Giêsu Vua Kitô – Suy niệm CN XXXIV TN, năm C

0

CHÚA NHẬT XXXIV THƯỜNG NIÊN, NĂM C
GIÊ-SU VUA KITÔ

96

LỜI CHÚA: Lc 23, 35-45

Tôi may mắn được dạy giáo lý cho một sinh viên ra trường đã có công ăn việc làm ổn định. Anh rất có trình độ nên việc dạy giáo lý của tôi thật nhẹ nhàng. Khi dạy đến Chúa Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống trần chịu chết trên Thập giá để cứu độ nhân loại. Khi nói về cái chết của Chúa diễn ra thế nào. Anh hỏi tôi: Tại sao Chúa dạy dỗ dân, làm phép lạ chữa bệnh, cho ăn, yêu thương dân như thế mà dân Do thái lại đóng đinh Chúa? Còn đất nước Thái Lan thì họ lại kính trọng vua Bhumibol Adulyadej, một vị vua hết mình lo cho dân nước? Vua băng hà, cả đất nước để tang…?

Tôi đã giải thích cho em theo nghĩa Ki-Tô học và theo lẽ thường tình của thời đó. Tôi biết em chưa hiểu hết những gì tôi nói nhưng hy vọng những bài học kế tiếp và Đức Tin của em tăng trưởng dần trong cầu nguyện, em sẽ cảm nghiệm được màu nhiệm Thập Giá này.

Thật vậy, vua Bhumibol Adulyadej, biểu tượng cho quốc gia Thái Lan đã dâng đời mình lo cho dân nước và được đền ơn cách xứng đáng. Trái lại, Chúa Giê-su cũng là vua nhưng là một vị vua không vương quyền, không ngai vàng, không cung điện, không binh đội, không bờ cõi. Một vị vua nghèo túng và khổ đau, bị lăng nhục, bị nguyền rủa. Mặc dù Chúa Giê-su đã yêu thương dân, thi ân, giáng phúc cho dân nhưng phải chịu cảnh phũ phàng phản bội đến chết. Tại sao lại có những sự nghịch lý này?

Vì, Chúa Giê-su chỉ là vua trên Thập Gía và chỉ vinh thắng trong khổ nhục để có thể cứu chúng ta thoát khỏi gông cùm xiềng xích của tội lỗi. Đây là con đường Chúa Cha đã muốn Ngài đi. Thật khó hiểu đối với lý luận trần gian. Vì như Chúa nói: Như trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ta cũng khác đường lối của các ngươi bấy nhiêu . Anh trộm lành đã đọc được màu nhiệm này nên chính lúc Ngài hấp hối trên thập giá giữa những lời xỉ nhục và thách thức của các thủ lãnh và lính tráng thì tiếng nói của anh trộm lành vang lên. Anh ta chấp nhận hình phạt và tuyên xưng Chúa Giê-su vô tội.

Chính trong trung tâm của sự diễu cợt này mà tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ. Lúc mà một trong những kẻ cướp phỉ báng Chúa Giê-su, thì anh trộm lành đã khiển trách anh: “ Ngươi không kính sợ Thiên Chúa! Ngươi và ta là kẻ cùng bị kết tội! Đối với chúng ta thật là xứng đáng với những gì chúng ta đã làm, còn người này có làm chi nên tội.”

Ngài là Đấng vô tội bị nộp. Đấng vô tội bị đóng đinh. Một tội nhân nhận ra màu nhiệm của Thiên Chúa trên Thập giá. Không có sự lớn lao nào hơn sự lớn lao này là tội nhân, người đầu tiên loan báo Tin Mừng phát xuất từ sâu thẳm lòng mình. Anh đã cảm thấy trong màu nhiệm của Chúa Ki-Tô tất cả sự cứu độ của Thiên Chúa, tất cả tình yêu của Thiên Chúa. Vì tận đáy lòng anh thốt lên lời kêu xin: “ Lạy Ngài, xin nhớ đến tôi khi Ngài khai mở triều đại Ngài.” Và đáp lại, Chúa Giê-Su tuyên bố trịnh trọng: “Thật ta bảo cho ngươi biết, hôm nay ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta.” Không một ai được nghe lời lạ lùng như thế. Thập giá và tội lỗi bộc lộ tình yêu.

Lời kẻ trộm lành đẹp biết bao: “Xin nhớ đến tôi khi Ngài hiển trị.” Lời anh trái ngược với kẻ bên trái: “ Hãy cứu mình và cứu cả chúng ta nữa”. Kẻ trộm dữ thấy không cần hối lỗi, không cần thương xót, không cần tha thứ. Chúa Giê-Su không thể cứu anh nếu anh không sám hối. Mặt trời không thể chiếu soi vào những chỗ bưng bít. Sự tha thứ của Chúa thì có sẵn nhưng phải mở lòng ra để đón nhận. Người trong tình trạng hỗn loạn không thể đón nhận ơn thánh.

Còn người trộm lành, anh ra đi rất nhẹ nhàng. Sau một cuộc đời phạm tội, anh làm một hành vi sám hối rất nhanh và anh đi thẳng về trời. Khi bị treo trên cây gỗ anh đã nhớ lại những việc mình đã làm. Anh thấy một đống tội ngổn ngang: Tôi tội lỗi, hình phạt này thật xứng cho tôi. Chúa Giê-Su, bạn của những người tội lỗi đang ở đó, Ngài đọc được tâm hồn anh. Sự xưng thú của anh đi thẳng vào lòng Chúa Giê-Su,  nên chẳng những anh được tha thứ mà còn được tháp tùng với Chúa về trời. Anh là người đầu tiên được hứa ban Ơn Cứu Độ. Kẻ gian phi lại  là người trước hết được hưởng hoa trái của cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá.

Hai kẻ trộm hôm nay cũng giống như hai người băng qua rừng trong đêm tối trời mưa tầm tã. Người thứ nhất thấy trời mưa, sấm sét, anh nhìn lên trời rồi nguyền rủa. Rốt cuộc anh đã lạc vào rừng sâu. Người thứ hai cúi xuống nhìn đường nhờ những tia chớp và anh đã ra khỏi cánh rừng âm u.

Hai người bộ hành này nhắc chúng ta về hai kẻ trộm cùng bị xử với Chúa Giê-Su. Cả hai họ đều bị bắt trong đêm kinh hoàng, nhưng một trong họ nguyền rủa bóng tối và anh đã chết trong bóng tối. Còn người kia chấp nhận bóng tối đời anh và anh khiêm tốn vươn lên trong sự sám hối.

Anh trộm lành cho chúng ta niềm hy vọng đặc biệt là dù chúng ta tội lỗi với những công việc đen tối, nhưng Chúa Giê-Su có thể làm cho những bóng tối đó trở thành ánh sáng miễn là chúng ta biết mình nghèo nàn và mở bàn tay trống rỗng và trái tim hi vọng cho Chúa cứu.

Chúa Giê-su là vua nhưng là một vua lạ lùng, Ngài đến không phải để chinh phục nhưng là để hoán cải, không phải để thống trị nhưng để giải thoát, không phải để cai trị nhưng là để phục vụ. Ngài chết như một tử tội và cai trị trên Thập giá. Tất cả chúng ta có thể nói như thánh Phao-lô: “ Cám ơn Chúa, Đấng đã dẫn chúng ta ra khỏi quyền lực của tối tăm và đưa chúng ta vào nước  của Con Yêu Dấu Ngài, trong Ngài, chúng ta được tự do và được tha thứ tội khiên.

Vị Vua bị đóng đinh đã bắt đầu cuộc chinh phục của Ngài nơi các tâm hồn. Chính trên Thập giá, Ngài thu hút mọi người đến với Ngài. Thập giá là nơi vương quyền của Ngài được tỏ lộ mà không sợ hiểu lầm.

Mừng lễ Chúa Ki-tô vua, chúng ta hãy hạ bệ những thần giả mạo là danh vọng, tiền bạc, thú tính, cái tôi… Chúa Ki-Tô đã giải thoát chúng ta khỏi nô lệ này bằng cách mời gọi chúng ta bước theo Ngài sống nghèo, chống lại cơn cám dỗ về quyền lực, về thú vui… từ sa mạc cho đến Thập Giá. Khi bị treo trên Thập Giá, bị tước hết danh dự và uy tín, Ngài đã phá tan xiềng xích nô lệ của tội lỗi, khai mạc một triều đại tự do cho con người. Đó là vương quốc tình yêu: Ngài làm chứng cho tình yêu, rao giảng, tha thứ và thi ân.

Hôm nay tuyên xưng Ngài là vua là như anh trộm lành chúng ta sẵn sàng trao phó cuộc đời và bước đi theo Ngài.

Tuyên xưng Ngài là vua la chúng tà đi theo con đường yêu thương đến cùng của Ngài, phục vụ đến quên mình.

Tuyên xưng Ngài là vua là chúng ta cùng Ngài xây dựng vương quốc trần gian này, vương quốc của huynh đệ, của yêu thương, của công lý và hòa bình.

Xin Chúa cho chúng ta biết tuyên xưng vương quyền Ngài trong tâm hồn mình, trong gia đình, trong xã hội và trong tổ quốc của chúng ta, để tất cả mọi người được sống trong vương quốc tình yêu của Ngài, một vương quốc không còn hận thù, chia rẽ và chiến tranh, nhưng hiệp nhất trong tình yêu bất diệt của Vua Tình Yêu.

Nữ tu Faustina Lý Thị Báu

Comments are closed.