
Sr. Têrêsa Phạm Thị Thu, OP
“Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích lợi cho những ai yêu mến Người.” (Rm 8,28)
Bất cứ cuộc hành trình nào rồi cũng có một đích điểm. Đối với người Kitô hữu, và cách riêng là những người sống đời thánh hiến, dù mang lấy nhiều vai trò hay sứ vụ khác nhau, tất cả đều chung một ơn gọi cao quý nhất: hướng về đích điểm tối hậu là chiếm hữu Thiên Chúa – Đấng là nguồn hạnh phúc duy nhất của cuộc đời. Như Lời Chúa đã truyền dạy: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn…” (Lc 10,27).
Khởi điểm của hành trình dâng hiến ấy chính là đức tin. Thiếu đi một niềm tin vững mạnh vào Đức Kitô, người tu sĩ sẽ chẳng thể nào đủ can đảm và ân sủng để dấn thân, sống trọn vẹn và trung tín với ba lời khuyên Phúc Âm.
Nhìn lại lịch sử cứu độ, hành trình bốn mươi năm trong hoang địa của dân Israel xưa cũng chính là hình ảnh phản chiếu cuộc lữ hành đức tin của mỗi người chúng ta hôm nay. Dù đã được Thiên Chúa không ngừng chở che và nuôi dưỡng trên đường về Đất Hứa, họ vẫn phải trải qua biết bao thử thách cam go. Qua Giao Ước Sinai, họ cam kết chọn Thiên Chúa làm gia nghiệp, nhưng liệu họ có mãi trung thành? Câu hỏi ấy cũng chính là nỗi thao thức của lòng tôi trong hành trình theo Chúa.
Bước theo Đức Kitô là chấp nhận mọi sự, kể cả những nghịch lý, bất công hay những thử thách ngang trái. Thay lời cho anh em, Thánh Phêrô đã mạnh mẽ tuyên xưng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6,68). Và chính Chúa cũng luôn củng cố niềm tin ấy nơi chúng ta: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20).
Nghiệm lại hành trình đời dâng hiến, tôi xác tín sâu xa rằng đức tin phải được minh chứng bằng chính đời sống và hành động, như lời Thánh Giacôbê đã răn dạy: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết.” (Gc 2,17). Giữa thế giới hôm nay, người ta không còn tin vào những lời rao giảng suông hay những lý thuyết xa vời, nhưng họ tin vào chứng tá của một đời sống đượm chất Tin Mừng. Ý thức được đức tin của mình đôi khi vẫn còn non nớt và hời hợt, tôi vẫn luôn tha thiết nài xin: “Lạy Chúa, xin thêm đức tin cho con!” (Lc 17,5).
Tôi cũng nhớ đến Tổ phụ Abraham, người đã được Thiên Chúa mời gọi ra đi mà không hề hay biết mình sẽ đi về đâu. Bỏ lại sau lưng tất cả, ông bước vào một tương lai vô định, một cuộc hành trình đơn độc và đầy dẫy thử thách. Abraham chỉ có thể vững bước lên đường nhờ niềm tin tuyệt đối vào quyền năng Thiên Chúa. Và chính nhờ đức tin kiên trung ấy, ông đã trở nên Cha của những kẻ tin.
Trong tiến trình hoàn thiện đời sống dâng hiến, tôi luôn khắc ghi lời Đức Giêsu: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em và cắt cử anh em để anh em ra đi…” (Ga 15,16). Đó quả là một vinh dự lớn lao nhưng cũng đầy thách đố; bởi ơn gọi không phải do con người tự chọn lấy, mà là một hồng ân nhưng không từ Thiên Chúa ban tặng.
Hành trình theo Chúa dĩ nhiên đã có, và chắc chắn sẽ còn, những lúc tôi phải đối diện với đau khổ và thử thách, nhất là khi bóng xế của tuổi già và sự yếu đuối của thể xác đang ập đến. Những sóng gió cuộc đời đôi khi khiến tôi chông chênh, lạc lõng và cô đơn. Nhưng tôi vững tin vào lời Thầy chí thánh: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14,27). Lời tâm sự của Thánh Phaolô cũng là nguồn an ủi lớn lao cho linh hồn tôi: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu đựng được hết.” (Pl 4,13). Bởi lẽ, chỉ nơi Thiên Chúa, tôi mới tìm được sự bình an đích thực: “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.” (Tv 62,2).
Đức Giêsu từng nói với Thánh Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.” (Lc 22,32). Lời căn dặn ấy nhắc nhở tôi luôn giữ vững lòng tín thác vào tình yêu xót thương của Chúa, Đấng vẫn luôn ân cần đồng hành và thứ tha bao yếu đuối, lỗi lầm của tôi, như Người đã từng trìu mến phán bảo với người phụ nữ sám hối năm xưa: “Tội của chị đã được tha… Chị hãy đi bình an.” (Lc 7,48.50).
Cuối cùng, Đức Maria chính là mẫu gương đức tin tuyệt hảo nhất. Từ biến cố Truyền Tin cho đến khi đứng dưới chân Thập giá, Mẹ vẫn kiên vững thưa tiếng “Xin vâng” (Fiat), để thánh ý Thiên Chúa được thực hiện trọn vẹn và nhân loại được hưởng ơn cứu độ. Chính vì thế, Mẹ đã được ngợi khen và chúc phúc: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” (Lc 1,45).