiệm Kinh Mân Côi. Đây là lời cầu nguyện tóm tắt toàn bộ cuộc đời của Chúa Cứu Thế, nhờ sự cộng tác đặc biệt của Mẹ Maria trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Nhiều tác giả cho biết: Các mầu nhiệm ấy được Đức Mẹ giải thích và dạy cho cha Đaminh rao giảng, nên cha không chỉ suy niệm mà còn sống các mầu nhiệm ấy để tôn sùng Mẹ Thiên Chúa. Nhờ đó, toàn thể nhân loại được thừa hưởng lòng từ bi nhân hậu của Chúa, và được lãnh nhận các ơn trợ giúp khi cần.

Mẹ hứa với cha Đaminh: “Nếu con và giáo dân cầu nguyện theo phương pháp này, thì những lời cầu nguyện sẽ kết thành triều thiên dâng kính Mẹ và Mẹ sẽ tình nguyện đứng ra làm môi giới xin Con Mẹ tiêu huỷ những ngụy thuyết đang đầu độc thế giới lúc này; Mẹ sẽ xin được ơn tha thứ mọi tiền khiên, sẽ chiếu rọi ánh sáng đức tin để soi dẫn con đường vinh quang cho đến khi tới nước thiên đàng. Con hãy truyền bá sâu rộng kinh Mân Côi, kinh đó sẽ đem lại ơn cứu độ cho các linh hồn. Chính Mẹ sẽ đứng ra bảo đảm lời con nói bằng nhiều phép lạ cả thể”[4]. Quả thật, Thánh Đaminh đã thành công trong việc rao giảng nhờ suy niệm Kinh Mân Côi. Kinh Mân côi chính là chiến cụ thiêng liêng mới, giúp thánh nhân thu phục nhân loại trở về với Chúa.

c. Hy sinh hãm mình

Càng mến Chúa bao nhiêu, Thánh Đaminh càng khao khát được chịu đau khổ bấy nhiêu. Ngài thực hành lời mà thánh Phaolô đã nói: “Không đổ máu, thì không có ơn tha thứ” (Dt 9,22), nên ban ngày cha đi giảng, còn ban đêm, người vào hang đá Segovia đánh tội mỗi đêm ba lần cho đến khi máu chảy ra, để đền tội riêng của mình, đền tội cho kẻ khác và cầu xin cho các linh hồn nơi luyện ngục.[5] Có khi ngài còn truyền cho một anh em trong Dòng cầm roi sắt đánh cho đau đớn.[6] Ngài hy sinh hãm mình phạt xác mục đích là để chuộc tội cho các linh hồn.

Ngoài ra, ngài còn chịu những lời phản đối, sỉ nhục phỉ báng chua cay và khinh chê vì danh Chúa Giêsu, cũng là để cầu cho các linh hồn. Thậm chí có lúc ngài cảm thấy mình chưa xứng đáng để được những ơn ấy, nên ngài nói với họ: “Nếu tôi phải lọt tay các anh, thì yêu cầu đừng giết tôi ngay, trái lại, hãy băm xác tôi ra trăm mảnh, xẻo tai, cắt mũi, móc mắt tôi ra, đoạn để tôi nửa sống nửa chết tùy ý các anh!”

Sự can đảm của thánh Đaminh chứng tỏ lúc nào ngài cũng sẵn lòng in các vết thương của Chúa Cứu Thế vào thân xác mình, vì biết rằng, chỉ như thế mới đem lại ơn cứu độ cho các linh hồn.[7] Gương hy sinh của thánh Đaminh có thể nói như thánh tông đồ Phaolô: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1, 24). Thánh Đaminh yêu mến Chúa bao nhiêu, thì tình yêu dành cho tha nhân cũng không kém hơn để thực thi đức ái hoàn hảo.

2. Thánh Đaminh “yêu người”

Mọi hành vi của thánh Đaminh đối với tha nhân xuất phát từ một tâm hồn nhiệt thành yêu mến Chúa và được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần. Vì vậy, ngài nhạy bén với những đau khổ của tha nhân, dùng cách giảng dạy chân lý để đưa các tâm hồn lầm lạc trở về với Chúa.

a. Nhạy bén trước đau khổ của người nghèo

Thật cảm động khi người anh em là Stêphanô kể lại trong vụ án phong thánh của thánh Đaminh rằng: Trong thời gian thánh Đaminh còn theo Đại học Palencia, gặp nạn đói hoành hành khắp vùng, thánh Đaminh động lòng trắc ẩn trước những đau khổ của người nghèo. Rồi sau đó, ngài tìm cách để giúp đỡ họ, nhưng không có gì đáng giá ngoài cuốn sách do tay ngài biên soạn và trân quí nó như một báu vật. Thế mà ngài cũng bán luôn cuốn sách đó cùng với những vật dụng khác để giúp người nghèo. Ngài còn nói: “Tôi không muốn học trên những tấm da chết, trong khi có những người đang chết vì đói.”[8]

Sự nhạy cảm trước đau khổ của tha nhân chính là đặc tính sâu sắc, chi phối toàn bộ cuộc đời của thánh Đaminh. Ngài đã vận dụng bằng mọi khả năng, tài trí và sự khôn ngoan của mình để thực thi đức ái đối với mọi người. Ngoài việc cứu vãn tình thế cay nghiệt của nạn đói trong vùng, ngài còn giải thoát nhiều người khỏi cảnh đau khổ, bần cùng về thể xác cũng như tinh thần. Thậm chí khi không có gì để cho, ngài cũng tự bán mình làm nô lệ để chuộc người thanh niên nghèo túng sắp bị bán làm nô lệ cho quân rối đạo.[9]

Nhờ tính nhạy cảm mà thánh nhân có một cuộc sống chan hoà, gần gũi, cảm thông chia sẻ với mọi người, nhất là những người nghèo và đau khổ. Lòng thương xót đó của thánh nhân xuất phát từ lòng thương cảm của chính Chúa Giêsu mà Ngài kín múc từ dưới chân thập giá.[10] Chân phước Giordano de Saxe mô tả những nét đẹp của thánh Đaminh với những lời sau đây: “Thánh Đaminh đón nhận mọi người với lòng bác ái bao la, và bởi vì thánh nhân yêu mến mọi người, nên được mọi người yêu mến. Người có luật riêng cho mình là vui với người vui, khóc với người khóc, đầy lòng thương cảm và tận tâm lo cho người khác, đồng chịu nỗi khổ đau với người khác.”

b. Giảng dạy chân lý để bênh vực Giáo Hội và cứu các linh hồn

Sống vào thời điểm Giáo Hội gặp nhiều khó khăn như sự xuất hiện của các bè rối gieo rắc đạo lý sai lạc, làm mất đức tin nhiều tâm hồn, giáo sĩ mất uy tín, Giáo Hội bị khủng hoảng trầm trọng … nên giải pháp mà thánh Đaminh cần làm bấy giờ là hăng say rao truyền chân lý để bênh vực đức tin và quyền bính của Hội Thánh.[11]

Trong chuyến tháp tùng Đức giám mục Diego đi Đan Mạch năm 1203, cha Đaminh hết sức đau lòng trước cảnh các tín hữu bỏ Giáo Hội để theo nhóm Cathares. Và đêm đầu tiên tại quán trọ, cha Đaminh đã thức trắng, để tranh luận và thuyết phục người chủ quán bỏ bè rối trở về chính đạo. Qua đó, ngài cảm thấy sự cần thiết của việc giảng thuyết cho người Cathare, và khám phá ra Thiên Chúa luôn hiện diện trong mọi vấn đề liên can đến cuộc sống của con người, ở đó có sự quyết định vận mệnh con người sẽ nên tốt hay ra xấu. Vì vậy, lúc nào cha cũng cầu xin cho mình được lòng bác ái đích thực để mưu tìm và chăm lo phần rỗi của mọi người cách hữu hiệu. Cha nghĩ rằng, chỉ khi nào mình noi gương Chúa Cứu Thế, hiến thân hoàn toàn để cứu rỗi các linh hồn, thì mới thực sự trở thành chi thể của Chúa. Viện phụ Guillaume de Pierre, một chứng nhân cùng thời cho biết: “Cha Đaminh khao khát mãnh liệt ơn cứu rỗi các linh hồn … hăng say rao giảng ngày đêm, trong nhà thờ, nơi nhà riêng, giữa cánh đồng và ngay trên đường đi.” Thánh Đaminh quả là một con người can đảm, dám làm chứng cho Đức tin để bảo vệ Giáo Hội và mưu cầu lợi ích cho các linh hồn.

Cuộc sống của thánh Đaminh quả thực sáng ngời về các nhân đức, mà nổi bật nhất là đức bác ái. Ngài không chỉ yêu Chúa bằng sự kết hợp liên lỉ với Người, mà còn họa lại chân dung của Chúa Giêsu – Đấng giàu lòng thương xót bằng “tấm lòng vàng” đối với mọi người, để đưa họ trở về làm con Thiên Chúa. Đức bác ái của thánh Đaminh chính là ngọn hải đăng soi chiếu trong thời đại của chúng ta, một thời đại đang bị băng hoại vì cuộc sống vô cảm, dửng dưng với cả con người và coi thường Thiên Chúa. Ước gì mỗi người trong chúng ta, những người con của thánh Đaminh, biết chạnh lòng thương, biết rung động trước nỗi khổ đau của nhân loại và làm chứng về sự hiện diện của Thiên Chúa nhờ năng gặp gỡ Chúa Giêsu – khuôn mặt của lòng thương xót Chúa.

Nt. Maria Phạm Thị Hoa

…………………………………………………………………..

[1] Nguyễn Tri Ân, Thánh phụ Đaminh, đấng sáng lập dòng thuyết giáo, Chân lý 2005, tr. 244; x. Trần Văn Hiến Minh, Thánh phụ Đaminh, Sài Gòn 1971, tr.56.

[2] x. Trần Văn Hiến Minh, Thánh phụ Đaminh, Sài Gòn 1971, tr.41.

[3] x. Nguyễn Tri Ân, Thánh phụ Đaminh, đấng sáng lập dòng thuyết giáo, Chân lý 2005, tr. 246; x. Guy Bedouelle, Thánh Đaminh ân sủng LC, Tủ sách Đại kết 1992, tr. 257.

[4] x. Nguyễn Tri Ân, Thánh phụ Đaminh, đấng sáng lập dòng thuyết giáo, Chân lý 2005, tr. 105-110; x. Trần Văn Hiến Minh, Thánh phụ Đaminh, Sài Gòn 1971, tr. 125-128.

[5] x. Sđd, Nguyễn Tri Ân, tr. 241;  x. Trần Văn Hiến Minh, tr. 59.

[6] x. Nguyễn Tri Ân, Thánh phụ Đaminh, đấng sáng lập dòng thuyết giáo, Chân lý 2005, tr. 239-243.

[7] x. Sđd, tr. 114-116.

[8] x. Trần Văn Hiến Minh, Thánh phụ Đaminh, Sài Gòn 1971, tr. 57.

[9] x. Trần Văn Hiến Minh, Thánh phụ Đaminh, Sài Gòn 1971, tr. 57.

[10] x. Sđd, Trần Văn Hiến Minh, tr. 58.

[11] x. Sđd, Trần Văn Hiến Minh, tr. 151.

Comments are closed.