Giới Thiệu Tài Liệu Chuẩn Bị Cho Thượng Hội Đồng Giám Mục về Giới Trẻ và Ơn Gọi

0

Giới Thiệu Tài Liệu Chuẩn Bị Cho Thượng Hội Đồng Giám Mục về Giới Trẻ và Ơn Gọi

Câu hỏi liên quan đến Thượng Hội đồng về Giới trẻ, Nhận thức Ơn gọi được gửi đến các Hội đồng Giám mục.

Ngày 13 tháng 1, 2017

imag5833-740x493

Tài liệu chuẩn bị cho Đại Hội Đồng Chung lần thứ 15 của Thượng Hội Đồng Giám mục, được chuẩn bị tổ chức vào tháng Mười năm 2018 với chủ đề “Giới Trẻ, Đức Tin và Nhận Thức Ơn Gọi,” được giới thiệu sáng nay.

Trong số những vị trình bày tại Hội nghị hôm nay tại Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh có Đức Hồng Y Lorenzo Baldisseri, tổng thư ký của Thượng Hội Đồng Giám mục và Đức Giám mục Fabio Fabene, phó tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám mục, và các bạn trẻ Elvis Do Ceu Nicolaia Do Rosario và Federica Ceci.

Tài liệu, trong đó có những câu hỏi, được gửi đến các hội đồng giám mục, thượng hội đồng giám mục của các Giáo Hội Công giáo Đông Phương tự trị và các Tổ chức có quyền, để tài liệu có thể được chuyển đến các giáo phận và những cộng đoàn giáo hội.

Các thành viên của Hội Đồng được phân chia thành các nhóm làm việc theo châu lục để xây dựng những câu hỏi cụ thể liên quan đến giới trẻ trong những bối cảnh địa lý và văn hóa khác nhau. Cuối cùng, những đề nghị liên quan đến văn bản và câu hỏi được tập trung lại và đưa vào tài liệu cơ bản được nhất trí thông qua. Nó được xây dựng bản nháp bởi Tổng Quốc Vụ Viện với sự hỗ trợ của các chuyên gia về các vấn đề thượng hội đồng.

Trong hội nghị hôm nay, Đức Hồng y Baldisseri giải thích cấu trúc của tài liệu, được chia thành ba chương.

Ngài cho biết, chương một, với tựa đề “Giới Trẻ Trong Thế Giới Hôm Nay,” cung cấp thông tin hữu ích để đặt bối cảnh vào tình hình của giới trẻ trong thực tại ngày nay.

Chương hai, trọng tâm của tài liệu, có tựa đề “Đức Tin, Nhận Thức, Ơn Gọi.”

“Chúng ta phải phân biệt rõ thuật ngữ ‘ơn gọi’ phải được hiểu theo nghĩa rộng và bao hàm toàn bộ những khả năng cho sự nhận thức cụ thể của đời sống trong niềm vui yêu thương và sự viên mãn xuất phát từ món quà dâng hiến bản thân cho Thiên Chúa và cho tha nhân,” ngài nhấn mạnh và thêm rằng, “Đó là việc tìm được hướng đi cụ thể trong đó sự nhận thức này có thể được lấp đầy “qua một loạt những lựa chọn làm nổi bật bậc của đời sống (hôn nhân, thừa tác viên, đời tận hiến, v.v..), nghề nghiệp chuyên môn, trách nhiệm xã hội và đường lối chính trị, lối sống, quản lý thời gian và tiền bạc, v.v..

“Việc lựa chọn đời sống diễn ra trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người,” ngài nói thêm, “Ở đó, mỗi người nghe thấy tiếng của Thiên Chúa và chuyện trò với Ngài và cuối cùng đưa ra quyết định. Sự giúp đỡ của người khác, theo mức độ cần thiết, không bao giờ có thể thay thế được sự đối thoại riêng tư và thân tình này.”

Chương thứ ba có tựa đề “Hoạt Động Mục Vụ,” ngài làm rõ tính quan trọng của nó đối với Giáo hội “để cùng đồng hành với giới trẻ chào mừng niềm vui của Tin mừng,” chẳng hạn, trong những lúc “bấp bênh, bối rối, bất an.’

Cuối tháng Mười Một, cuộc họp thứ hai của Hội Đồng Chung Bình Thường lần thứ 14 của Tổng Quốc Vụ Viện của Thượng Hội Đồng Giám mục đã được tổ chức, với sự chủ tọa của Đức Thánh Cha Phanxico. Trong cuộc họp đó, tài liệu chuẩn bị được lên bản nháp và đem ra thảo luận. Các thành viên của Hội đồng bày tỏ sự đánh giá cao chương trình của tài liệu và đưa ra những đề nghị để cải thiện nó.

Các tổng trưởng của ba bộ của Giáo Triều Roma đã được mời để tham dự buổi họp vì sự uyên bác của các ngài về những vấn đề của thượng hội đồng: Hồng y João Braz de Aviz, tổng trưởng Bộ Tu sĩ; Hồng y Beniamino Stella, tổng trưởng Bộ Giáo sĩ; và Hồng y Kevin Farrell, tổng trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống. Vào cuối buổi làm việc, Đức Thánh Cha cảm ơn các Thành viên của Hội Đồng và những tham dự viên khác vì những đóng góp của họ và vì tinh thần hiệp nhất huynh đệ được cảm nhận trong suốt buổi họp.

***************************

Giới thiệu

“Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15:11). Đây là chương trình của Thiên Chúa dành cho mọi người ở mọi độ tuổi, kể cả những người trẻ tuổi của Thiên Niên Kỷ Thứ Ba, không có một sự ngoại lệ.

Loan báo niềm vui của Tin mừng là sứ mạng được Thiên Chúa trao phó cho Giáo hội. Thượng Hội Đồng về Tân Phúc Âm hóa và Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium) được xem là những hướng dẫn để hoàn tất sứ mạng này trong thế giới ngày nay. Hai Thượng Hội Đồng và Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Niềm Vui Yêu thương (Amoris laetitia) được dành riêng để giúp các gia đình tìm được niềm vui này. Để tiếp nối sứ mạng này và giới thiệu một sự tiếp cận mới qua một Thượng Hội Đồng với chủ đề, “Giới Trẻ, Đức Tin và Nhận Thức Ơn Gọi”, Giáo hội quyết định tự kiểm tra lại chính mình về cách dẫn dắt giới trẻ nhận biết và nghe theo tiếng gọi nên hoàn thiện trong đời sống và tình yêu, và kêu gọi các bạn trẻ giúp Giáo hội tìm ra được những cách thức hiệu quả nhất để công bố Tin Mừng cho hôm nay. Bằng việc lắng nghe giới trẻ, một lần nữa Giáo hội sẽ lại lắng nghe tiếng của Thiên Chúa nói trong thế giới hôm nay. Cũng như trong thời đại của Samuel (Xem 1 Sm 3:1-21) và Giê-rê-mi-a (xem Gr 1:4-10), giới trẻ biết cách nhận ra được dấu chỉ của thời đại của chúng ta, được tỏ dấu bởi Chúa Thánh Thần. Lắng nghe những khát vọng của họ, Giáo hội có thể có cái nhìn thoáng qua một thế giới đang ở phía trước và những con đường Giáo hội được kêu gọi phải đi theo.

Với mỗi con người, ơn gọi yêu thương mang lấy hình thức cụ thể trong đời sống hàng ngày qua một loạt những lựa chọn, được thể hiện trong những bậc của đời sống (hôn nhân, thừa tác vụ, tận hiến, v.v..) nghề nghiệp chuyên môn, những trách nhiệm xã hội và dân sự, lối sống, sắp xếp thời gian và tiền bạc, v.v.. Cho dù những lựa chọn này là hoàn toàn do ý chí thiết lập nên hay đơn giản chấp nhận, hoặc tự giác hoặc không tự giác, không ai bị loại trừ ra ngoài những lựa chọn này. Mục đích của nhận thức ơn gọi là tìm ra cách để biến chuyển chúng, dưới ánh sáng của đức tin, thành những bước đi tiến đến sự viên mãn của niềm vui mà mọi người đều được kêu gọi.

Giáo hội biết nền tảng của “sức mạnh và nét đẹp của giới trẻ, [cụ thể là] khả năng vui mừng khi bắt đầu đảm nhận công việc, hoàn toàn dấn thân mà không quay trở lại, tự mình đứng dậy để bắt đầu lại một lần nữa đi tìm sự chinh phục mới” (Thông điệp Vatican II gửi Giới Trẻ, 8 tháng Mười Hai 1965). Sự phong phú của truyền thống tinh thần của Giáo hội cung cấp nhiều nguồn tài nguyên để hướng dẫn việc rèn luyện lương tâm và sự tự do đích thực.

Ghi nhớ điều này, Tài Liệu Chuẩn Bị hiện tại bắt đầu giai đoạn tham khảo ý kiến toàn thể Dân Chúa. Tài liệu này — được gửi đến thượng hội đồng và các hội đồng tổng giám mục của các Giáo hội Công giáo Đông phương tự trị, các hội đồng giám mục, các bộ của giáo triều Roma và Liên minh các Bề trên Tổng quyền — kết thúc với một loạt những câu hỏi. Việc tham khảo ý kiến cũng bao gồm tất cả các bạn trẻ qua một website có những câu hỏi liên quan đến những mong ước và đời sống của họ. Những câu trả lời cho cả hai loạt câu hỏi sẽ là nền tảng cho việc xây dựng bản nháp cho “tài liệu thảo luận” hay Instrumentum laboris, sẽ là điểm tham khảo trong buổi thảo luận của các cha thượng hội đồng.

Tài liệu Chuẩn bị này giới thiệu một suy tư theo ba bước, bắt đầu bằng phần liệt kê tiêu đề tóm tắt một số những động lực thuộc xã hội và văn hóa của thế giới trong đó giới trẻ trưởng thành lên và đưa ra những quyết định cho họ, và đề nghị rằng những điểm này phải được đọc dưới ánh sáng đức tin. Tài liệu sau đó vẽ lại những bước căn bản của tiến trình nhận thức rõ, điều mà Giáo hội cảm thấy là phương tiện cơ bản mà Giáo hội có thể cung cấp cho giới trẻ để họ có thể khám phá ơn gọi của họ dưới ánh sáng đức tin. Cuối cùng, tài liệu bàn về những điểm chính trong một chương trình ơn gọi mục vụ cho giới trẻ. Vì thế, tài liệu không bao gồm mọi chi tiết tỉ mỉ, nhưng được sử dụng như một bản hướng dẫn để khuyến khích những thảo luận mở rộng hơn, kết quả chỉ được đưa ra vào buổi bế mạc của Thượng hội đồng.

NHỮNG BƯỚC CHÂN CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐƯỢC YÊU

Hình ảnh của Thánh Gioan Tông đồ trong Tin mừng có thể được xem như một nguồn khơi gợi cảm hứng khi bắt đầu tiến trình này. Trong bài đọc truyền thống của Tin mừng Fourth Gospel, thánh nhân vừa là một mẫu gương của một người trẻ chọn con đường theo Chúa Giê-su và là “người môn đệ Chúa Giê-su yêu” (Ga 13:23; 19:26; 21:7).

“Thấy Đức Giê-su đi ngang qua, ông lên tiếng nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa.” Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giê-su. Đức Giê-su quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: “Các anh tìm gì thế? ” Họ đáp: “Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu? ” Người bảo họ: “Đến mà xem.” Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. Ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giê-su. Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-môn và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su. Đức Giê-su nhìn ông Si-môn và nói: “Anh là Si-môn, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha” (tức là Phê-rô). (Ga 1:36-42).”

Khi đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả nghe Chúa Giê-su đặt câu hỏi: “Các anh đi tìm gì?” Trước câu trả lời, “Thưa Ra-bi (nghĩa là thưa Thầy), thầy ở đâu?” Chúa trả lời bằng một lời mời gọi: “Hãy đến mà xem” (Ga 1:38-39). Đồng thời Chúa Giê-su kêu gọi họ bắt đầu một cuộc hành trình nội tâm và để được chuẩn bị tiến bước trên một hành trình thực sự, mà không biết rõ nó sẽ dẫn các ông đi đâu. Đó sẽ là một sự gặp gỡ đáng nhớ, rất đáng nhớ đến mức các ông thậm chí nhớ chính xác thời gian từng ngày (cf. Jn 1:39).

Nhờ lòng can đảm tiến bước và gặp gỡ, các môn đệ sẽ trải nghiệm tình bạn muôn đời của Đức Ki-tô và sẽ có thể trải qua mỗi ngày với Ngài. Các ông sẽ suy nghĩ về Lời của Ngài và được khơi gợi cảm hứng từ những lời đó; và sẽ được tác động mạnh mẽ bởi những hành động của Ngài. Đặc biệt, Gioan sẽ được kêu gọi để làm chứng nhân cho Cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Thầy của mình. Tại bữa Tiệc Ly (Ga 13.21 to 29), theo tính tự nhiên của mối quan hệ thân tình làm cho ông tựa đầu và ngực của Chúa Giê-su và tin tưởng vào mọi lời của Ngài. Khi đi theo Simon Phê-rô đến nhà của thầy cả thượng phẩm, Gioan đối mặt với một đêm đau khổ và cô đơn (x. Ga 18:13-27). Dưới chân Thập giá, ông mang lấy sự đau khổ tột cùng của Mẹ của Ngài, Mẹ đã được trao phó cho ông, và chấp nhận trách nhiệm chăm sóc Mẹ (x. Ga 19:25-27). Vào sáng ngày Phục sinh, ông cùng với Phê-rô chạy hối hả nhưng đầy hy vọng về phía ngôi mộ trống (x. Ga 20:1-10). Cuối cùng, với mẻ lưới phép lạ đầy cá tại Biển Ga-li-lê (x. Ga 21:1-14), ông nhận ra Thiên Chúa Phục sinh và làm chứng cho toàn thể cộng đoàn. Tấm gương của Gioan có thể giúp cho chúng ta hiểu rằng trải nghiệm ơn gọi là một tiến trình dần dần của sự nhận thức trong tâm hồn và sự phát triển đức tin, dẫn đến việc khám phá sự viên mãn của niềm vui của sự sống và yêu thương, và xem đó là một ân ban cho bản thân và dự phần vào việc loan báo Tin Mừng.

I. GIỚI TRẺ TRONG THẾ GIỚI NGÀY NAY

Chương này không phải là một bài phân tích chung chung về xã hội hay thế giới của tuổi trẻ, nhưng là những kết quả của sự nghiên cứu trong lĩnh vực xã hội và nó rất hữu ích giúp giải quyết vấn đề nhận thức ơn gọi, để cho “chúng chạm vào chúng ta cách sâu sắc và mang lại một nền tảng vững vàng cho hành trình đạo đức và thiên liêng cần theo” (Tông huấn Laudato sì, 15).

Trên mức độ toàn cầu, tiếp cận với vấn đề sẽ đòi hỏi sự thích ứng cho những trường hợp cụ thể của mỗi vùng. Đánh giá trên những xu hướng toàn cầu, những khác biệt giữa các vùng khác nhau trên hành tinh là điều rất quan trọng. Theo nhiều cách khác nhau, thật công bằng nếu nói rằng có vô số thế giới khác nhau khi nói về giới trẻ, chứ không chỉ có một. Một số trong số này rất đáng chú ý. Những kết quả đầu tiên từ số liệu thống kê dân số chia tách các quốc gia với tỷ lệ sinh cao, ở đây giới trẻ chiếm một tỷ lệ quan trọng và lớn dần của dân số, tách ra khỏi những quốc gia có dân số đang giảm dần. Một khác biệt thứ hai dựa trên lịch sử phân chia các quốc gia và châu lục theo truyền thống và văn hóa Ki-tô giáo cổ xưa — những giá trị không được đánh mất — so với những quốc gia và châu lục có nền văn hóa nổi bật của những truyền thống tôn giáo khác trong đó Ki-tô giáo là thiểu số và thường thường chỉ mới hiện diện gần đây. Cuối cùng, điều không được quên những sự khác biệt phát sinh do giới tính, nam và nữ. Về một mặt giới tính quyết định những nhận thức khác nhau về thực tại, mặt khác, giới tính là nền tảng của nhiều hình thức khác nhau của sự thống trị, loại trừ và phân biệt đối xử, đây là những vấn đề mọi xã hội cần phải vượt qua. Trong những trang tiếp theo, cụm từ “giới trẻ” hàm ý chỉ những người trong độ tuổi 16 đến 29, đồng thời phải nhớ rằng cụm từ này cần được hiểu tùy theo những hoàn cảnh địa phương. Trong bất kỳ trường hợp nào, chúng ta tốt hơn nên nhớ rằng cụm từ “giới trẻ”, ngoài ý nghĩa chỉ về người, nó còn chỉ một giai đoạn của đời sống mà mỗi thế hệ hiểu theo cách không giống nhau.

1. Một Thế giới Thay đổi nhanh chóng

Một tiến trình thay đổi và biến đổi nhanh chóng là đặc tính chính của các xã hội và nền văn hóa đương thời (x. Tông huấn Laudato sì, 18). Bản chất rất phức tạp và tốc độ của tiến trình này đang tạo ra một tình trạng thay đổi thất thường và bất ổn chưa bao giờ con người cảm nhận trước đây. Chưa đánh giá tiên nghiệm liệu tình trạng sự việc này có phải là một vấn đề hay một cơ hội, nhưng tình hình này đòi hỏi sự tập trung trọn vẹn và một khả năng lập kế hoạch lâu dài, trong khi phải luôn ghi nhớ trong đầu sự chịu đựng và những hậu quả của các lựa chọn của hôm nay cho tương lai.

Sự phát triển của tính bất ổn dẫn đến hậu quả là một tình trạng mong manh, nghĩa là, một sự cộng hợp giữa sự bất an xã hội và những khó khăn kinh tế cũng như sự mất an toàn trong đời sống của một phần đông dân số. Liên quan đến vấn đề việc làm, hoàn cảnh này nhắc nhở đến tình trạng thất nghiệp, sự gia tăng tính đa dạng trong thị trường lao động và sự bóc lột, đặc biệt đối với các nhóm thiểu số hay hàng loạt những nguyên nhân tổng thể về dân sự, kinh tế và xã hội, trong đó có cả những vấn đề về môi trường, điều này giải thích sự gia tăng quá nhanh số người tị nạn và di cư. So sánh với một thiểu số rất ít được đặc ân, những người lợi dụng được các cơ hội do những tiến trình toàn cầu hóa tạo ra, còn lại quá nhiều người sống trong hoàn cảnh bấp bênh và mất an toàn, điều này có sự ảnh hưởng cho những lựa chọn trong cuộc sống.

Một cách tổng thể, thế giới hiện tại được ghi dấu bằng một văn hóa dựa trên “khoa học”, thường xuyên bị thống trị bởi công nghệ và những hứa hẹn những tiềm năng vô tận của khoa học, trong đó “nỗi buồn và sự cô đơn có vẻ như đang gia tăng, không ít trong đó là giới trẻ” (Misericordia et misera, 3). Như lời dạy trong Tông huấn Laudato sì, sự đan xen của một tiêu chuẩn thuộc chủ nghĩa kỹ trị và một sự tìm kiếm điên cuồng những lợi nhuận ngắn hạn là căn bản của văn hóa “loại bỏ”, nó đã loại trừ hàng triệu con người, trong đó có rất nhiều giới trẻ, và dẫn đến sự bóc lột mù quáng những tài nguyên thiên nhiên và sự hủy hoại môi trường, đe dọa tương lai của những thế hệ sắp đến (x. 20-22).

Chúng ta cũng không được quên rằng nhiều xã hội thuộc nền tảng đa văn hóa và đa tôn giáo. Đặc biệt, sự có mặt của những tôn giáo khác nhau là một thách thức và là một cơ hội. Tình trạng này có thể dẫn đến sự bấp bênh và sự cám dỗ của chủ nghĩa tương đối, nhưng đồng thời, có thể tạo ra nhiều những cơ hội cho sự đối thoại có hiệu quả và làm phong phú lẫn nhau. Từ lợi điểm của niềm tin, tình hình này được xem như là dấu chỉ của thời đại của chúng ta, đòi hỏi phải lắng nghe, tôn trọng và đối thoại nhiều hơn.

2. Những Thế Hệ Mới

Thế hệ giới trẻ hôm nay sống trong một thế giới khác với thế giới của cha mẹ và của các nhà giáo dục của họ. Những thay đổi về kinh tế và xã hội đã ảnh hưởng đến toàn bộ nghĩa vụ và cơ hội. Những khát khao, nhu cầu, tình cảm của giới trẻ và những thói quen trong quan hệ với người khác cũng thay đổi. Hơn nữa, từ một quan điểm nào đó, giới trẻ, vì tính toàn cầu hóa, có khuynh hướng trở nên đồng nhất hơn ở mọi miền của thế giới. Tuy nhiên, họ vẫn ở lại trong những khu vực của mình và giữ lại những nền tảng văn hóa và cộng đồng duy nhất, chúng có những âm hưởng trong tiến trình xã hội hóa và tạo thành một giá trị riêng.

Sự thách đố của chủ nghĩa đa văn hóa hiện hữu theo cách rất đặc biệt trong thế giới của giới trẻ; ví dụ, với những đặc tính tiêu biểu của “những thế hệ thứ hai” (nghĩa là những bạn trẻ lớn lên trong một xã hội và văn hóa khác với cha mẹ của họ, do tình trạng di cư) hoặc, theo một ý nghĩa nào đó, những người con của cha mẹ “pha trộn” (từ ưu thế của sắc tộc, văn hóa và / hoặc tôn giáo).

Ở nhiều nơi trên thế giới, người trẻ đang phải trải qua những thử thách khắt khe tạo ra những khó khăn cho họ trong việc đưa ra những lựa chọn trong cuộc sống, thậm chí vì họ không có được cơ hội tối thiểu để dùng quyền tự do. Hoàn cảnh này bao gồm những bạn trẻ đang phải chịu đựng cảnh bần cùng và loại trừ; những người lớn lên không có cha mẹ hoặc gia đình, hay không thể đi học; những trẻ em hoặc thiếu niên nam nữ sống trên đường phố trong những khu ngoại ô; những bạn trẻ thất nghiệp, những người phải di tản và di dân; những người là nạn nhân của sự bóc lột, buôn người và nô lệ; trẻ em và những thanh niên bị cưỡng bức tuyển dụng vào các băng nhóm tội phạm hoặc các chiến binh du kích; và nạn tảo hôn cưỡng bức kết hôn ngược lại với ý muốn của các em. Quá nhiều trẻ em trên thế giới chuyển trực tiếp từ giai đoạn tuổi thơ sang trưởng thành với gánh nặng trách nhiệm mà các em không có lựa chọn. Thường thường các bé gái, các thiếu nữ và phụ nữ trẻ phải đối mặt với những khó khăn lớn hơn so với nam giới đồng trang lứa.

Những nghiên cứu được thực hiện ở mức độ quốc tế có thể giúp nhận dạng ra một số điểm đặc thù của giới trẻ trong thời đại của chúng ta.

  •  Thuộc về cộng đồng và đóng góp 

Giới trẻ không cho rằng họ là một tầng lớp thua thiệt hoặc một nhóm xã hội cần được bảo vệ hay, vì vậy, như là những người thụ động đón nhận các chương trình mục vụ hay các điều khoản. Nhiều người muốn đóng một phần tích cực trong tiến trình thay đổi diễn ra trong thời gian hiện tại này, như được khẳng định bởi những kinh nghiệm của sự tham gia và sự cách tân ở mức độ giáo dân, trong đó nhìn thấy giới trẻ đóng những vai chính, dẫn đầu cùng với những người khác.

Về một mặt, giới trẻ cho thấy một sự sẵn sàng và thiện ý để cam kết và tham gia vào những hoạt động cụ thể qua đó sự đóng góp cá nhân của mỗi người có thể là một cơ hội để tìm ra được giá trị của một người. Về mặt khác, họ thể hiện một sự khó chịu ở những nơi họ cảm thấy, cho dù đúng hay chưa đúng, họ thiếu những cơ hội để tham gia hoặc đón nhận sự động viên. Việc này có thể dẫn đến sự từ bỏ hoặc mất nhiệt huyết với những ý chí khát khao của họ, để ước mơ và để lập chương trình, như được thấy rõ trong sự lan truyền của hiện tượng NEET (“not in education, employment or training” [không đi học, không làm việc hoặc theo lớp huấn luyện], cụ thể là, giới trẻ không tham gia trong một hoạt động học tập hay việc làm hay huấn luyện ơn gọi). Sự khác biệt giữa những người trẻ thụ động và thoái chí với những người mạnh dạn và đầy nghị lực xuất phát từ những cơ hội cụ thể được trao cho mỗi người trong xã hội và gia đình qua đó con người phát triển, cộng với những kinh nghiệm của ý thức về ý nghĩa, những mối quan hệ và những giá trị được thành lập thậm chí trước khi bước vào giai đoạn tuổi trẻ. Ngoài tính thụ động, sự thiếu tự tin về chính bản thân và về những khả năng của họ có thể thấy rõ qua sự quan tâm quá mức về hình ảnh của chính mình và sự phục tùng ngoan ngoãn trước những mốt nhất thời chóng qua.

  • Những điểm tương quan cá nhân và cộng đoàn

Nhiều nghiên cứu khảo sát cho thấy rằng giới trẻ có nhu cầu về mối tương quan con người, những người gần gũi, đáng tin cậy, vững vàng và trung thực, cộng thêm với những nơi và những cơ hội để kiểm tra khả năng của họ có liên quan đến những người khác (cả người lớn và người đồng tuổi) và giải quyết những tình cảm và cảm xúc của họ. Giới trẻ tìm những người tương giao có thể bày tỏ sự cảm thông và đưa ra cho họ những sự hỗ trợ, động viên và giúp đỡ trong khi nhận ra những giới hạn của họ, nhưng không làm họ cảm thấy bị xét đoán.

Từ điểm thuận lợi này, vai trò của cha mẹ và gia đình là vô cùng quan trọng, tuy nhiên đôi khi rất rắc rối. Những thế hệ lớn thường có khuynh hướng đánh giá thấp tiềm năng của giới trẻ. Họ chú ý đến những yếu điểm của giới trẻ và không hiểu được những nhu cầu của những người trẻ tuổi. Cha mẹ và những nhà giáo dục lớn tuổi cũng phải ý thức được những lỗi lầm của họ và biết được những điều họ không muốn giới trẻ làm. Tuy nhiên, thường khi họ không có ý tưởng rõ ràng về cách giúp cho giới trẻ tập trung vào tương lai. Liên quan đến vấn đề này, hai phản ứng thường xuyên nhất là không nói gì cả và áp đặt những lựa chọn của họ. Những cha mẹ quá hờ hững hoặc quá quan tâm bảo vệ làm cho con cái của họ thiếu sự chuẩn bị để đối mặt với cuộc sống và có xu hướng đánh giá thấp những rủi ro tiềm ẩn hoặc lại quá bị ám ảnh bởi sự e sợ phạm lỗi.

Tuy nhiên, giới trẻ không chỉ tìm tương quan nơi những người lớn; họ có khát khao mạnh mẽ có mối tương quan với những người đồng tuổi. Do vậy, họ cần những cơ hội tương tác tự do với nhau, để có thể bày tỏ tình cảm và cảm xúc, để học hỏi theo một cách thân tình và để thử nghiệm những vai trò và những khả năng mà không bị căng thẳng và quá lo lắng.

Giới trẻ, thận trọng theo tính tự nhiên của những người đứng ngoài vòng những mối quan hệ cá nhân, thường xuyên mang những sự hồ nghi, thờ ơ hoặc tức giận đối với cộng đoàn. Thái độ này không chỉ ở ngoài xã hội nhưng ngày càng ảnh hưởng tới những tổ chức giáo dục và cộng đoàn Giáo hội. Họ muốn Giáo hội gần gũi hơn với con người và quan tâm hơn đối với những vấn đề xã hội, nhưng cũng biết rằng vấn đề này sẽ không xảy ra ngay lập tức.

Tất cả những điều này xảy ra trong một bối cảnh trong đó tư cách thành viên hội đoàn và thực hành tôn giáo là nét tiêu biểu của giới trẻ. Cho dù giới trẻ không thuộc bên “chống đối” mở, họ vẫn học cách sống “không cần” Thiên Chúa được trình bày trong Tin mừng và “không cần” Giáo hội, và tin tưởng vào những hình thức thay thế và giảm thiểu tính cộng đoàn tôn giáo và tâm linh hoặc tìm nơi nương náu trong các giáo phái hay những cách thực hành tôn giáo có sự xác định tư cách mạnh mẽ. Ở nhiều nơi, sự hiện diện của Giáo hội ít mở rộng hơn và, vì thế, trở nên khó gặp gỡ hơn, trong khi văn hóa thống trị mang những nhu cầu nhiều khi ngược lại với những giá trị của Tin mừng, cho dù nó là những yếu tố truyền thống của họ hay là hiện thực toàn cầu hóa của địa phương, được thể hiện đặc trưng bởi chủ nghĩa tiêu thụ và sự chú trọng quá mức vào cá nhân.

  • Hướng đến một thế hệ kết nối từ xa

Ngày nay, thế hệ trẻ thể hiện nét đặc trưng qua mối liên hệ với những công nghệ truyền thông hiện đại và điều thường được gọi là “thế giới ảo,” nhưng nó có những ảnh hưởng rất thật. “Thế giới ảo” này tạo ra sự truy cập tiềm năng đến hàng loạt cơ hội mà những thế hệ trước đó không có được, nhưng cũng không phải không có những nguy hiểm. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tập trung vào cách trải nghiệm mà những mối quan hệ qua trung gian công nghệ có thể tạo cấu trúc khung cho quan niệm về thế giới, thực tại và những mối quan hệ giữa cá nhân với nhau. Trên căn bản này, Giáo hội được kêu gọi phải đánh giá lại hoạt động mục vụ của mình, đây là điều cần để phát triển một văn hóa phù hợp.

3. Giới trẻ và những lựa chọn

Trong tính bất thường và tính bấp bênh đã được nói đến ở trên, sự chuyển đổi sang đời sống trưởng thành và việc xây dựng giá trị cá nhân càng đòi hỏi nhiều hơn một “loạt hành động có suy tư.” Người ta bị buộc phải định hướng lại hành trình đời sống của họ và liên tục chiếm hữu những chọn lựa của họ. Ngoài ra, cùng với sự lan rộng nền văn hóa phương tây, một quan điểm về sự tự do như là khả năng có được sự tiếp cận với những cơ hội mới đang hiện lên. Người trẻ từ chối tiếp tục theo một hành trình cuộc sống cá nhân, nếu nó mang nghĩa là phải từ bỏ những con đường khác nhau trong tương lai: “Hôm nay tôi chọn con đường này, ngày mai chúng ta xem lại.” Trong những mối quan hệ nhạy cảm như trong môi trường công việc, chân trời bao gồm những chọn lựa luôn có thể bị đảo ngược lại hơn là những chọn lựa dứt khoát.

Trong bối cảnh này, những cách tiếp cận cũ không còn hiệu quả và kinh nghiệm được truyền lại của những thế hệ đi trước nhanh chóng trở nên lỗi thời. Những cơ hội giá trị và những mối nguy hiểm hấp dẫn đan xen nhau trong một sự phức tạp không dễ tháo gỡ, vì thế cần phải có những biện pháp văn hóa, xã hội và tinh thần phù hợp, để tiến trình đưa ra quyết định không bị dừng lại và kết thúc, có thể là do sợ phạm lỗi, trải qua thay đổi hơn là hướng dẫn nó. Lấy những lời của Đức Thánh Cha Phanxico: “‘Làm sao chúng ta có thể làm thức tỉnh sự lớn lao và sự can đảm của những lựa chọn chung, của những thôi thúc của con tim để có thể đối mặt với những thách đố kinh viện và cảm tính?’ Cụm từ tôi thường sử dụng là: phải phiêu lưu! Phải phiêu lưu. Người không dám phiêu lưu thì không thể tiến bước. ‘Nhưng nếu tôi phạm lỗi thì sao?’ Chúc tụng Thiên Chúa! Bạn sẽ mắc nhiều lỗi hơn nếu bạn đứng im tại chỗ” (Diễn từ tại Làng Na-za-rét, 18 tháng Sáu 2016).

Khi đi tìm những cách để làm thức tỉnh lòng can đảm và những thôi thúc của con tim cần thiết phải xét đến việc chính con người của Đức Giê-su và Tin Mừng được Ngài loan báo tiếp tục lôi cuốn được nhiều người trẻ.

Khả năng lực chọn của giới trẻ bị cản trở bởi những khó khăn liên quan đến những tình trạng bấp bênh, cụ thể là, họ phải đấu tranh để tìm việc làm hoặc sự quá thiếu hụt những cơ hội làm việc; những trở ngại của họ để đạt được sự độc lập về kinh tế; và họ không có khả năng tiếp tục theo đuổi một sự nghiệp. Nói chung, những trở ngại này còn khó vượt qua hơn nhiều đối với giới trẻ nữ.

Sự khó khăn về kinh tế và xã hội của các gia đình, cách mà giới trẻ đón nhận những điểm đặc thù nào đó của văn hóa đương thời và sự ảnh hưởng của những công nghệ mới đòi hỏi khả năng thích ứng, theo nghĩa rộng nhất của nó, trước thách đố trong việc giáo dục giới trẻ. Đây là tính cấp thiết của nền giáo dục được nhấn mạnh bởi Đức Giáo hoàng Benedict XVI trong Thư gửi Thành phố và Giáo phận Roma về sự Cấp thiết của nền Giáo dục Giới trẻ của ngài (21 tháng Một 2008). Trên mức độ toàn cầu, những bất bình đẳng giữa các quốc gia cần phải được xét đến, cũng như ảnh hưởng của chúng đối với những cơ hội cho giới trẻ trong việc thúc đẩy sự hòa nhập trong các xã hội. Hơn nữa, những yếu tố văn hóa và tôn giáo có thể dẫn đến tình trạng loại trừ, ví dụ, sự bất bình đẳng giới tính, hay sự phân biệt đối xử chống lại những nhóm sắc tộc hoặc tôn giáo thiểu số, điều này là nguyên nhân lớn nhất làm cho giới trẻ trở lại tình trạng di cư.

Tình hình này đặc biệt làm cho sự thăng tiến những kỹ năng cá nhân trở nên cấp bách qua việc đưa họ vào một chương trình phát triển chung vững chắc. Giới trẻ hiểu rõ giá trị của cơ hội làm việc chung với nhau trong những dự án thực tế có thể đo được khả năng của họ để đưa đến kết quả, họ hiểu giá trị của việc thực hành quyền lãnh đạo được hướng dẫn để cải thiện môi trường họ đang sống và tìm kiếm những cơ hội để để đạt được và nâng cao, theo cách thực tế, những kỹ năng hữu dụng cho đời sống và công việc.

Sự đổi mới xã hội cho thấy một nét tích cực, nó làm đảo lộn điều kiện của những thế hệ trẻ, biến những người thua cuộc đang đi tìm kiếm sự bảo vệ tránh những nguy hiểm của những thay đổi thành các tác nhân thay đổi tạo ra những cơ hội mới. Điều quan trọng là những người trẻ — thường bị thu mình vào trong một lối sống thụ động và thiếu kinh nghiệm — đưa ra và thực hành những cách thay đổi khác để cho thấy thế giới hoặc Giáo hội như thế nào. Nếu xã hội hay cộng đồng Ki-tô hữu muốn thực hiện một điều gì đó để đổi mới trở lại, họ phải để không gian cho những con người mới hoạt động. Nói một cách khác, việc đưa ra những thay đổi tùy theo các nguyên tắc bền vững đòi hỏi phải để cho những thế hệ mới có thể trải nghiệm được một mô hình phát triển mới. Điều này là một vấn đề rất khó trong những quốc gia và các tổ chức nơi những người nắm giữ các vị trí trách nhiệm lãnh đạo ở độ tuổi cao và làm chậm lại nhịp độ thay đổi của thế hệ.

II. ĐỨC TIN, NHẬN THỨC, ƠN GỌI

Qua mỗi giai đoạn của Thượng Hội đồng, một lần nữa Giáo hội muốn nói lên khao khát của mình muốn gặp gỡ, đồng hành và quan tâm đến từng bạn trẻ, không loại trừ ai. Giáo hội không thể, và cũng không muốn, bỏ rơi họ vào tình trạng bị cô lập hoặc loại trừ mà thế giới đang bày ra trước mắt họ. Làm sao để đời sống của giới trẻ trở thành một trải nghiệm tốt lành; làm sao họ không bị đánh mất bản thân trong bạo lực hoặc cái chết; và làm sao sự thất vọng không giam hãm họ và làm cho họ trở nên thờ ơ, tất cả những điều này phải là sự quan tâm hàng đầu cho những ai đã đón nhận sự sống, được thanh tẩy trong đức tin và ý thức được rằng đây là những ân sủng lớn lao.

Vì những ân sủng này, sinh ra là một con người với trước lời hứa tiến đến một sự sống viên mãn, được đón nhận và được chăm sóc là trải nghiệm cơ bản nhất đưa vào trong tâm hồn mỗi người không những sự vững tin không bị rơi vào tình trạng thiếu ý nghĩa cuộc đời hay rơi vào bóng tối của cái chết, nhưng là hy vọng có thể được bày tỏ cá tính của một người trên hành trình đi đến sự viên mãn của cuộc sống.

Sự khôn ngoan của Giáo hội Đông phương rất hữu ích giúp nhìn thấy được lòng vững tin này, nó có thể làm nền tảng trong một phép loại suy “ba lần được sinh ra”: sinh tự nhiên, nghĩa là một người được sinh ra là nữ hoặc nam trong một thế giới có thể sắp xếp và hỗ trợ sự sống; tái sinh trong phép rửa tội “khi một người trở thành con cái của Thiên Chúa qua ơn sủng”; và một lần tái sinh thứ ba, tức là, hành trình “từ đời sống thể lý sang đời sống tâm linh đời sau,” mở ra cho một con người sự thực hành tự do viên mãn (x. Diễn thuyết của Philoxenus of Mabbug, một giám mục người Syria thế kỷ thứ năm, 9).

Tặng cho người khác những món quà mà một người đã được nhận có nghĩa là hỗ trợ họ và đồng hành bên cạnh họ trên hành trình khi họ phải đương đầu với những yếu đuối và khó khăn trong cuộc đời của họ, và đặc biệt hỗ trợ họ trong cách thi hành sự tự do vẫn đang được hình thành. Vì thế, Giáo hội, bắt đầu từ các Giáo sĩ của mình, được kêu gọi để tự kiểm tra và tái khám phá ơn gọi chăm sóc tha nhân của mình theo tinh thần được Đức Giáo Hoàng Phanxico đề ra ngay từ đầu triều đại của ngài: “…chăm sóc [và] bảo vệ những nhu cầu tốt lành; [họ] cần có lòng nhân hậu thực sự. Trong các sách Tin mừng, Thánh Giu-se xuất hiện như một người mạnh mẽ và can đảm, một con người lao động, tuy nhiên trong tâm hồn ngài chúng ta nhìn thấy sự nhân hậu vĩ đại, đây không phải là đức tính của người yếu đuối nhưng là một dấu chỉ của sức mạnh của thánh thần và một năng lực biết quan tâm, thương xót, sự mở lòng thực sự ra với tha nhân vì yêu thương (Bài giảng Bắt đầu Thừa tác vụ của Phê-rô của Giám mục Roma, 19 tháng Ba 2013).

Từ quan điểm này, một số ý tưởng bây giờ sẽ được trình bày liên quan đến việc hỗ trợ đồng hành với giới trẻ, bắt đầu với đức tin và việc lắng nghe truyền thống của Giáo hội, với mục tiêu rõ ràng là hỗ trợ họ trong việc nhận thức được ơn gọi và đưa ra những lựa chọn căn bản cho đời sống, bắt đầu từ việc nhận thức rằng một số những lựa chọn này là vĩnh viễn.

1. Đức tin và Ơn gọi

Đức tin là nhìn đến mọi việc theo cái nhìn của Chúa Giê-su (x. Thông điệp Ánh Sáng Đức Tin (Lumen fidei, 18). Đức tin là nguồn gốc của nhận thức ơn gọi, vì đức tin cung cấp nhận thức ơn gọi với những chương trình nền tảng của nó, sự phát triển cụ thể, phong cách cá nhân và nền giáo dục. Đón nhận món quà của ơn sủng này một cách vui mừng và sẵn sàng đòi hỏi phải làm cho nó trổ sinh hoa trái qua những lựa chọn cụ thể và kiên vững trong đời.

“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15:16-17). Nếu ơn gọi niềm vui yêu thương là tiếng gọi ban đầu mà Thiên Chúa đặt vào trong tâm hồn của mỗi bạn trẻ để sự hiện hữu của mỗi người sẽ trổ sinh hoa trái, đức tin vừa là ân ban trên cao và là tiếng trả lời cho sự cảm nhận của chính mỗi người được chọn và được yêu.

Đức tin “không có nơi trú ẩn cho những tâm hồn nhút nhát, nhưng là điều làm thăng tiến đời sống của chúng ta. Nó làm chúng ta ý thức được tiếng gọi cao quý, ơn gọi của tình yêu. Nó bảo đảm với chúng ta rằng tình yêu này rất giá trị và xứng đáng để ôm ấp lấy, vì nó được đặt trên nền tảng của sự trung tín của Thiên Chúa, điều còn mạnh mẽ hơn gấp nhiều lần những yếu đuối của chúng ta” (Thông điệp Ánh sáng Đức tin, Lumen fidei, 53). Đức tin này “trở thành một ánh sáng đủ sức soi sáng trong tất cả các mối quan hệ của chúng ta trong xã hội,” góp phần vào việc xây dựng “một tình huynh đệ phổ quát” giữa mọi người trong thời đại của chúng ta (nt., 54).

Kinh Thánh có nhiều trình thuật của những người trẻ tuổi đón nhận tiếng gọi và quyết định nghe theo tiếng gọi. Dưới ánh sáng của đức tin, họ dần dần ý thức được chương trình của tình yêu sâu thẳm của Thiên Chúa dành cho mỗi người. Đây là ý định của Thiên Chúa cho mọi người trong chương trình của Người, từ lúc tạo dựng vũ trụ như là một nơi “tốt đẹp”, một nơi đủ sức đón nhận sự sống và một nơi được tặng ban như một ân sủng trong hệ thống những mối tương quan được tin cậy.

Tin tưởng là biết lắng nghe Thần Khí và, với tất cả sức mạnh tinh thần và cảm xúc của một người, biết đối thoại với Ngôi Lời, Đấng là Đường, là Sự thật và là Sự Sống (x. Ga 14:6) và học cách biết tín thác vào Ngôi Lời, “là hiện thân của Ngôi Lời” trong những hoàn cảnh cụ thể của đời sống hàng ngày, trong những giây phút khi phải vác thánh giá và khi chúng ta trải nghiệm sự hân hoan được nhìn thấy những dấu hiệu của sự phục sinh, giống như “người môn đệ được yêu” đã nhìn thấy. Mỗi cộng đoàn Ki-tô hữu và từng người tín hữu đều phải đối mặt với thách đố này.

Nơi diễn ra sự đối thoại này là lương tâm. Như đã được dạy trong Công Đồng Vatican II, lương tâm “là trung tâm huyền bí nhất và là thánh điện của một người. Ở đó con người đối diện một mình với Thiên Chúa, Đấng lên tiếng nói từ tận thẳm sâu của con người” (Hiến chế Mục vụ Hội thánh, Gaudium et spes, 16). Vì thế lương tâm là một nơi không thể xâm phạm, nơi vang lên lời mời gọi đầy hy vọng. Nhận biết được tiếng gọi của Thần Khí giữa những tiếng gọi khác và quyết định thái độ trả lời là nhiệm vụ của mỗi người. Có những người khác có thể đồng hành và khẳng định một con người, nhưng họ không bao giờ có thể thay thế được vị trí của người đó trong vấn đề này. Cuộc sống và lịch sử dạy rằng con người không thể dễ dàng nhận ra hình thức cụ thể của niềm vui đó, niềm vui mà Thiên Chúa kêu gọi mỗi người và từng con người đều khao khát, cho dù hiện tại có những thay đổi và những bấp bênh lan rộng. Có những lúc, con người phải đương đầu với sự chán nản hay sức ép của những gánh nặng cảm xúc khác chặn đứng con người trên hành trình tiến đến sự viên mãn. Rất nhiều người đã trải qua điều này; ví dụ, người thanh niên có rất nhiều của cải và của cải đã ngăn anh ta không thể chấp nhận tiếng gọi của Chúa Giê-su, và vì lý do này, đã bỏ đi một cách buồn bã thay vì vui mừng (x. Mc 10:17-22). Sự tự do của con người, cho dù sự thật nó cần được thanh luyện và làm hoàn thiện, không bao giờ mất đi khả năng nền tảng nhận biết được điều tốt và thực hiện nó. “Con người, có thể làm những điều xấu nhất, nhưng vẫn có thể đứng dậy vượt lên bản thân mình, lựa chọn lại điều gì là tốt, và làm lại sự khởi đầu mới, bất kể điều kiện trí tuệ và xã hội” (Tông huấn Chúc tụng Chúa, Laudato si’, 205).

2. Ơn sủng Nhận thức

Đưa ra những quyết định và định hướng hành động của một người trong những hoàn cảnh bấp bênh và đối diện với những xung khắc của sức mạnh nội tâm là một nơi rất tốt để thực hành nhận thức, một thuật ngữ cổ điển của truyền thống Giáo hội áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau. Quả thật, một hình thức của sự nhận thức được thực hành qua việc đọc được những dấu chỉ của thời đại, điều này dẫn đến việc nhận ra sự hiện hữu và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong lịch sử. Sự nhận thức đạo đức phân biệt được điều tốt và điều xấu. Vẫn còn một sự nhận thức khác, sự nhận thức tâm linh, hướng đến việc nhận ra sự cám dỗ để từ chối nó tiến bước trên con đường dẫn đến sự viên mãn của sự sống. Sự kết nối của nhiều ý nghĩa khác nhau của những hình thức này rất rõ ràng, một sự kết nối không bao giờ có thể hoàn toàn tách biệt ra khỏi nhau.

Suy tư về điều này, trọng tâm nhắm tới cho thượng hội đồng là nhận thức ơn gọi, nghĩa là, tiến trình qua đó một người quyết định những lựa chọn nền tảng, trong sự đối thoại với Thiên Chúa và lắng nghe tiếng của Thần Khí, bắt đầu bằng việc lựa chọn bậc sống của họ. Vấn đề đặt ra là bằng cách nào để một người không lãng phí những cơ hội tự phát triển năng lực bản thân là phần quan trọng của mỗi con người. Đối với người tín hữu, vấn đề này trở nên thậm chí rộng lớn hơn và sâu sắc hơn, cụ thể là, con người phải sống tinh thần vui mừng của Tin mừng và đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa như thế nào, tiếng gọi mà Thiên Chúa kêu gọi từng người Ngài gặp gỡ, có thể trong hôn nhân, qua thừa tác vụ chức thánh hoặc đời sống tận hiến?

Tài năng của một con người có thể được đưa vào sử dụng tốt nhất ở đâu: một đời sống chuyên môn, công việc thiện nguyện, phục vụ người cần giúp đỡ hoặc tham gia vào đời sống dân sự và chính trị?

Thần Khí nói và hoạt động qua những việc xảy ra trong đời sống của mỗi người, những điều còn chưa rõ ràng hay mơ hồ, đến mức độ họ có thể mở ra những hướng giải thích khác. Lúc này cần phải có sự nhận thức rõ để tỏ lộ ý nghĩa của chúng và để đưa ra một quyết định. Ba động từ trong Tông huấn Niềm vui Tin mừng (Evangelii gaudium), 51, được sử dụng để mô tả sự nhận thức, cụ thể là, “nhận biết,” “làm sáng tỏ,” và “lựa chọn,” có thể giúp hướng dẫn trong việc vạch ra một lộ trình phù hợp cho các cá nhân hay nhóm và các cộng đoàn. Ý thức đầy đủ điều đó, trong cách thực hành, những ranh giới của những giai đoạn khác nhau không bao giờ được phác họa rõ ràng.

Nhận biết

Trên hết, sự “nhận biết” liên quan đến những việc xảy ra trong cuộc sống của một người, những người mà người đó gặp, và những lời nói mà người đó nghe thấy hay đọc được làm ảnh hưởng đến đời sống nội tâm, cụ thể là, “những khát khao, những cảm nhận và cảm xúc” khác nhau (Tông huấn Niềm vui yêu thương, Amoris laetitia, 143

Nguồn: zenit
Chuyển ngữ: TRI KHOAN 

Comments are closed.