Chọn lựa – Suy niệm CN XXIX TN năm A

0

CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN, NĂM A
CHỌN LỰA

187

LỜI CHÚA: Mt 22, 15-21

Hôm nay Chúa Giê-su bị đặt vào một tình thế khó xử nếu Ngài trả lời đó là luật phải giữ, Ngài bị coi là một người phản bội đối với sự nghiệp và tôn giáo Do Thái. Nếu Ngài nói nộp thuế không đúng luật, Ngài sẽ bị tố cáo chống lại Rô-ma. Trước sự thách thức như thế Chúa Giê-su chất vấn lại họ về lề luật, luật Do thái (luật đạo) và luật Roma (luật đời), và qua đó Người hỏi họ về đồng tiền thuế để dạy họ cách giữ luật thế nào cho phù hợp với ý của Thiên Chúa. Như Ngài đã khẳng định: “ Con Người đến không phải để hủy bỏ lề luật, nhưng để hoàn tất.” (x. Mt 5, 17-48).

Chúng ta biết rằng nhóm Biệt Phái tượng trưng cho tinh thần bất nhượng bộ về vấn đề tôn giáo. Họ quyết tâm bảo vệ sự tự do cho dân Chúa trước quyền bính Rô-ma tại Giu-đê, quyền bính này nằm trong tay tổng trấn mà đôi lúc, với sự hỗ trợ của binh lính, đã tỏ ra rất hà khắc. Còn nhóm Hê-rô-đê lại thân với Rô-ma, vì đế quốc nâng đỡ các quận vương xuất thân từ giòng tộc Hê-rô-đê Cả đang trị vì ở Galile và Pê-rê, nhóm chủ trương hợp tác với kẻ chiếm đóng vì sự hợp tác này có lợi cho họ. Như thế nên kế của họ rất độc, Đức Giê-su có ủng hộ hoàng đế hay chống lại đều có người tố cáo.

Câu hỏi: “Có được nộp thuế cho hoàng đế không?” Nếu Chúa Giê-su trả lời không là chuyện bình thường với những người chống lại hoàng đế. Đây là câu hỏi của người Biệt phái và cái gây vấn đề ở đây là sự nộp thuế.

Bẫy của câu hỏi này không nằm trong chính câu hỏi mà nằm trong cuộc tranh luận. Nếu Chúa Giê-su chấp nhận trả thuế thì dân chúng sẽ cho Ngài là một người phản quốc về phe đế quốc, bóc lột dân chúng. Nếu Ngài  tuyên bố không nộp thuế, nhóm Hê-rô-đê sẽ phản ứng tức khắc và sẽ có cớ để tố Ngài với tổng trấn là nổi loạn, chống đối việc nộp thuế.

Câu trả lời của Chúa Giê-su rất khôn khéo khiến đối thủ của Ngài nhận ra ngay rằng Ngài không phải là đối thủ của họ và Ngài thấu suốt lòng họ, Ngài nói sự thật không vị nể ai.

Ngài yêu cầu họ đưa đồng tiền thuế ra cho Ngài xem và giải thích hình ở trên đồng tiền để buộc họ phải lộ rõ tính cách giả hình nơi họ: nói thì ra vẻ tẩy chay hoàng đế mà sống thì lại ủng hộ hoàng đế. Chúa Giê-su buộc họ phải trở về với chính mình, Họ sẽ thấy cái bẫy mà họ giăng cho người khác mắc thì chính họ lại rơi vào.

Câu trả lời của Chúa Giê-su hôm nay cho đối thủ của Ngài hiểu rõ hơn điều họ chất vấn Ngài. Nếu đồng quan ấy là của hoàng đế thì hãy đem nó trả lại cho hoàng đế. Câu này có ý nghĩa cho mọi người, cho người mắc nợ, cho người bóc lột lẫn người bị bóc lột. Đối với người mắc nợ, nợ ai thì phải trả cho người đó, mắc ơn thì phải đền ơn. Còn người bóc lột phải nhớ rằng lấy của ai thì phải trả cho người ấy. Nếu đế quốc và thực dân bóc lột những nước bị trị thì phải đem của cải trả cho họ.

Câu trả lời của Chúa Giê-su thật khôn khéo không có sự đối chọi giữa đòi hỏi của luật pháp quốc gia và luật của Thiên Chúa. Luật pháp thế gian có chỗ đứng của nó nhưng không được hất cẳng Thiên Chúa. Từ nguyên tắc này, chúng ta suy ra một chân lý bất hủ: người Ki-Tô Hữu có thể trung thành với luật thế trần nếu luật đó không hất cẳng luật Thiên Chúa.

Ngày nay mọi Ki-tô hữu đều là công dân của hai nước: Nước Thiên Chúa và nước trần gian.

Nước Thiên Chúa: Tôi thuộc về Nước Thiên Chúa vì Người tạo dựng nên tôi, cho tôi hiện hữu trên trần gian này. Tôi hiện hữu không phải như các loài thảo mộc vô tri vô giác hay như các động vật không có linh hồn. Chúa dựng nên tôi giống hình ảnh Chúa, có xác có hồn. Chúa nuôi dưỡng tôi bằng khí trời trong mát, bằng thảo mộc xanh tươi, bằng hoa trái tươi tắn, bằng động vật thơm ngon…Chúa trang bị cho tôi những nhu cầu cần thiết để làm cho đời tôi hạnh phúc. Hơn nữa Chúa còn quan phòng, gìn giữ tôi bằng hàng rào ơn Thánh và lề luật của Ngài để tôi sống trọn bổn phận làm con Thiên Chúa. Và khi kết thúc cuộc đời trần thế tôi được xum vầy cùng Ngài trong Nước Vĩnh Cửu ngập tràn hạnh phúc.

Những ơn cao trọng này đòi hỏi tôi phải sống trọn bổn phận của một công dân  Nước Thiên Chúa. Tôi phải ưu tiên cho chọn lực này. Các Thánh tử đạo đã phải trả giá rất đắt khi phải chọn một trong hai.

Tuy vậy nhưng tôi còn sống trong dương gian này, tôi cũng phải chu toàn nghĩa vụ của nước trần gian, nơi tôi được sinh Ra và sinh sống. tôi mắc nợ nhiều lợi ích của quốc gia. Nhờ luật pháp mà tôi được sống hạnh phúc và bình an. Tôi mắc nợ những phục vụ công cộng như nước, ánh sáng, di chuyển. Tôi mắc nợ sự giáo dục, y tế và những thiện ích khác.

Những lợi ích này buộc tôi phải có nghĩa vụ đối với quốc gia. Nên luật đóng thuế thật chính đáng và người Ki-tô hữu phải kính trọng những quyền này. Họ phải là người công dân có trách nhiệm. Họ phải đóng góp phần mình để làm cho xứ sở mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Nếu họ không là một công dân tốt thì họ cũng không thể là Ki-tô hữu tốt được. Nên hôm nay Chúa trả lời cách thẳng thắn: “Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa. Của Xê-da trả về cho Xê-da.”

Trong nhiều trường hợp hai trách nhiệm này không trái ngược nhau. Nhưng là một Ki-tô hữu tốt chúng ta biết phải làm điều gì trước, điều gì sau.

Tuy nhiên, hai trách nhiệm này đôi khi không dễ dàng cho chúng ta chọn lựa. Câu trả lời của Chúa Giê-su chỉ là một nguyên tắc. Ngài không cho lý thuyết cách chi tiết về bổn phận đối với quốc gia hay chương trình hành động chi tiết cho sự liên hệ giữa Giáo hội và quốc gia, vì thực tế nó không luôn luôn dễ dàng để nói điều này thuộc về Xeda và điều kia thuộc về Thiên Chúa. Đời sống là một sự thống nhất nó không thể chia ra hai phần rõ ràng: Phần trần thế và phần tôn giáo.

Tuy nhiên, lịch sử cho chúng ta biết có nhiều sự chia rẽ giữa Giáo Hội và quốc gia vì quốc gia vượt quá thẩm quyền của mình. Khi Chúa nói hãy trả cho Xê-da những gì thuộc về Xê-da là một yêu sách chính đáng. Đôi khi người Ki-tô hữu bị đối đầu với một sự thật lưỡng nan là làm thế nào để là một ki-tô hữu trong thế giới này nơi mà luật pháp có thể phản đức tin. Tuy nhiên người ki-tô hữu thực sự sẽ tìm mọi cách phấn đấu để vừa là một công dân tốt của xứ sở mình và đồng thời cũng là công dân tốt của Nước Trời.

Câu trả lời của Chúa Giê-su thật tuyệt vời vì Ngài dạy phải chu toàn bổn phận của người công dân đồng thời cũng phải làm tròn bổn phận đối với Thiên Chúa.

Của Thiên Chúa phải trả cho Thiên Chúa. Tất cả những gì chúng ta có đều bởi Thiên Chúa. Tất cả những gì tốt lành, những gì không phải tội lỗi đều bởi Chúa ban cả thì có gì mà không phải trả cho Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã gắn nỗi bận tâm của con người vào với nỗi bận tâm của Thiên Chúa. Tương quan với con người muốn có nền tảng, muốn đúng hướng thì phải được xây dựng trên tương quan đúng với Thiên Chúa: Của Thiên Chúa phải trả cho Thiên Chúa.

Chúa Giê-su thật sự đang nói với chúng ta, Nước Trời ở bên kia thế giới: “ Nước Ta không thuộc về thế gian này.”( Ga 18,36). Chính vì thế mà thế gian này chỉ có giá trị khi nó phục vụ Nước Thiên Chúa. Tiền có giá trị thiêng liêng nếu nó dùng để chia sẻ. Quyền chính trị có giá trị nếu nó dùng để phục vụ. Và sức mạnh nhân loại chỉ có giá trị khi nó suy phục Thiên Chúa. Chúng ta phải trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa: Trí khôn, thân xác, trái tim được tạo dựng cho vinh quang của Thiên Chúa. Tất cả phải được dùng để phụng sự Thiên Chúa. Nhưng đôi khi chúng ta có thể nghiêng về nước trần gian và hết mình, hết tình cho trần thế, quên bẵng Nước Thiên Chúa là Nước mà đáng lẽ chúng ta phải hiến thân trọn vẹn suốt đời.

Xin Chúa cho chúng ta biết chu toàn nhiệm vụ trần thế của mình đồng thời cũng phải đặt Nước Trời trên hết và trước hết.

Nữ tu Maria Faustina Lý Thị Báu

Comments are closed.