Giải đáp thắc mắc về Thánh lễ (Tiếng Việt – English – Français): 02- Diễn tiến lịch sử hình thành Thánh lễ ra sao?

0

Lm. Giuse Vũ Thái Hòa

Được sự cho phép của Linh mục Giuse Vũ Thái Hòa, giáo sư Phụng vụ và là tác giả cuốn “40 câu hỏi về Thánh lễ”, Ban Truyền Thông sẽ lần lượt đăng các câu hỏi và lời giải đáp cho những vấn đề mà nhiều người vẫn thường thắc mắc về Thánh lễ, nhằm giúp chúng ta hiểu hơn về những cử hành Phụng vụ mà chúng ta đã từng tham dự. Các câu hỏi và giải đáp này sẽ được đăng bằng ba ngôn ngữ: Tiếng Việt, English và Français để các bạn trẻ ở nước ngoài cũng có thể đọc được.

Người ta nói “vô tri bất mộ”. Am hiểu về Thánh lễ sẽ giúp chúng ta không chỉ “đi lễ” hoặc “xem lễ” mà còn tham gia vào các cử hành Phụng vụ cách tích cực, chủ động và linh hoạt hơn. Mong quý độc giả đón đọc và phổ biến rộng rãi cho nhiều người được biết, để kiến thức và niềm tin Công giáo được lan tỏa rộng rãi.

Xin cám ơn và xin Chúa chúc phúc lành cho quý vị!

TIẾNG VIỆT

02. Diễn tiến lịch sử hình thành Thánh lễ ra sao?

Các Tông Đồ và giáo dân tiên khởi đã cử hành nghi thức “bẻ bánh” (danh từ các tín hữu thời ấy dùng để nói đến thánh lễ): “Hng ngày, h đồng tâm nht trí chuyên cn lui ti Đền Th, b bánh tư gia và ăn uống đơn sơ, vui vẻ (Công Vụ Tông Đồ 2, 46). Họ dùng bữa, với nghi thức “bẻ bánh”, nay ở nhà người này, mai tại nhà người kia. Cộng đoàn thời ấy được xem như là một đền th sng động”.

Rất sớm, người ta đã thêm vào trong bữa ăn này những bài thánh ca, kinh nguyện và những bài đọc Kinh Thánh.

Chỉ từ thế kỷ thứ IV, người ta mới nói đến “Lễ Misa” (xem chữ này ở phần cuối: Gii thích mt s t phng v). Vào thời ấy, sau khi hoàng đế Constantinô trở lại đạo công giáo, người ta thấy xuất hiện những cộng đoàn đông đảo Kitô hữu. Các nghi lễ phụng vụ chịu ảnh hưởng các nghi thức và lễ hội của người Rôma. Y phục được dùng trong các buổi lễ thời đó là nguồn gốc của tu phục, áo lễ giáo sĩ mà chúng ta thấy hiện nay.

Dần dần, người ta không còn ý thức về ý nghĩa của cộng đoàn và của bữa ăn mà trong đó Chúa Kitô chính là lương thực nuôi sống nhân loại. Người ta rước lễ ít hơn. Vài thế kỷ sau đó thì mai một thêm ý thức về bữa ăn và về tâm tình tham dự vào hy lễ. Thánh lễ trở thành một buổi trình diễn có tính cách thánh thiêng.

Vào thế kỷ XII, việc tôn sùng đối với sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô nơi bánh thánh đưa đến việc trưng bày bánh thánh trên bàn thờ (Chầu Thánh Thể). Việc linh mục giơ cao bánh đã được truyền phép xuất phát từ việc các tín hữu ước mong được “nhìn” bánh thánh (khoảng từ năm 1200). Việc nâng cao chén thánh được thêm vào sau đó.

Vào thế kỷ XIII và XIV, người ta thấy xuất hiện những cuộc kiệu rước Thánh Thể đầu tiên. Tín hữu “ngắm nhìn” Thánh Thể nhưng ít khi rước lễ. Phải chờ đến triều đại của Đức Giáo Hoàng Piô X, họ mới ý thức lại việc rước lễ “thường xuyên” (1905) và việc cho trẻ em rước lễ (1910).

Trong thánh lễ, các tín hữu rất thụ động. Năm 1947, Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố thông điệp “Mediator Dei” (Đấng trung gian của Thiên Chúa) nhằm canh tân phụng vụ dưới mọi phương diện, trong đó có việc mời gọi cộng đoàn đối đáp với linh mục chủ tế.

Với Công Đồng Vaticanô II, người ta tìm lại được ý nghĩa sâu xa của thánh lễ, được tất cả mọi người cùng cử hành dưới sự chủ tọa của linh mục, là bữa tiệc của Thiên Chúa và là nghi thức bẻ bánh. Cách đây không lâu, lòng tôn sùng Thánh Thể vẫn còn được xem như là việc đạo đức cá nhân, nay thì thánh lễ lại trở nên hành vi tạ ơn của toàn dân Chúa.

ENGLISH

02. How did historical developments account for the celebration of Mass?

The Apostles and the early laymen celebrated the rite of “fraction” (a noun used by the faithful at the time to refer to Mass): “Every day they devoted themselves to meeting together in the temple area and to breaking bread in their homes. They ate their meals with exultation and sincerity of heart” (Acts 2: 46). They ate their meals, with the rite of “fraction”, this day in this house, that day in another one. The community at that time was regarded as a “living temple”.

Very soon, to these meals were added hymns, prayers and Biblical readings.

It was not until the fourth century that “Mass” was mentioned (see this term in the appendix: Glossary of Some Liturgical Terms). At that time, after conversion of Emperor Constantine to Catholicism, the appearance of crowded Christian communities could be seen. The liturgical rites were influenced by the Roman rites and festivities. The garments used in the feasts at that time were the origin of the religious habit and clerical vestments we see now.

Gradually, one was no longer aware of the meaning of the congregation and the meal in which Christ was the food feeding mankind. They went to communion less often. In some later centuries the awareness of the meal and the feelings when participating in the sacrifice became dimmer and dimmer. The Mass became a sacred performance.

In the seventh century, the adoration of the real presence of Christ in the host resulted in the display of the host on the altar (Adoration of the Blessed Sacrament). The raising of the consecrated bread by the priest came from the desire of the faithful to “see” the host (since about 1200). The raising of the chalice was added later.

In the thirteenth and fourteenth centuries, the appearance of Eucharistic processions was seen for the first time. The faithful “contemplated” the Eucharist but seldom received communion. It was not until the dynasty of Pope Pius X that they became conscious again of the “permanent” reception of the Eucharist (1905) and the communion for children (1910).

At Mass, the faithful were very passive. In 1947, Pope Pius XII proclaimed Encyclical “Mediator Dei” (Mediator of God) for the purpose of reforming liturgy in every aspect, including a call requesting the congregation to dialog with the priest celebrant.

With the Second Vatican Council, the profound meaning of Mass, celebrated by everybody and presided over by the priest, is found as banquet of God and rite of bread breaking. Not long ago, the adoration of the Blessed Sacrament was regarded as personal devotion, now Mass has become again an act of thanksgiving by all the people of God.

FRANÇAIS

02. Quelle est l’histoire de la Messe?

Les premiers chrétiens célébraient la « fraction du pain » (c’est par ce terme qu’ils désignaient l’eucharistie) au cours d’un repas. À cette occasion, ils se retrouvaient chez l’un ou chez l’autre. La communauté était considérée comme le véritable « temple vivant ».

Très rapidement, des chants, des prières s’introduisent dans ce repas. On y fait aussi des lectures bibliques.

C’est à partir du IVe siècle qu’on va parler de « messe ». À cette époque, après la conversion de l’empereur Constantin, on connaît de grandes assemblées chrétiennes, et la célébration est déjà influencée par le cérémonial des institutions romaines. Les vêtements de fête utilisés alors vont donner naissance aux ornements sacerdotaux.

Progressivement, le sens de la communauté et du repas dont le Christ est l’aliment va s’amenuiser. On communie moins. Quelques siècles plus tard on perd le sens du repas et de la participation au sacrifice. La messe devient un spectacle sacré.

Au XIIe siècle, la dévotion envers la présence réelle conduira à exposer l’hostie sur l’autel. L’élévation de l’hostie sacrée s’explique par le désir de « voir » l’hostie (depuis l’an 1200 environ). L’élévation du calice viendra s’ajouter plus tard.

Aux XIIIe et XIVe siècles on verra les premières processions du Saint-Sacrement. On « regarde » l’hostie mais on ne communie guère. Il faudra attendre le pape Pie X pour retrouver le sens de la communion « fréquente » (1905) et de la communion des enfants (1910).

Les fidèles étaient devenus passifs pendant l’eucharistie. L’encyclique « Mediator Dei » de Pie XII, en 1947, invite l’assemblée à dialoguer avec le prêtre.

Avec le concile Vatican II, on a retrouvé davantage le sens de l’eucharistie, célébrée par tous sous la présidence du prêtre, repas du Seigneur et fraction du pain. Il n’y a pas si longtemps, la « piété eucharistique » était un « exercice individuel ». Aujourd’hui, l’eucharistie est redevenue l’action de grâce du peuple de Dieu.

Comments are closed.