Lạy Chúa! Xin cho con đôi mắt của Chúa – Suy niệm Chúa Nhật 8 Thường Niên – C

0

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

TIN MỪNG: Lc 6, 39-45

39 Đức Giê-su còn kể cho môn đệ dụ ngôn này: “Mù mà lại dắt mù được sao? Lẽ nào cả hai lại không sa xuống hố?40 Học trò không hơn thầy, có học hết chữ cũng chỉ bằng thầy mà thôi. 41 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới?42 Sao anh lại có thể nói với người anh em: “Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong con mắt anh ra”, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em!

43 “Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt.44 Thật vậy, xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho!45 Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.

(Bản dịch của Nhóm CGKPV)

SUY NIỆM: 

Trong ba Chúa Nhật liên tiếp, Chúa Nhật VI, VII và VIII Năm C, Giáo Hội cho chúng ta nghe “Bài Giảng ở Đồng Bằng” (tương ứng với “Bài Giảng ở Trên Núi” trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, chương 5, 6 và 7) của Đức Giê-su theo lời kể của thánh sử Luca (Lc 6, 17-59).

  • Chúa Nhật VI: các mối phúc và các mối họa (c. 17.20-26).
  • Chúa Nhật VII: Đức Giê-su mời gọi hãy có lòng nhân từ như Chúa Cha, là Đấng nhân từ (c. 27-38).
  • Chúa Nhật VII (hôm nay): Dụ ngôn của Đức Giê-su liên quan đến đôi mắt và khả năng “xem” của đôi mắt: “xem quả thì biết cây!” (c. 39-45).

Như vậy, “lòng nhân từ” có vị trí trung tâm trong bài giảng của Đức Giê-su, theo Tin Mừng của thánh Luca: người có lòng nhân từ sẽ nhận ra các mối phúc và sống theo các mối phúc; người có lòng nhân từ sẽ làm cho đôi mắt sáng và trong sáng, biết xem xét để phân định tốt xấu. Khuôn mẫu của lòng nhân từ và nguồn ơn tha thứ và chữa lành, chính là lòng nhân từ của Chúa Cha, được thể hiện nơi Đức Ki-tô, vì Người là “Hiện Thân Lòng Thương Xót của Thiên Chúa” (Kinh Năm Thánh Lòng Thương Xót của ĐTC Phanxicô)

 1. “Ơn huệ đôi mắt”

Lời giảng của Đức Giê-su, được kể lại trong bài Tin Mừng theo thánh Luca của Thánh Lễ Chúa Nhật hôm này là một dụ ngôn: “Đức Giê-su còn kể cho môn đệ dụ ngôn này” (c. 39).

Dụ ngôn bao gồm nhiều hình ảnh: mù, hố, thầy, trò, rác, xà, cây, quả… Nhưng, như chúng ta vừa nói ở trên, một cách tổng quát, dụ ngôn của Đức Giê-su xoay quanh đôi mắt và khả năng “xem” của đôi mắt: “xem quả thì biết cây!” (c. 39-45). Vì thế, chúng ta hãy dừng lại để nhận ra “ơn huệ đôi mắt”, với tâm tình cảm tạ và xin ơn chữa lành đôi mắt của chúng ta. Hơn nữa, đôi mắt là giác quan đầu tiên, được nêu ra trong phương pháp cầu nguyện “áp dụng ngũ quan”: nhìn, nghe, cảm, nếm và đụng.

Đôi mắt là một điều kì diệu Chúa ban cho con người; vì thế đôi mắt được nhắc đến nhiều nhất (hơn tai, mũi, miệng…) trong ngôn ngữ của con người, nhất là trong âm nhạc và thơ ca. Nhưng cả trên bình diện tâm sinh lí, đôi mắt cũng là nơi nhạy cảm nhất: đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn, vì qua đó, người ta đọc được những xúc cảm tinh tế: vui/buồn; tin tưởng/nghi ngờ; thật tình/giả dối; ghen ghét/yêu thương…

Và trong đời sống thiêng liêng, nhất là trong cầu nguyện theo phương pháp chiêm niệm, đôi mắt được nhắc tới đầu tiên: hãy nhìn các nhân vật, hãy nghe các nhân vật nói và hãy quan sát các nhân vật hành động. Và khi chiêm ngắm, chúng ta không nhìn mọi sự như các sự vật để hưởng thụ, không nhìn những con người như những đối tưởng để thỏa mãn, thống trị hay khai thác; nhưng chúng ta nhìn các sự vật như những dấu chỉ nói cho chúng ta về sự hiện diện, về tình thương, tình thương của người khác, nhất là của những người thân yêu, tình thương của Chúa; và chúng ta nhìn người khác như những ngôi vị, có tự do, có ơn gọi, có những “gánh nặng”, và là con Thiên Chúa như chúng ta; vì thế, là anh chị em của chúng ta.

Như thế, ơn gọi đích thực của đôi mắt, không phải là nhìn thấy những điều hữu hình, nhưng là nhìn ra những điều vô hình (sự hiện diện, tình bạn, tình yêu….) và nhất là nhận ra Đấng Vô Hình, ngang các dấu chỉ, nhất là dấu chỉ ơn huệ sự sống và tất cả những gì liên quan đến sự sống (x. St 1 và 2; Tv 8; 19; 104 và 139; Hc 16, 24-17, 10). Nhớ lại ơn gọi của đôi mắt như thế, chúng ta sẽ hiểu hơn dụ ngôn của Đức Giê-su.

 2. “Xin cho con đôi mắt của Chúa”

Thật vậy, trong bài Tin Mừng hôm nay, từ đầu đến cuối, trong dụ ngôn của mình, Đức Giê-su nói tới đôi mắt: Đức Giê-su còn kể cho môn đệ dụ ngôn này:
Mù mà lại dắt mù được sao? 
(c. 39)
Lấy cái xà trong mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong mắt người anh em. (c. 42)
Xem quả thì biết cây(c. 44)

Nhưng Ngài không chỉ nói về đôi mắt, mà còn chữa lành đôi mắt. Ngài chữa lành đôi mắt thể lí, chẳng hạn cho người mù bẩm sinh (x. Ga 9), nhưng đó là dấu chỉ của ơn huệ lớn hơn, đó là ơn huệ làm cho tất cả mọi người sáng mắt, trong đó có chúng ta, được chữa lành khỏi bệnh mù quáng, mù lòa với sự hiện diện thi ân và cứu độ của Thiên Chúa, ngang qua những ơn huệ nhất là lòng thương xót, trong sáng tạo và trong lịch sử (x. Tv 136), mù lòa khi không biết nhìn Chúa trong mọi sự và mọi sự trong Chúa, mù lòa khi chỉ nhìn người khác ở vẻ bề ngoài…

Thật vậy, trong bài Tin Mừng, Người nói tới đôi mắt sáng, có khả năng dẫn đường cho người khác. Nhưng Ngài không chỉ nói tới đôi mắt sáng, mà còn nói tới đôi mắt trong nữa, trong như hồ nước trong, không vẩn đục, không có rác, không có cái xà (hình ảnh “cái xà” rất mạnh, vì cái xà là nguyên cái thanh gỗ!). Người nói phải làm trong đôi mắt mình trước, rồi mới đi chữa mắt người khác. Nhưng xét cho cùng, bao giờ mắt chúng ta mới thực sự trong được, và như thế nào mới là trong thực sự?

*  *  *

Vì thế, tất cả chúng ta được mời gọi đến học với Đức Giê-su, bởi vì chính Lời, hành động và ngôi vị của Ngài sẽ chữa lành đôi mắt của chúng ta, vì chúng ta không thể tự chữa cho mình và cũng không thể chữa cho nhau được.

Thật vậy, chính Ngài, nơi mầu nhiệm Thập Giá, sẽ làm cho đôi mắt của chúng ta trong dần lên, trong dần lên ngay cả khi đôi mắt thể lí của chúng ta dần dần bị lão hóa với tuổi tác (vì thế, phải đeo kính lão!) và một ngày kia sẽ khép lại mãi mãi, để được chữa lành khỏi mọi sự dữ và để nhận ra tình yêu đến cùng của Người, tình yêu mạnh hơn tội lỗi và sự chết, và để hi vọng đón nhận chính đôi mắt rạng người của Chúa, trong sự sống muôn đời với Chúa và những người thân yêu. Vì thế, ngay hôm nay, chúng ta đã nguyện xin: “Lạy Chúa, xin cho con đôi mắt Chúa!” Bởi lẽ, đôi mắt là hình ảnh diễn tả sự sống, vì chúng ta vẫn nói: “mở mắt chào đời” hay “nhắm mắt lìa đời”!

3.“Xem quả thì biết cây”

Theo lời giảng của Đức Giê-su, đôi mắt sáng còn là đôi mắt biết phân định : « xem quả biết cây ». Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su dạy chúng ta áp dụng nguyên tắc « xem quả biết cây », một cách chính xác, chính là để nhận ra « các ngôn sứ giả » :

Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.

Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Nên hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt…
Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. (Mt 7, 15-20)

Vậy « các ngôn sứ giả » là ai ? Chắc chắn đó là những con người cụ thể, giống như những con người tìm mọi cách để tóm bắt, tố cáo, lên án và giết chết Người nhân danh Lề Luật và nhân danh Thiên Chúa hằng sống, trong cuộc Thương Khó. Nhưng Đức Giê-su lại mô tả cách hành động của họ giống như cách hành động của Satan :

Họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi(Mt 7, 15)

« Sói Dữ tham mồi » chỉ có thể là hình ảnh diễn tả Sự Dữ. Con Rắn được kể lại trong sách Sáng Thế, chương 3, đã dùng những lời ngon ngọt, nhưng là để phun nọc độc quên ơn, nghi ngờ và ham muốn hủy hoại sự sống của con người (x. St 3, 1-7.13). Như thế, « ngôn sứ giả » được Đức Giê-su nói tới ở đây, chính là Satan hành động nơi con người cụ thể, hoặc đó là những con người hành động theo sự xúi dục của Satan, những con người tự biến mình thành tay sai của Satan.

Chúng ta hiểu « ngôn sứ giả » như thế, một đàng hoàn toàn phù hợp với thực thế cuộc sống của chúng ta, bởi vì hơn lúc nào hết, Satan hiện diện và hành động mạnh mẽ ở khắp nơi như « sói dữ tham mồi », nhưng một cách rất kín đáo và với một vẻ bề ngoài tốt đẹp ; đàng khác, cũng đúng với bản chất của lời Đức Giê-su, là lời ban sự sống. Thật vậy, trong bài giảng, Đức Giê-su ban lời để phục vụ cho sự sống của chúng ta (x. Lc 6, 47-4), và sự sống của chúng ta cần được giải thoát khỏi Sự Dữ biết bao, như chúng ta vẫn cầu xin trong Kinh Lạy Cha :

Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ.
Và để giải thoát chúng ta khỏi sự dữ, lời của Đức Giê-su giúp chúng ta nhận diện Sự Dữ :
Kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra (c. 45)
Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. (Mt 7, 16 và 20)

Và sự dữ sẽ hoàn toàn lộ diện trong cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô.

*  *  *

Và bởi vì đó là Satan, nên phạm vi hoạt động của nó không chỉ giới hạn ở bên ngoài, ngang qua những con người cụ thể ; nhưng Satan còn hiện diện và hành động ngay trong nội tâm của chúng ta. Kinh nghiệm thiêng liêng của thánh I-nha-xi-ô (thánh sáng lập Dòng Chúa Giê-su, và tại Việt Nam, được gọi là Dòng Tên) cho thấy rõ sự thật này :

« Đặc điểm của thần dữ là giả dạng thần lành đi vào theo chiều hướng của linh hồn trung tín để rồi kéo linh hồn ra theo đường của nó; nghĩa là nó bày ra những tư tưởng tốt lành thánh thiện hợp với tâm hồn công chính, rồi lần lần gắng lôi kéo linh hồn ra theo những mưu mô ẩn kín và những ý đồi tệ của nó » (LT 332).

Và để nhận ra đó thần dữ, thánh I-nha-xi-ô cũng mời gọi chúng ta áp dụng nguyên tắc mà Đức Giê-su đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài Tin Mừng : « xem quả thì biết cây » (x. Sách Linh Thao, số 333-334).

*  *  *

Trong Tông Huấn Gaudete et Exsultate, ĐTC Phanxicô cũng đặc biệt mời gọi chúng ta nhận ra sự hiện diện của ma quỉ : « Chúng ta sẽ không nhìn nhận sự hiện hữu của ma quỷ, nếu chúng ta cố nhìn cuộc sống với những tiêu chuẩn thực nghiệm và không có cảm thức siêu nhiên. Một cách chính xác, xác tín rằng quyền lực thần dữ hiện diện ở giữa chúng ta, chính là điều cho phép chúng ta hiểu tại sao sự dữ đôi khi lại có sức mạnh tàn phá đến như thế. Các tác giả Thánh Kinh quả là có một hành trang khái niệm giới hạn, để diễn tả một số thực tại và vào thời của Đức Giêsu, người ta đã có thể lẫn lộn, chẳng hạn, bệnh động kinh với sự việc bị quỷ ám. Tuy nhiên, điều này không được dẫn chúng ta đến việc đơn giản hóa quá đáng thực tại, bằng cách nói rằng, tất cả các trường hợp được tường thuật lại trong các sách Tin Mừng đều là những căn bệnh tâm thần và rốt cuộc cho rằng, không có ma quỷ hoặc ma quỷ không hoạt động. Sự hiện diện của nó được tìm thấy ngay trong trang đầu của Thánh Kinh, và trang này kết thúc với chiến thắng của Thiên Chúa trên ma quỷ [120]. Quả thật, khi dạy chúng ta Kinh Lạy Cha, Đức Giêsu đã yêu cầu chúng ta kết thúc bằng cách xin Chúa Cha giải thoát chúng ta khỏi mọi sự dữ. Hạn từ được sử dụng ở đây không qui chiếu về sự dữ trừu tượng và phiên dịch chính xác phải là “Ác Thần” (le Malin). Nó ám chỉ một cá thể (être personnel) phá rối chúng ta. Đức Giêsu đã dạy chúng ta mỗi ngày cầu xin ơn giải thoát này, để quyền năng của nó không thống trị chúng ta. » (Tông Huấn GAUDETE ET EXSULTATE của ĐTC Phan xi cô, về lời kêu gọi nên thánh trong thế giới hôm nay (19/03/2018), chương năm: CHIẾN ĐẤU, TỈNH THỨC và PHÂN ĐỊNH, số 160)[1].

————————————————–

[1] Có thể đọc Tông Huấn GAUDETE ET EXSULTATE của ĐTC Phan xi cô, về lời kêu gọi nên thánh trong thế giới hôm nay (19/03/2018), chương năm: CHIẾN ĐẤU, TỈNH THỨC và PHÂN ĐỊNH, số 158-175.

Comments are closed.

phone-icon