Một kỳ hè khó quên

0

kỳ hè

Khi tôi còn ở Thỉnh viện, vào những kỳ hè, không phải ai cũng được về quê vì một số chị em phải thay cho các Dì về nhà Mẹ Tam Hiệp để tĩnh tâm hay học thường huấn. Có lẽ tôi cao ráo nên kỳ hè nào cũng trúng tuyển và được khoác lên mình bộ áo Tiền tập làm bà dòng giả ra đứng lớp trông oai ra phết.

Kỳ hè đó, tôi không nhớ năm nào, tôi và hai chị nữa là chị Cécilia Lan, chị Pauline Bảy (đã xuất dòng) được sai về Tu viện Mẹ Vô Nhiễm, Gò Vấp, Sài Gòn. Không được về quê, nhưng chúng tôi cũng không buồn vì được xúng xính trong bộ áo dòng, được làm cô giáo của 60 “sinh viên quẹt ngang”. Thời điểm ấy bà Agnès làm Bề trên Tu viện, bà là người điềm đạm từ tốn, hiền lành, dễ mến và rất đơn sơ. Tôi còn nhớ, một hôm cha Gioan Trần Đức Huyên tới dâng lễ và như thường ngày, sau thánh lễ cha ở lại điểm tâm. Hôm đó chị quản lý mua đồ tráng miệng đặc biệt cho cha là 10 quả măng cụt. Cha điểm tâm xong, chị coi nhà khách bê mâm xuống, đĩa măng cụt vẫn còn nguyên, chị quản lý rất buồn và cẩn thận bê cả đĩa cất vào tủ. Đến trưa, vì kính Bề trên, chị đặt đĩa măng cụt trên bàn ăn của Bề trên và nói: 

  • Thưa Bề trên, con xin lỗi, hôm nay con dọn quả măng cụt mà cha không ăn.
  • Bề trên im lặng một lúc rồi làm phép bữa ăn. Ngồi xuống Bề trên ôn tồn nói:
  • Tôi đã bảo rồi, cái gì cha thích ăn thì chị mua. Đấy, chị thấy có uổng tiền không? Làm bữa ăn cho cha mãi rồi mà cũng không hiểu tính cha, mua tốn tiền mà cha lại không ăn. Thế là sáng nay cha không có gì tráng miệng cả. Mình thì sao cũng được, còn các cha chị phải để ý.

Chị quản lý nghe Bề trên nói càng hối hận lại tiếp tục điệp khúc xin lỗi. Cuối bữa ăn, chính chị quản lý bê đĩa măng cụt trịnh trọng đặt trước mặt Bề trên, Bề trên cầm từng quả trao cho chị em và nói: Thôi ngài không ăn thì chị em ăn kẻo để hư mất.

Cả nhà mừng vì thời điểm đó dễ gì có quả măng cụt mà ăn. Nhưng … hỡi ôi! Mở ra thì … ruột măng cụt đã cao chạy xa bay rồi, cả nhà phá ra cười. Bây giờ mới biết cha giáo Huyên cũng nghịch đáo để, làm cho bà con họ Đa mắc lừa một bữa chơi.

Còn nữa, đây là chuyện của ba bà dòng giả chúng tôi. Tu viện Mẹ Vô Nhiễm có một cây xoài rất lớn ở ngay trước sân, tới mùa trái rất sai. Vào một đêm trăng thanh, gió mát, chấm bài mà mùi xoài chín cứ ve vãn, chịu không nổi, cả ba rủ nhau trèo lên hái trộm. Nói là làm, cả ba xếp vở lại tiến ra sân, hai chị lớn trèo lên cây, mình nhỏ đứng dưới. Vào thời ấy cũng hay có các cuộc đọ súng ở miền Gò Vấp. Xoài đã chín mùi mà Bà Nhất không cho hái, nên bây giờ đụng đâu rụng đó, rơi trên mái tôn lộp độp. Bà Nhất và các dì đã lên giường ngủ, nghe xoài rụng trên tôn tưởng là súng bắn, bà nhất hô to: Chị em ơi! Trốn xuống gầm giường hết đi, không sẽ bị lạc đạn đấy, nhanh lên, nằm sát đất, tắt điện hết. Hình như bà nghĩ đạn thấy ánh sáng sẽ không đi lạc. Hai dì đang học bài cũng tắt đèn chui xuống bàn. Nhìn vào, bóng đèn lờ mờ tôi thấy từ bà nhất đến các dì bò lổm ngổm chui xuống bàn hết. Tôi vừa buồn cười, vừa sợ, chạy tới gọi hai chị:

  • Xuống đi, chết đến nơi rồi, xuống mau.
  • Hai chị tưởng Bà Nhất ra, vội xuống ôm xoài chạy, làm con bé phải chạy theo gọi với:
  • Không phải Bà Nhất ra đâu. Bà Nhất và các dì xuống gầm giường nằm hết rồi.
  • Sao vậy?
  • Tôi nín cười không được, ôm bụng chạy ra ngoài cổng, hai chị cũng chạy theo, cả ba dúi vào góc tường và cứ hỏi tôi tới tấp:
  • Sao hả, sao cậu cứ cười?
  • Xoài rớt trên tôn lộp độp, Bà Nhất và các dì tưởng súng bắn, sợ lạc đạn nên chui hết xuống gầm giường rồi.
  • Cả ba lại lăn ra cười. Nhưng chúng tôi cũng sợ lắm, không biết sáng mai phải làm sao đây?
  • Tôi nói: Tội qui trưởng, mai cả ba ra thú tội, nhưng chị Pauline phải nói.

Tuổi trẻ vô tư, lo sợ trong chốc lát rồi cũng quên, mấy trái xoài hái được làm thịt hết. Tiệc xong ai nấy vào giường mình. Nói là vô tư, nhưng tối hôm đó tôi chẳng sao ngủ được, phần vì ân hận, phần vì thương Bà Nhất và các dì một phen hú vía. Sáng hôm sau, hỏi ra thì cả ba chẳng ả nào ngủ được. Trong bữa điểm tâm Bà Nhất kể thao thao bất tuyệt về sự cố tối hôm qua. Ba chúng tôi ngồi nhìn nhau. Thực ra, nếu im thì cũng xong vì ngoài ba bà dòng giả ra không ai biết gì cả. Nhưng để an tâm, cả ba đến trước Bà Nhất quì thú tội. Hết mọi người đổ mắt nhìn chúng tôi, như muốn nặng lời trách cứ, nhưng tất cả đều nín thở chờ Bà Nhất phân xử.

  • Vậy hôm qua không phải đánh nhau à?
  • Dạ, thưa Bà Nhất không?
  • Vậy thì làm sao?
  • Dạ, thưa Bà Nhất chúng con chấm bài mệt rồi đi hái trộm xoài, xoài rụng trên mái tôn.
  • Giêsu! Lạy Chúa tôi, tội ba em lấy gì phạt cho xứng đây?
  • Dạ thưa tùy Bà Nhất và các dì.

Chị Pauline cứ thế mà thân thưa. Còn tôi, hôm qua cười bao nhiêu thì hôm nay run bấy nhiêu và cứ đưa tay gạt nước mắt. Có lẽ Bà Nhất thấy tôi có lòng ăn năn, hối hận nên sớm ra lệnh truyền:

  • Đứng lên, đi về chỗ ngồi. Hôm nay đọc 10 kinh Kính Mừng đền tội và từ nay không được làm như vậy nữa, nghe chưa?
  • Dạ, chúng con cám ơn bà.

Đứng lên về bàn ăn mà nghe lòng nhẹ nhõm, bình an và hứa với lòng: chừa cho tới chết, xoài có chín nứt ra cũng mặc kệ.

Bà Nhất của chúng tôi cũng là một người khoan dung, nhẫn nại, lắng nghe và thông cảm. Khi Bà đắc cử Mẹ Bề Trên tôi đang đi học ở Sài Gòn, và gặp một sự kiện bị hiểu nhầm trầm trọng nhưng nhờ  Bà can thiệp mà tôi đã đứng vững và tiếp tục đời tu cho tới nay. Tôi rất biết ơn Bà và từ đó tôi luôn cảm thấy hạnh phúc trong vòng tay yêu thương của Đấng đã GỌI và CHỌN tôi.

Sr.  Isabella Trần Thị Kim Hường

 

Comments are closed.