Để Lời Kinh Mân Côi thêm sinh động.

0

Man Coi

Từ rất lâu lời kinh Mân Côi đã trở nên thật gần gũi, quen thuộc với đời sống cầu nguyện của người Kitô hữu. Tuy đơn sơ, giản dị nhưng có thể nói lời kinh ấy đã trở nên hơi thở của Giáo Hội qua những sinh hoạt đạo đức của các xứ đạo, các đoàn thể, các gia đình Công Giáo… Mọi nơi, mọi lúc bất kể thời gian không gian, lời kinh ấy vẫn được liên lỉ cất lên trên môi miệng hay trong âm thầm nhưng chúng ta có thật sự ý thức và hiểu về lời kinh chúng ta vẫn hằng cất lên? Tháng Mười – Tháng Mân Côi dành riêng cho Mẹ, là dịp thuận tiện để chúng ta nhau tìm về ý nghĩa sâu xa của từng lời trong kinh Mân Côi, ngõ hầu lời kinh chúng ta dâng lên Mẹ mỗi ngày được thêm sống động và sốt sắng hơn.

I. Nguồn gốc Kinh Mân Côi

Kinh Mân Côi nguyên tiếng Latinh là Rosarium, tiếng Anh, tiếng Pháp là Rose là hoa hồng tượng trương kinh Kính Mừng kết thành vòng hoa thiêng dâng kính Đức Mẹ như cổ thời Hylạp, và một số nước hiện nay, người ta làm vòng hoa tươi treo vào cổ trao tặng nhau. Trước kia người ta đếm kinh bằng hạt sỏi, dần dần người ta kết những hạt khác thành chuỗi Mân côi gọi là Rosary.

Thế kỷ XII, đối với nhiều người 150 Thánh vịnh dài quá không thể đọc được, nên người ta đọc 150 kinh Lạy Cha thay thế. Dần dần người ta đọc 150 kinh Kính Mừng thay 150 kinh Lạy Cha. Do đó thánh Đaminh gọi là “Thánh vịnh Đức Mẹ.” Sau này Đức Sixtô IV gọi tắt là “Thánh vịnh.” Bắt đầu kinh Kính Mừng chỉ gồm có lời chào của thiên sứ Gabriel: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng Bà” (Lc 1: 28), rồi được thêm lời chào của bà Thánh Elizabeth: “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và Con lòng Bà gồm phúc lạ” (Lc 1: 42).

Cũng trong thế kỷ XII, Đức Mẹ hiện ra trao truyền tràng hạt Mân côi cho Thánh Đaminh để cải hoá bè rối Albigensê đang tung hoành ở phía nam nước Pháp. Sang thế kỷ XIII, đời Đức Urbanô IV, Thánh Danh “Giêsu” được thêm vào. Thời đó người ta đọc 150 kinh Kính Mừng cùng với 150 kinh Lạy Cha, nghĩa là mỗi kinh Kính Mừng một kinh Lạy Cha. Đến thế kỷ XIV, thầy Henry Kalkar (1328-1408), dòng Carthusian do thánh Brunô sáng lập, chia 150 kinh Kính Mừng thành từng chục (10) mỗi chục một kinh Lạy Cha. Thế kỷ XV, Cha Đaminh Prussia (1384-1460) cũng dòng Carthusian chia 150 Kinh Kính Mừng thành 3 chỗi 50. Cũng trong thế kỷ này, Chân phúc Alanô de la Roche hay là De Rupe thêm phần suy niệm các mầu nhiệm trong khi lần chuỗi. Từ nay tràng kinh Mân Côi gọi là “Vòng hoa hồng”. Chân phúc Alanô nhiệt thành phổ biến kinh Mân Côi mà Đức Mẹ đã trao truyền cho Thánh Đaminh. Chân phúc Alanô thành lập Hội Mân Côi năm 1480 và được Đức Mẹ hứa ban 15 ơn cho những ai trung thành đọc kinh Mân Côi. Năm 1521, Cha Albertô da Castello, O.P, sửa lại mỗi kinh Lạy Cha với một mầu nhiệm. Năm 1569, Đức Thánh Piô V với bửu sắc “Consueverent Romani Pontifices” thêm phần thứ hai kinh Kính Mừng: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời…” với kinh Sáng Danh, và ấn định kinh Mân Côi như chúng ta đọc ngày nay gồm năm sự Vui, năm sự Thương, và năm sự Mừng.[1] Riêng đối với mầu nhiệm năm Sự Sáng, mãi sau này mới được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thiết lập qua Tông Thư Rosarium Virginis Mariae ban hành ngày 16.10.2002.[2]

II. Hình thức và bản chất kinh Mân Côi

Ta dễ dàng nhận thấy về hình thức bên ngoài Kinh Mân Côi bao gồm hai cách thức của một lời cầu nguyện: tâm nguyện và khẩu nguyện. Tâm nguyện đó là sự suy ngắm các mầu nhiệm chính về đời sống, sự chết và vinh quang của Đức Giêsu và Mẹ Người qua các mầu nhiệm: Vui, Sáng, Thương, Mừng. Phần khẩu nguyện nằm ở việc đọc các kinh Kính Mừng, mỗi chục được bắt đầu bằng một kinh Lạy Cha và trong khi đọc thì suy ngắm và như chiêm ngắm các nhân đức chính yếu của Chúa Giêsu và Mẹ người. Như vậy, kinh Mân Côi gồm việc suy niệm trong tâm trí và việc đọc ngoài miệng, để tôn kính và bắt chước những nhân đức thể hiện trong cuộc đời công khai, trong cuộc khổ nạn, chết và sống lại vinh quang của Chúa Giêsu và của Mẹ Maria.[3]

Về bản chất Kinh Mân Côi liên quan đến tính cách Kitô học, nghĩa là tuy mang danh là để tôn kính Mẹ Maria, nhưng nguồn gốc và nội dung thâm sâu của Kinh Mân Côi lại là một việc tôn thờ Chúa Giêsu. Các mầu nhiệm về cuộc đời, sự chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu được nhắc đi nhắc lại trong Kinh Mân Côi như lời Đức Giáo Hoàng Gioan paulo II đã xác định trong Tông Thư Rosarium Virginis Mariae: “Kinh mân côi, dầu rõ ràng gắn liền với Đức Maria, chủ yếu là một lời kinh lấy Đức Kitô làm trung tâm. Qua vẻ giản dị của các yếu tố, lời kinh có được chiều sâu của toàn bộ sứ điệp tin mừng, mà ta có thể gọi là một bản tóm lược. Qua lời kinh ấy vang vọng lại lời kinh của Đức Maria, kinh Magnificat ca ngợi việc Nhập thể cứu chuộc đã khởi sự trong cung lòng trinh khiết của Ngài. Với kinh Mân Côi, dân Kitô giáo theo học tại ngôi trường của Đức Maria và được dẫn đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp trên dung nhan của Đức Kitô và kinh nghiệm chiều sâu thẳm tình yêu của Người.”[4] Kế đến, kinh Mân Côi liên quan đến vấn đề nhân loại học siêu nhiên, vì Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Mầu Nhiệm Con Người[5] nghĩa là, nhờ chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô qua Mầu Nhiệm Mân Côi, chúng ta biết được ơn gọi làm người của mình và sống trọn vẹn ơn gọi ấy.[6]

III. Giá trị Kinh Mân Côi

Kinh Mân Côi có tác dụng xây dựng hòa bình, bởi một con người thực sự muốn cùng Mẹ Maria chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô, không thể nào lại là một con người sống hận thù chia rẽ, nhưng họ phải là một con người sẵn sàng dấn thân xây dựng hòa bình. Trong Tông thư Rosarium Virginis Mariae, số 40, Đức Giáo Hoàng Gioan Paulo II đã xác quyết về điều này như sau:“Tự bản chất, kinh Mân côi là lời kinh cầu cho hoà bình, vì nó hệ tại ở việc chiêm ngưỡng Đức Kitô, Hoàng tử Hoà bình, là sự bình an của chúng ta (Ep 2,14). Bất cứ ai đồng hoá với mầu nhiệm Đức Kitô – và rõ ràng đó là mục tiêu của Kinh mân côi – thì sẽ học được bí quyết của hoà bình và biến nó thành dự phóng của đời sống mình. Hơn nữa, nhờ tính chất suy niệm của nó, với sự tiếp nối thanh thản các Kinh Kính mừng, Kinh Mân côi đem lại sự an bình nơi người cầu nguyện, tạo điều kiện cho họ đón nhận và cảm nghiệm tận đáy lòng, và gieo vãi ra chung quanh, hoà bình đích thật vốn là quà tặng đặc biệt của Chúa Phục Sinh (x. Ga 14,27; 20,21). 

Kinh Mân côi cũng là lời kinh cầu cho hoà bình, vì những hoa trái bác ái mà nó sản sinh. Khi được thực hiện tốt theo một thể thức suy ngắm đích thật, Kinh mân côi dẫn ta đến gặp gỡ Đức Kitô trong các mầu nhiệm của Người, và vì thế, ta không thể không quan tâm tới dung nhan Đức Kitô nơi những người khác, nhất là nơi những người đau khổ nhất. Làm sao ta có thể chiêm ngưỡng mầu nhiệm Hài nhi ở Bê-lem trong năm sự vui, mà không có lòng khao khát đón nhận, bảo vệ và cổ võ sự sống, và mang lấy gánh nặng của các trẻ em đang đau khổ trên toàn thế giới? Làm sao ta có thể bước theo vết chân Đức Kitô, Đấng Mạc khải, trong các mầu nhiệm sự sáng, mà không cương quyết làm chứng cho các mối phúc lộc của Người trong đời sống hằng ngày? Và làm sao ta có thể chiêm ngưỡng Đức Kitô vác Thánh giá và chịu dóng đinh, mà không nhận thấy cần phải hành động như ông Xi-mong thành Xy-rê-nê để nâng đỡ những anh chị em quằn quại đau đớn và ê chề thất vọng? Cuối cùng, làm sao ta có thể chiêm ngắm vinh quang của Đức Kitô Phục sinh và của Đức Maria, Nữ vương Thiên đàng, mà không khao khát làm cho thế giới này đẹp hơn, công bằng hơn và phù hợp sít sao hơn với kế hoạch của Thiên Chúa?

Kinh Mân Côi có thể cứu vãn tình trạng khủng hoảng hôn nhân và gia đình trong thời đại tân tiến hiện nay. Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến giá trị này nơi những con người cầu nguyện với kinh Mân Côi, tức là một con người thực sự muốn cùng Mẹ chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô qua các Mầu Nhiệm Chúa Kitô, không thể nào lại là người cha, người chồng hay người vợ, người mẹ bê bối được, không thể nào đi đến chỗ đổ vỡ hôn nhân và tan nát gia đình được, trái lại, họ còn sẵn sàng hy sinh tất cả để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình theo gương mẫu Thánh Gia Nazarét[7] như lời khẳng định: “Là một kinh nguyện cầu cho hòa bình, Kinh Mân Côi còn là và bao giờ cũng là một kinh nguyện của gia đình và cho gia đình. Có một thời kinh nguyện này được các gia đình Kitô giáo đặc biệt mến chuộng, và kinh này chắc chắn đã làm cho họ gắn bó với nhau hơn. Vấn đề quan trọng là đừng làm mất đi cái gia sản quí báu ấy. Chúng ta cần phải trở lại với việc gia đình cầu nguyện và cầu nguyện cho gia đình, bằng cách tiếp tục đọc Kinh Mân Côi. Gia đình cùng nhau cầu nguyện là gia đình cùng nhau chung sống. Kinh Mân Côi Thánh, theo truyền thống lâu đời của mình, đã cho thấy công hiệu đặc biệt của mình như là một kinh nguyện làm cho gia đình chung sống với nhau. Những phần tử của mỗi gia đình, khi hướng mắt nhìn lên Chúa Giêsu, cũng lấy lại được khả năng nhìn vào mắt của nhau, khả năng nói chuyện với nhau, khả năng chứng tỏ tình đoàn kết gắn bó với nhau, khả năng tha thứ cho nhau, và khả năng nhìn thấy giao ước yêu thương của họ được canh tân trong Thần Linh Chúa. Các gia đình đương thời hiện nay đang phải đối diện với nhiều vấn đề, nhất là trong những xã hội phát triển về kinh tế, gây ra bởi tình trạng họ càng ngày càng cảm thấy khó nói chuyện trao đổi với nhau hơn. Các gia đình ít khi tổ chức việc qui tụ các phần tử gia đình của mình lại với nhau, và khi họ thực hiện những cơ hội hiếm hoi này thường lại là việc họ ngồi coi truyền hình. Vấn đề quay về với việc lần hạt Mân Côi gia đình nghĩa là việc làm cho đời sống thường nhật tràn đầy những hình ảnh khác hẳn, những hình ảnh về mầu nhiệm cứu độ, tức hình ảnh về Đấng Cứu Chuộc, hình ảnh về Người Mẹ Rất Thánh của Người. Gia đình đọc Kinh Mân Côi chung với nhau làm phát sinh một cái gì đó giống như bầu khí của ngôi nhà Nazarét, ở chỗ, các phần tử của gia đình lấy Chúa Giêsu làm tâm điểm của mình, biết cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, biết đặt các nhu cầu và dự định của mình vào bàn tay của Người, biết tìm kiếm từ nơi Người niềm hy vọng và sức mạnh để tiến bước”.[8]

IV. Bí mật kinh Mân Côi

1. Lời kinh Chúa dạy

Chúng ta biết rằng Kinh Lạy Cha là lời kinh và cũng là lời cầu nguyện có giá trị cao cả bởi đó là lời kinh chính Đức Giêsu đã dạy. Lời kinh ấy chứa đựng những đặc tính của một lời cầu nguyện tuyệt vời: tin tưởng, ngay chính, thứ tự, thành tâm và khiêm tốn mang lại cho chúng ta những lợi ích thiết thực như một phương thuốc hiệu quả giúp ta chống lại sự xấu, là phượng tiện hữu ích và hiệu quả để đạt được những điều chúng ta ước muốn và sau cùng biến đổi chúng ta trở nên những người thân thuộc với Thiên Chúa. Khi dùng miệng lưỡi của mình công bố lời kinh thần linh này, chúng ta thực hiện nhiều tác động nhân đức cao trọng của đức tin Kitô giáo[9]. Kinh nguyện Chúa Giêsu dạy mở đầu với lời cầu “Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Lời kinh ngắn gọn nhưng từng cụm từ trong đó chứa đựng những ý nghĩa thật sâu xa.

  • Lời nguyện mở đầu
    • Lạy Cha

Thánh Toma Aquino cho chúng ta thấy Thiên Chúa là Cha chúng ta theo ba nghĩa: Trước hết, khác với các thụ tạo khác, Thiên Chúa đã tạo dựng nên ta giống hình ảnh Ngài như lời sách Đệ Nhị Luật đã nói: “Chính Ngài là Cha ngươi, Đấng dựng nên ngươi, Đấng tạo thành và củng cố.” (Đnl 23,6). Thứ đến, Ngài cai quản ta theo một cách thức đặc biệt là để cho chúng ta làm chủ chính mình và dạy dỗ chúng ta như một người Thầy chứ không cai quản chúng ta như những người nô lệ. Vì vậy mà sách Khôn ngoan đã viết: “Lạy Cha, chính Cha quan phòng hướng dẫn mọi vật” (Kn 14,3) và “Ngài lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản chúng con.” (Kn 12,18). Sau cùng, Ngài đã nhận ta làm con và cho chúng ta được đồng thừa tự với Người như lời Thánh Phaolo đã khẳng định: “đã là con thì cũng là thừa kế.” (Rm 8, 17)

Thiên Chúa đã nhận ta làm con, thì trong cương vị là con cái chúng ta cũng cần phải chu toàn bổn phận làm con của mình. Đó là những bổn phận nào? Thưa đó là lòng tôn kính được diễn tả qua lời ngợi khen, chúc tụng không chỉ trên môi miệng nhưng bằng cả tâm hồn. Bắt chước Cha sống yêu mến, thi thố lòng thương xót và hướng đến sự thánh thiện hoàn hảo như lời mời gọi: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.” (Mt 5, 48). Nhận ra và vâng phục thánh ý qua từng biến cố trong đời sống thường ngày và kiên nhẫn đón nhận những thử thách Chúa gửi đến[10].

  • Chúng con

Trong kinh Lạy Cha, Đức Giêsu hướng dẫn chúng ta cách thưa chuyện với Thiên Chúa bằng cách gọi Ngài là Cha, nhưng không phải là “Cha của con” mà là “Cha chúng con”. Không phải là cách gọi ngẫu nhiên nhưng điều này nhắc nhớ chúng ta về hai bổn phẩn cần có đối với tha nhân đó là yêu thương và tôn trọng họ, ngõ hầu chúng ta được ích lợi như lời Thánh Phaolo đã quả quyết: “Đối với những ai tùng phục Người, thì Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu.” (Dt 5,9)[11]

  • Ở trên trời

Tín thác là điều kiện quan trọng nhất của cầu nguyện như lời thánh Giacobe nhắc nhở: “hãy xin với lòng tín thác không chút do dự.” (Gc 1,6) Vì thế khi dạy chúng ta cầu nguyện, Đức Giêsu đã trình bày cho chúng ta hai điều gây ra lòng tin tưởng ấy đó là lòng từ bi vô biên và quyền năng vô hạn của Thiên Chúa. Cụm từ “Ở trên trời” ám chỉ việc Thiên Chúa dễ dàng lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta, đồng thời cũng gợi lên uy quyền của Đấng sẽ nhậm lời chúng ta cầu xin.[12]

  • Ba lời nguyện tôn vinh

Xin cho danh cha cả sáng, chúng ta bày tỏ lòng nhiệt thành bừng cháy cho vinh quang của Ngài[13], bởi danh Ngài thật kỳ diệu, rất đáng mến, thật đáng tôn kính và không thể diễn tả[14]. Xin cho Nước Chúa lan rộng, trong tinh thần vâng phục của đức cậy, chúng ta ước mong cho ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Đâu là ý nghĩa của lời xin này? Chúng ta nên biết có ba điều Thiên Chúa muốn cho con người đó là: cho con người được sự sống đời đời, sự sống ấy có được nhờ tuân giữ các giới răn của Chúa, nhờ đó con người được phục hổi phẩm giá như thuở ban đầu. Vậy khi xin cho “ý Cha được thể hiện” là chúng ta xin cho những điều Thiên Chúa muốn cho chúng ta được thực hiện.[15]

  • Bốn lời cầu xin

Thánh Toma Aquino phân tích nội dung lời kinh để khám phá ra những bài học luân lý khi chúng ta xin Chúa ban cho những vật chất trần thế, đó là tránh: ước mong nhiều điều không cần thiết (bánh là lương thực cần thiết chứ không phải là thứ xa hoa); chiếm đoạt tài sản của người khác (xin bánh của chúng con chứ không xin bánh của người khác); tham lam vô độ (xin bánh cho hôm nay chứ không xin cho cả năm); tiêu pha lãng phí; vô ơn (cần ý thức mọi sự lành đều bởi Chúa).[16]

Chúng ta được mời gọi sống tinh thần khó nghèo và thoát ly khỏi thế tục khi đọc lời “Xin cho chúng con lương thực hằng ngày”. Tiếp theo, chúng ta ý thức và ăn năn về tội lỗi của mình với lời cầu: “xin tha nợ chúng con” để chúng ta có thể thực hiện nhân đức yêu thương khi biết “tha cho kẻ có nợ chúng con”, nhờ đó chúng ta được Thiên Chúa giúp “sa chước cám dỗ” và thực hiện đức nhẫn nại khi trông chờ ngày Ngài “cứu chúng con cho khỏi sự dữ.”[17]

  • Lời thưa Anmen

Lời kinh kết thúc bằng từ Amen, Amen nghĩa là ước gì những điều chứa đựng trong lời kinh mà Chúa đã dạy chúng ta được thành sự. (Thánh Xyrilô thành Giêrusalem)  

2. Kinh Kính Mừng

Xét theo cơ cấu hiện hành kinh Kính Mừng gồm hai phần: phần đầu là lời chúc tụng được trích từ từ Tin Mừng theo Thánh Luca chương 1, các câu 28 và 42: đó là lời chào của sứ thần Gabriel khi truyền tin và lời chào của bà Elisabet khi thăm viếng. Khác với Kinh Lạy Cha được Tân ước xác định bằng một mẫu thức rõ ràng (Mt 6, 9-13 và Lc 11, 9-13), kinh Kính Mừng không có mẫu thức xác định nhưng được ráp nối tiệm tiến theo thời gian (như đã trình bày ở phần nguồn gốc). Phần thứ hai, mang tính cách khẩn nài: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Anmen”. Phần này mới chỉ được thêm vào từ thế kỷ XIV, lúc đầu với công thức ngắn trích từ kinh cầu các Thánh (Thánh Maria, cầu cho chúng tôi). Về sau mỗi dòng tu và địa phương thêm thắt vài danh hiệu của mẹ hoặc kể lể vài hoàn cảnh của các tín hữu; vì thế mà mỗi nơi đọc kinh Kính Mừng một cách khác nhau, mãi cho đến khi Đức Giáo Hoàng Pio V công bố sách nguyện cải tổ theo quyết nghị của Công Đồng Trento (1568) thì Tòa Thánh mới ấn định một hình thức nhất định trong toàn thể Giáo Hội.[18]

Trong khi chú giải lời kinh ngắn ngủi này, Thánh Tiến Sĩ Thiên Thần đã kể cho chúng ta hai câu chuyện thần học về danh xưng của Đức maria và tình trạng ân sủng của Người.

  •  Danh xưng Maria

Danh xưng Maria được Thánh Toma giải thích là kẻ mang ánh sáng trong mình, bà chủ và sao biển. Thực ra Maria (Miryam) là tên gọi của nhiều phụ nữ Do Thái: Maria Madalena, Maria em Matta, Maria vợ ông Cleophat… nhưng nó lại trở nên nổi tiếng với Thân mẫu của Đức Giêsu vì rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để đào sâu ý nghĩa của tên gọi ấy. Ngoài ra, còn có giả thiết cho rằng Miryam gốc bởi tiếng Ai Cập có nghĩa là: “kẻ được Thiên Chúa sủng ái.”[19]

  •  Ân sủng của Đức Maria

Do ảnh hưởng của Thánh Augustino, hầu hết các nhà thần học đều chủ trương Đức Maria có mắc tội tổ tông[20], vì cho rằng nếu không mắc tội tổ tông thì Đức Maria không cần đến ơn cứu chuộc của Đức Kitô. Ngay cả Thánh Toma Aquino cũng nghĩ như thế khi thực hiện Tổng luận Thần học của mình. Tuy nhiên, khi thực hiện chú giải lời kinh Kính Mừng vào cuối đời, Thánh nhân đã thay đổi ý kiến. Ngài xác định, Đức Maria đầy ân sủng hơn các Thánh nhưng vẫn thua Đức Kitô. Đức Kitô thì tinh tuyền trước khi đầu thai, còn Đức Maria thì được tinh tuyền trong lòng Mẹ, Như vậy, phải chăng Đức Maria đã mắc tội nguyên tổ lúc đầu thai? Câu trả lời không đơn giản. Thánh nhân giải thích, Đức Kitô đã hiện hữu trước khi thành thai trong lòng Mẹ và vẫn tinh tuyền, còn Đức Maria trước khi thành thai thì chưa hiện hữu, vì thế không thể khẳng định Mẹ mắc tội hay không mắc tội? Tuy nhiên, đến khi chú giải lời: “Đức Chúa ở cùng bà” thì Thánh nhân lại khẳng định Đức Maria vượt xa các thiên thần về sự tinh tuyền, bởi Mẹ không mắc tội nguyên tổ cũng như hình phạt của tội này.[21]

  • Ý nghĩa lời kinh

Lời Thiên sứ Gabriel chào Đức Maria là lời ca tuyệt diệu nhất chúng ta có thể chúc tụng vinh quang Thiên Chúa, bởi mọi sự tôn kính dành cho Mẹ đều sẽ tự động quy về Thiên Chúa là Đấng mà mọi nhân đức và mọi sự trọn hảo thuộc về Người. Cũng nhờ lời chào ấy mà Mẹ được nâng lên địa vị Mẹ Thiên Chúa. [22] Với lời  chào “kính chào Maria đầy ân phúc” Mẹ hiểu rằng Thiên Chúa quyền năng đã gìn giữ Mẹ khỏi mọi tội lỗi và bất hạnh mà Eva đã gánh chịu để rồi Mẹ trở nên trung gian chuyển trao ơn Chúa đến cho những ai nương nhờ Mẹ. Lời kinh “Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người nữ” làm sống lại niềm vui khôn tả khi được diễm phúc cưu mang Ngôi Lời Nhập Thể và lời chúc tụng Mẹ không ngừng dâng lênThiên Chúa – Đấng đã ban cho Mẹ niềm vinh dự ấy. Không một thụ tạo nào được gần gũi, thân thiết với Đấng Tạo hóa như Mẹ: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ở trong Mẹ. Quả thật, Chúa Cha ở trong Mẹ vì Người không bao giờ tách rời con của Người, Đấng mà Đức Maria đang cưu mang trong lòng. Con Một Thiên Chúa ở trong lòng Mẹ như lời ngôn sứ Isaia: “Hỡi nhà Sion, hãy hớn hở reo hò, bởi vì Đấng Thánh của Israel ngự ở trong ngươi”. (Is 12,6). Người trở thành con Mẹ đang khi vẫn là Chúa các đạo binh thiên sứ. Mẹ cưu mang Đức Kitô do quyền năng Thánh Thần[23] bởi đó, Thánh Linh ngự trong Mẹ như là trong Đền thờ của Người.[24]  Sau cùng với lời: “Giêsu, con lòng bà gồm phúc lạ” chúng ta cùng chung chia niềm vui vì Con Mẹ là Đức Kitô được thờ kính và tôn vinh vì đã cứu chuộc loài người.[25]

  • Lời khẩn nài của Hội Thánh

Thánh Maria Đức mẹ Chúa trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”. Ý thức bản tính mỏng giòn, yếu đuối của phận người khó tránh khỏi những lần sa đi ngã lại trong tội lỗi, chúng ta dâng lên Mẹ lời khẩn nguyện trong tâm tình khiêm tốn, phó thác, cậy trông để nhờ Mẹ nguyện giúp cầu thay, chúng ta sống trọn vẹn hơn ơn gọi làm con Chúa.

4. Kinh sáng danh

Nguyên thủy bản kinh Sáng Danh được đọc như sau: Sáng danh Đức Chúa Cha NHỜ Đức Chúa Con TRONG Đức Chúa Thánh Thần”. Nhưng về sau, do ảnh hưởng việc Giáo Hội chống lại bè rối Ariô, một bè rối từ chối Thần Tính của Chúa Giêsu, nên bản kinh được đổi thành: “Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần”.[26] Lời kinh nhắc chúng ta nhớ về mầu nhiệm trung tâm của Kitô giáo – Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, Một Thiên Chúa nhưng có Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Hạnh phúc vì được Thiên Chúa yêu thương và nhận làm con dẫu chúng ta bất xứng, đòi hỏi chúng ta phải luôn sống tâm tình tri ân, không ngừng tán tụng Chúa qua lời kinh Sáng Danh một cách sốt sắng và đầy ý thức.

Tạm kết

Tạm dừng những góp nhặt khiêm tốn của mình bằng lời của Đức Giáo Hoàng Gioan Paulo II trong Tông Thư Rosarium Virginis Mariae, số 39 với hy vọng mỗi ngày bản thân sẽ ý thức hơn khi cất lên lời kinh Mân Côi không chỉ trong tháng Mân Côi này nhưng còn trài dài trong suốt cuộc lữ hành đức tin của người tín hữu Kitô, để nhờ lời Mẹ Maria chuyển cầu ngày có thêm nhiều người nhận biết và yêu mến Mẹ qua tràng chuỗi mân Côi:  “Những điều đã nói trên đây làm sáng tỏ khá đầy đủ sự phong phú của kinh nguyện truyền thống này, vốn có tính chất mộc mạc của lòng đạo đức bình dân, nhưng cũng có chiều sâu thần học của việc cầu nguyện thích hợp cho những ai cảm thấy nhu cầu chiêm ngưỡng thâm sâu hơn. Giáo hội luôn luôn tin tưởng vào hiệu năng của lời cầu nguyện này, khi giao phó cho Kinh Mân côi, đọc chung trong cộng đoàn và thường xuyên thực hành, những vấn nạn nan giải nhất. Trong những khi Kitô giáo dường như gặp nguy hiểm, sự giải thoát được gán cho sức mạnh của Kinh Mân côi, và Đức Bà Mân côi được tôn vinh như là Đấng nhờ lời chuyển cầu đã đem lại ơn cứu độ.”[27] 

 

                                                                                                                        Sr. Maria. Trần Vân 

[1] Linh mục Phêrô.CMC, Nguồn gốc và ý nghĩa của Kinh Mân Côi, 7/10/2015

[2] Tông Thư Rosarium Virginis Mariae, số 21

[3] Louis De Monfort, dịch giả Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. BVL, Bí mật Kinh Mân Côi, trang 26

[4] Tông Thư Rosarium Virginis Mariae, số 1

[5] Ibid, tiêu đề số 25

[6] Hiến Chế Vui Mừng Và Hy Vọng, số  22

[7] Louis De Monfort, dịch giả Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. BVL, Giá Trị Kinh Mân Côi nơi Tông Thư Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria

[8] Tông Thư Rosarium Virginis Mariae, số 41

[9] Giuse Nguyễn Thanh Tâm. OP, Kinh lạy Cha và Kinh Kính mừng theo chú giải của Thánh Toma Aquino, trang 11-16

[10] Ibid, trang 20 – 22

[11] Ibid, trang  22 -23

[12] Ibid, trang 18 – 27

[13] Louis De Monfort, dịch giả Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. BVL, Bí mật Kinh Mân Côi, trang 78

[14] Giuse Nguyễn Thanh Tâm. OP, Kinh lạy Cha và Kinh Kính mừng theo chú giải của Thánh Toma Aquino, trang 32 -33

[15] Ibid, trang 48 – 52

[16] Ibid, trang 56

[17] Louis De Monfort, dịch giả Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. BVL, Bí mật Kinh Mân Côi, trang 79

[18] Giuse Nguyễn Thanh Tâm. OP, Kinh lạy Cha và Kinh Kính mừng theo chú giải của Thánh Toma Aquino, trang 94 – 96

[19] Phan Tấn Thành, Manificat, trang 97 -98

[20] Đạo lý về Đức maria Vô Nhiễm Nguyên Tội đưcọ định tín do Đức Thánh Cha Pio ngày 8/12/1854. Vào thế kỷ XIII, các nhà Thần học còn đang tranh luận.

[21] Giuse Nguyễn Thanh Tâm. OP, Kinh lạy Cha và Kinh Kính mừng theo chú giải của Thánh Toma Aquino, trang97 -99

[22] Louis De Monfort, dịch giả Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh. BVL, Bí mật Kinh Mân Côi, trang 85

[23] x. Lc 1, 35

[24] Giuse Nguyễn Thanh Tâm. OP, Kinh lạy Cha và Kinh Kính mừng theo chú giải của Thánh Toma Aquino, trang 106

[25] Ibid, trang 88

[26] Trầm Thiên Thu, Kinh Sáng danh, 17/5/2015

[27] Tông Thư Rosarium Virginis Mariae, số 39

Comments are closed.