Trang nhật ký lich sử

0

Sr. Lucia Cao Thị Xuân Trang, OP

Những trang lịch sử – tôi nghĩ về Bạn khi nhận được lời mời viết bài của chị Trưởng Ban Kỷ yếu cho cuốn kỷ yếu mới – mừng 75 năm Thành lập Hội dòng.

Tôi nhớ về Bạn khi cẩn thận đọc những yêu cầu trong lá thư ngỏ vừa nhận được để ghi nhận những điều cần làm, những tâm tình – cảm xúc vừa dâng lên, và những điều cần được sẻ chia.

Cách đây 25 năm

Hồi ấy, Hội dòng tôi tròn 50 tuổi. Con số 50 đẹp và tròn trĩnh trong ước mơ, niềm tự hào và sự háo hức mong chờ của toàn Hội dòng. Chúng tôi chuẩn bị họp mừng, tổ chức, tạ ơn và kỷ niệm.

Để mừng sự kiện quan trọng này, Hội dòng đã chọn tôi, một nữ tu trẻ vừa tốt nghiệp đại học một ngành không liên quan gì đến lịch sử, để chấp bút cho cuốn tạm gọi là lịch sử “Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp – 50 năm hình thành và phát triển”. Nguồn tư liệu dựa trên tập bản thảo lich sử, cùng nhiều cuốn nhật ký khá dày và đầy đủ chi tiết của Dòng, hay đúng hơn là của Nhà Sở tại – Tu viện Truyền Tin, từ những ngày đầu ở Miền Nam (năm 1955). Bên cạnh đó là các văn bản, thư từ, kỷ vật được các Mẹ, các Chị gom góp, lưu giữ, và tìm lại qua những chuyến đi ra Bắc, cùng các tư liệu từ khi thành lập Dòng (năm 1951).

Để bảo đảm tính nghiêm túc trong công việc, chị Phó Bề trên Tổng quyền lúc ấy là chị Maria Nguyễn Thị Hùy dẫn tôi đến gặp Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần – nhà sử học, khi đó là Viện trưởng Hội Sử học Việt Nam – để nhờ Thầy hướng dẫn. Tôi cũng được gởi gắm cho Cha Giuse Đỗ Quang Chính, SJ là nhà nghiên cứu – giáo sư môn Lịch sử Giáo hội. Cuộc gặp gỡ với hai “cây đại thụ” ấy khiến tôi bối rối, hoang mang vì sự non nớt, yếu kém và “ngoại đạo” của mình trong chuyên ngành này. Tuy nhiên, với sự khích lệ của các bậc thầy, tôi học cách bước vào công việc, dần tự tin hơn khi lên khung dàn bài, rồi viết từng phần để các vị góp ý.

Người sát cánh với tôi lúc bấy giờ là chị Tổng Thư ký Têrêsa Nguyễn Thị Mừng. Chị cùng tôi viết và đôi khi loay hoay cùng tôi suốt buổi chỉ để tìm ra một chi tiết liên quan, hay vài mốc thời gian chưa trùng khớp. Trong khi lúc đó (năm 1999) chị đang là Tổng Cố vấn II, kiêm Tổng Thư ký – Chánh văn phòng Hội dòng. Công việc của chị đã nhiều lại còn gánh thêm các công tác tổ chức khác, dường như quá tải. Thế nhưng niềm vui, sự háo hức và tâm tình biết ơn, yêu mến nơi mình thuộc về đã giúp chúng tôi đón nhận công việc môt cách rất hân hoan. Tôi ngồi vào bàn viết mỗi buổi tối và mỗi khi rảnh, dù có những ngày chỉ được vài phút. Cho đến một hôm, biến cố gãy chân – một tai nạn nhẹ do quẹt xe – lại trở thành ân huệ cho tôi được ngồi yên một chỗ để làm việc. Phải nói đó là biến cố hồng ân, vì nhờ vậy tôi có nhiều thời gian hơn, toàn tâm toàn ý cho công việc, nhất là có thể tự do bày biện mọi thứ cần tra cứu quanh mình như một thế giới riêng.

Thú thật, ban đầu, những văn bản, tài liệu, tập nhật ký ấy với tôi chưa mấy ý nghĩa, cho đến khi tôi thực sự bị cuốn hút. Nhìn những dòng chữ nắn nót, thẳng tắp, bố cục gọn gàng, văn phong trang trọng, tôi cảm nhận được sự nâng niu, nghiêm túc, trân trọng của các Mẹ, các Chị trong từng ký sự; giống hệt cách mà tôi vẫn cảm nhận qua những câu chuyện kể của các Dì cao niên nơi nhà An dưỡng. Dù bọn trẻ chúng tôi có nài xin bao nhiêu lần, thì mỗi lần những câu chuyện xưa của các Dì vẫn luôn mới mẻ, hào hứng, rạng ngời niềm tin tưởng và hy vọng.

Khép lại trang nhật ký, tôi ngồi ngay ngắn và bắt đầu gõ những dòng đầu tiên: 50  năm… rồi 75 năm của Hội dòng tôi đó! Tất cả hiện lên như một bức tranh sống động: cảnh sinh hoạt đời thường trong nếp tu, nếp nghĩ, nếp nhà; cách ăn ở, kỷ luật, hội họp, học hành, đời sống thiêng liêng. Những điều tưởng như đã trôi vào dĩ vãng, cùng với những con người của dòng chảy thời gian ấy. Nhưng không. Nó vẫn nguyên vẹn. Nó là lịch sử. Và tôi chỉ đang sắp xếp lại.

Comments are closed.

phone-icon