Ngài là Ai? – Suy niệm CN III Mùa Vọng, năm A

0

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG, NĂM A

153

LỜI CHÚA: Mt. 11, 2-11

Tôi được cơ duyên dạy đạo cho một người vô thần. Vừa mừng vừa lo vì làm sao trao chuyển niềm tin cho một người đã được nhồi nhét nơi trường ốc và trong cuộc sống là không có Thiên Chúa, chết là hết. Ông sinh ra trong một gia đình vô thần được uốn nắn ngay từ nhỏ theo tư tưởng này. Khi nhập quân ngũ triết thuyết này mỗi ngày một vững mạnh hơn. Ông kết hôn với một người công giáo và cả hai đều nhất trí đường ai nấy đi. Sống với ông được mười bẩy năm, Bà quyết định bàn với ông là hợp thức hóa để bà lo cho ba người con trai học đạo cách chỗ ông bà ở hai chục cây số.

Tuy không tin Thiên Chúa nhưng ông vẫn chấp nhận theo ý bà nhưng ông vẫn giữ lập trường của mình.

Thương bà, thương ông, nên các Cha, các Dì, những người họ hàng thân quen và những người truyền giáo đến thăm, thỉnh thoảng ông tìm cách lẩn trốn. Khi những lần thăm viếng đã đến chỗ thân tình tôi bạo dạn chia sẻ với ông nhưng ông vẫn một mực từ chối bằng cái lắc đầu và cười trừ. Cử chỉ này trở thành nhàm chán với những ai quen biết ông. Còn bà, bà vẫn tha thiết cầu nguyện cho ông. Bà chia sẻ với tôi: con không cần giầu sang chỉ mong được an tâm nghĩa là mong ước ông theo Chúa. Tội nghiệp cho bà và tội nghiệp cho con người không có niềm tin và không có niềm hy vọng, nên tôi hay lai vãng để chia sẻ với bà và giúp ông. Nhưng mỗi lần đến thăm, ông vui vẻ tiếp đón nhưng thay vì để tôi chia sẻ thì ông tìm cách thuyết phục tôi. Những lần như thế tôi phải lắng nghe nhiều hơn là nói. Có lúc bà thất vọng nói: mặc kệ ông, tôi và các con cứ vững con đường của mình.

Một buổi chiều mưa phùn nọ khi đưa Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân tôi ghé thăm ông. Hôm nay ông nhìn tôi với vẻ mặt tươi tắn hơn và bắt tay tôi cách rất thiện cảm. Tôi ngồi nói chuyện với ông rồi tản mạn đến chuyện quen thuộc của mình. Tôi mời bà cùng nhập cuộc. Sau buổi chia sẻ, ông nói: bắt đầu từ hôm nay, có vợ tôi đây, tôi hứa với Dì sẽ vào đạo. Khi tôi vào đạo, tôi hứa sẽ giữ nghiêm túc những luật lệ của đạo. Tôi biết có nhiều người công giáo không giữ lời thề của mình, sống buông thả. Tôi là sĩ quan về hưu, tôi hiểu biết điều này. Bà vợ ngồi bên cạnh tươi cười và chia sẻ: “Trưa hôm nay tự nhiên con buồn lắm, con thưa với Chúa: Lạy Chúa xin cứu con!” Bây giờ con đã hiểu.

Tôi tiếp: Nhờ sự kiên trì và vững tin của bà mà hôm nay Chúa đã thay đổi lòng ông. Hãy cảm tạ Chúa. Trước khi ra về, tôi xin bà cộng tác với tôi bằng việc đọc kinh tối có sự hiện diện của ông.

Thế là từ nay tôi được hạnh phúc chia sẻ niềm tin với ông. Trong niềm vui pha trộn lo lắng. Thật khó cho tôi khi nói về một Đấng mà trong đầu óc ông đã được dạy từ tấm bé và trong suốt đời quân ngũ của ông:

 – Tôn giáo là thuốc phiện ru ngủ quần chúng.

– Tôn giáo, tín ngưỡng là mê tín, lạc hậu,dối trá và phi khoa học.

– Niềm tin vào Thiên Chúa khuấy trộn thế giới này.

 Thiên nhiên tự khởi sinh không phải Thiên Chúa dựng nên.

-Thiên Chúa không hiện hữu.

– Chết là hết.

Niềm tin vào Thiên Chúa là nguyên ủy của vô số điều ác và phải bị từ khước trên nền tảng luân lý.

Tôi biết rõ điều này nên phải xin Chúa dạy bảo phải nói gì và xin mọi người cầu nguyện. Tôi phải chuẩn bị kỹ càng không phải bằng kiến thức nhưng bằng cầu nguyện. Thế nhưng trong giờ học, tôi luôn bị ngắt quãng: “ Xin Dì cho tôi phát biểu: Điều Dì dạy rất đúng, đảng cũng dạy như thế ”. Tôi chóng mặt thưa với Chúa: Con phải làm sao bây giờ? Điều con dạy lại củng cố cho việc bài trừ không có Thiên Chúa sao? Những giờ học của tôi luôn luôn bị ngắt quãng với những câu nói như thế. Tôi lo lắng và xin Chúa hỗ trợ bằng cách cho những lời tôi giới thiệu về Chúa chạm đến trái tim ông để ông cảm nghiệm về Chúa, điều mà tôi hoàn toàn bất lực.

Một ngày kia khi ông tức giận với bà, ông xin nghỉ học và thẳng thừng nói với tôi: tôi suy nghĩ lại rồi, xin Dì thông cảm, tôi chỉ giả hình thôi. Tôi hiểu ý ông là ông muốn vào đạo cách giả hỉnh. Mặc dù ông nói thế nhưng tôi cũng cố vớt vát: Ông Năm ơi, ông già yếu lại bệnh tật nữa, ông phải chuẩn bị cho ngày ra đi của mình chứ. Ông Năm nghĩ chết sẽ đi về đâu( đây là bài học mở đầu của tôi). Ông trả lời chết là hết. Tôi giật mình và lặp lại những điệp khúc quen thuộc.

Nếu chết là hết thì con người không còn hy vọng gì ở đời sau và như thế cuộc đời này thật phi lý. Và con người sống trong thế giới này thật đáng nguyền rủa. Nguyền rủa vì không tin Thiên Chúa con người sẽ phạm đủ mọi tội ác, thế giới này là một hỏa ngục nối dài cho đến tận thế. Họ không có niềm tin nên không có niềm hy vọng, không có niềm vui, niềm hạnh phúc và sự bình an của những người con cái Chúa.

Chúng ta đang sống trong mùa vọng, mùa Giáo Hội nhắc nhở cho chúng ta hãy nhìn về phía trước để hân hoan hoàn thành cuộc hành trình Đức tin. Chúng ta hi vọng vào Chúa và tìm được niềm vui này trong Chúa, Đấng Cứu Độ. Hy vọng trong Chúa là nền tảng của mọi Ki-tô hữu vì Chúa sẽ đến đưa chúng ta vào vinh quang. Chúng ta sẽ được Phục sinh với Ngài vì Ngài thế nào chúng ta sẽ được như vậy.

Thế giới này rất bi thảm và sầu khổ, ngày qua ngày chỉ thấy chiến tranh, tàn sát, động đất, ngập lụt, đói khổ, đời là một cuộc chiến không ngừng. Con người gặp biết bao thử thách trên đường đời, những đau khổ hằng ngày làm chúng ta nản chí bỏ cuộc. Ngày xưa dân Do thái sống trong đau khổ, bị áp bức đủ bề, dân mong được giải thoát nhưng hy vọng này bị coi như ảo tưởng vì tương lai mịt mờ. Nhưng các tiên tri cho biết: đau khổ khóc than sẽ biến mất vì Thiên Chúa sẽ giải thoát dân Người. Nhưng trước khi đạt được niềm hi vọng này chúng ta phải kiên nhẫn chịu đựng những thử thách, gian nan khốn khó vì đời này là thung lũng nước mắt. Giáo hội mời gọi chúng ta hãy hướng về tương lai với niềm vui tràn đầy. Nhưng niềm vui này vẫn còn phải chờ đợi.

Nhưng trước những đau khổ hoành hành con người mọi thời và ngay cả Gioan Tẩy giả vẫn thắc mắc: Tại sao sự dữ lại thắng sự lành? Và người lành thường gặp nhiều bước gian truân. Trước những bất công trong xã hội, trước thế lực sự dữ leo thang. Gioan Tẩy Giả muốn Đấng Messia đến để lật lại thế cờ. Đấng Messia sẽ ân thưởng người lành, gia phạt kẻ gian ác. Ngài sẽ quét sạch sân lúa, phơi bày sự dữ. Ngài sẽ thực hành sự phán xét nẩy lửa. Ngài sẽ chặt phăng những cây không sinh quả và quăng vào lửa. Ngài thu thóc mẩy vào kho lẫm còn lúa lép sẽ thiêu bằng lửa không bao giờ tắt.

Thế nhưng khi Đấng Messia đến, Ngài lại hành động như một Đấng Cứu Tinh. Ngài trà trộn với dân, ăn uống với phường tội lỗi, khoan dung kẻ gian ác. Tha thứ cho kẻ tội lỗi. Những người dữ không bị tru diệt trong khi những kẻ lành bị ngồi tù. Vậy Ngài có phải là Đấng phải đến chăng? Nên khi biết mình sắp phải chết vì chân lý , Gioan muốn biết về Chúa Giê-su cách chắc chắn nên đã sai hai môn đệ đến hỏi Chúa Giê-su: Ngài có phải là Đấng phải đến hay chúng tôi còn phải chờ Đấng khác?

Thay vì thuyết phục hai sứ giả của Gioan bằng lời nói thì Ngài hướng họ nhìn lại những công việc Ngài đã làm, những việc mà ngôn sứ Isaia đã nói tiên tri về Đấng messia: kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại…

Ngày nay chúng ta cũng đang chất vấn Chúa như Gioan tẩy Giả: Ngài có phải là Đấng chúng tôi chờ mong hay chúng tôi phải tìm ơn cứu độ ở đâu khác: ở khoa học kỹ thuật,ở tiền của, ở địa vị… Những điều này làm cho chúng tôi thấy dễ chịu hơn.

Ngày nay con người đang cố tìm một Đức Ki-tô khác, một Đức Ki-Tô đáp ứng với nhu cầu của họ, một Đức Ki-Tô đòi sự công bình cho những kẻ yếu hèn ngay ở đời này, một Đức Ki-tô luôn bênh vực và trả thù ngay cho những người đau khổ, nghèo nàn, bị áp bức, bị đối xử tàn bạo, bị khủng bố, bị đè bẹp…

Còn tôi, tôi đang chờ đợi một Đức Ki-tô nào đây?

Nữ tu Faustina Lý Thị Báu

Comments are closed.