Ta không hề biết các ngươi! – Chúa Nhật 32 Thường Niên, năm A

0

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

Tin Mừng (Mt 25,1-13)

¹ Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này: “Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. ² Trong mười cô đó, có năm cô dại và năm cô khôn. ³ Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. ⁴ Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. ⁵ Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. ⁶ Nửa đêm, có tiếng la lên: ‘Chú rể kia rồi! Ra đón đi!’ ⁷ Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy và sửa soạn đèn. ⁸ Các cô dại nói với các cô khôn rằng: ‘Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn chúng em sắp tắt rồi!’ ⁹ Các cô khôn đáp: ‘Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn.’

¹⁰ Đang lúc các cô đi mua thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. ¹¹ Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi: ‘Thưa Ngài, thưa Ngài! Mở cửa cho chúng tôi với!’ ¹² Nhưng Người đáp: ‘Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!’ Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.”

*****

Bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay lấy trong diễn từ thứ năm của Đức Giê-su, “Diễn từ về thời cánh chung”. Sau khi Người tiên báo Đền thờ sẽ bị phá đổ, các môn đệ đã hỏi: “Bao giờ những sự việc ấy sẽ xảy ra và điềm gì báo trước cuộc quang lâm của Thầy và báo trước tận thế?” (Mt 24,3). Không cho biết chính xác ngày giờ, Đức Giê-su chỉ mô tả những điềm triệu và nhất là kêu mời họ chuẩn bị bằng việc kể năm dụ ngôn: tên trộm (Mt 24,42-44), đầy tớ trung tín (24,45-51), mười trinh nữ (25,1-13), các nén bạc (25,14-30) và cuộc phán xét chung (25,31-46).

1. Các ngươi đâu làm chủ tương lai!

Bối cảnh dụ ngôn tiệc cưới chẳng xa lạ gì đối với các thính giả của nó: một tiệc cưới như thường xảy ra ở Pa-lét-tin đương thời. Cô dâu phải ở tại nhà cha mẹ, chờ chú rể cùng bạn bè đến rước. Khi chú rể đến một cách long trọng để đón cô dâu về nhà mình, nơi sẽ diễn ra nghi thức chúc hôn và tiệc cưới, có một đám rước tưng bừng ra đón chàng với đèn đuốc sáng trên tay, rồi sau đó cùng chàng tiến vào tận phòng tân hôn. Chuyện chàng rể đến chậm là do thói tục địa phương đương thời: nhiều khi sự thương lượng giữa hai gia đình trai và gái còn kéo dài đến phút chót. Bình thường thì lúc mặt trời lặn, chú rể với đoàn phù rể đến đón cô dâu. Nhưng nếu cuộc thương lượng chưa xong thì sự chờ đợi của nhà gái còn kéo dài, có khi tới khuya, hay nửa đêm không chừng.

Đám cưới mở màn thật tưng bừng và tốt đẹp: có đến mười cô phù dâu! Người ta tưởng tượng ra những chiếc áo dài rực rỡ, những nụ cười giòn giã, chú rể hơi lúng túng, cô dâu thì tuyệt trần. Nhưng một từ chói tai đã phá vỡ mọi mơ mộng: năm trong mười cô ấy bị gọi là “dại khờ”. Trong Thánh Kinh, tính từ này không chỉ sự bất cẩn, lơ đễnh, cho bằng chỉ thái độ quên lãng Thiên Chúa: bị xem là “khờ dại” kẻ lạc xa con đường của Người. Ngọn đèn chiếu sẽ chĩa mãi về các cô và sẽ trình bày cách tàn bạo lẫn chi tiết sự thiếu lương tri của họ. Vô ích khi tự đặt câu hỏi về năm cô “khôn ngoan” vốn đã tàn nhẫn từ chối chia sẻ dầu của mình, vấn đề không phải chỗ đó. Chi tiết này chỉ muốn nói: chẳng ai có thể thức tỉnh, sống đạo giùm cho ai. Một dụ ngôn luôn vạch con đường cho mình mà chẳng quan tâm đến việc có nhiều yếu tố không sát thực (xin nhớ lại các dụ ngôn thợ vườn nho, tá điền sát nhân, tiệc cưới hoàng tử…). Cụ thể, dụ ngôn hôm nay chẳng phải là một câu chuyện dạy ăn ngay ở lành. Nó chỉ dùng sự so sánh lấy từ sinh hoạt hằng ngày, từ lối xử sự thông thường ở đời để trình bày một chân lý liên quan tới mầu nhiệm Nước Thiên Chúa.

Thành thử hãy cố gắng đi thẳng đến bài học của việc thiếu dầu này. Kiểu thiếu nào có nguy cơ biến chúng ta thành những kẻ khờ dại? Kẻ khờ dại của dụ ngôn chính là Kitô hữu đã hăng hái ra đi nhưng chẳng đủ khả năng hoàn thành công việc, như tác giả Đường Hy Vọng có viết: “Ai ai cũng khởi sự, chỉ các thánh mới đi tới cùng.” Đương sự lập tức rơi vào cuộc sống tầm thường, mang tính Tin Mừng rất ít. Năm cô khờ dại tượng trưng cho những lòng can đảm ngắn ngủi, những kẻ bị sự chờ đợi và những thời gian kéo dài khiến ra nản chí. Họ gặp nguy cơ nhảy dựng lên khi nghe tiếng la lớn: “Chú rể đến rồi kìa! Ra đón đi!”

Người ta vẫn nghĩ tới cuộc gặp gỡ cuối cùng này, vẫn biết rằng để thành tựu việc đó, đã phải gặp gỡ Đức Giê-su ở dưới thế, trong cầu nguyện, trong Thánh Thể, trong Tin Mừng, trong anh em (x. Mt 25,40). Nhưng tất cả những cái ấy đều đòi hỏi cố gắng và thế là ta hoãn lại: “Mai tôi sẽ bắt đầu.” Ta tưởng mình làm chủ thời gian, làm chủ tương lai! Dù cho trong một cuộc tĩnh tâm, dưới tác động mạnh của một biến cố hay một chứng từ gây đảo lộn, ta gặp được Đức Giê-su cách sâu xa, ta vẫn không nghe cho đủ lời cảnh cáo đầy lo âu của Người, một Đấng hiểu ta rất rõ: “Hãy tỉnh thức! Hãy tỉnh thức! Hãy kiên nhẫn, vì anh em chẳng biết ngày nào, giờ nào.”

2. Hãy sống thánh phút giây hiện tại!

Vậy chỉ phải nghĩ đến giờ ấy sao? Không, sẵn sàng nghe tiếng la lớn, đó chính là sống những gì ta đang sống thật hết sức mãnh liệt. Kitô hữu đâu phải là những kẻ bị ám ảnh bởi ngày tận thế sắp đến. Bổn phận của họ là phải luôn sẵn sàng sống đức tin của mình giữa dòng thời gian, phân biệt với những kẻ chỉ biết có hiện tại trước mắt. Lối sống say sưa với hiện tại, kiểu dư thừa phù phiếm không cần biết trước sau thường lấn át khả năng ý thức đúng đắn về hiện tại, khả năng rút ra những bài học từ quá khứ, khả năng sửa soạn cho tương lai. “Linh đạo về hiện tại” (sống giây phút hiện tại đúng nghĩa), tức là việc tận dụng cuộc sống thường ngày của mình, biến chúng ta thành những kẻ đã sẵn sàng nhất cho cuộc hạnh ngộ với Thiên Chúa. Ý nghĩa Tin Mừng của thời gian là thế: dầu cho ngày mai được mua hôm nay. Cần can đảm và kiên trì sống Tin Mừng trọn thời gian cho dẫu một vài giai đoạn khó khăn có kéo dài bao lâu đi nữa.

Việc loan báo Chúa đến không có mục đích hù dọa chúng ta, hay bắt chúng ta phải chờ đợi trong sợ hãi kinh hoàng. Thiên Chúa đến trễ đâu có nghĩa là Người tìm cách bắt chợt chúng ta. Người chẳng rình mò chụp lỗi con người để trừng phạt. Người là Cha nhân từ chỉ muốn ai nấy được cứu rỗi (x. 1 Tm 2,4). Người ban cho chúng ta thời giờ vì lợi ích chúng ta, để chúng ta biết sử dụng nó thật đúng. Thời gian kiên nhẫn đợi chờ Thiên Chúa là cơ hội cho chúng ta sám hối, đổi đời, bền đỗ. Cần biết cảm tạ Thiên Chúa về món quà thời gian này.

Nếu không… sẽ phải đi đến kết cục buồn bã của đám cưới: thấy đóng sập cánh cửa nặng nề, nghe những lời nặng nề hơn nữa khiến tiêu tan mọi hy vọng: “Ta chẳng hề biết các ngươi.” Thật trùng hợp lạ lùng với câu của Đức Giê-su nơi Bài giảng trên núi: “Trong ngày ấy, nhiều kẻ sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa… Bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi” (Mt 7,22-23). Trong một đám cưới tự nhiên, hai chi tiết ấy (cửa đóng sập và câu đáp phũ phàng của chàng rể) là không bình thường. Nhưng chính chúng làm cho ý nghĩa thiêng liêng được nổi rõ: người ta chỉ chết có một lần thôi; chẳng có cơ hội để làm lại, nếu đã không sẵn sàng. Ngày sau hết, Đức Giê-su sẽ chỉ có thể nhận ra là “người của mình” những ai đã cố gắng trở nên một ánh sáng Tin Mừng không mệt mỏi, bằng cách dự trữ dầu thường xuyên. Một khi đã quyết định đi theo chú rể (tức quyết định làm Kitô hữu), phải hoàn toàn quy hướng về Đức Kitô, chớ xao lãng tỉnh thức vì đủ thứ chuyện phù phiếm vô bổ ở đời.

Nếu câu nói khủng khiếp “Ta chẳng hề biết các ngươi” đó đánh động chúng ta đúng như ý Đức Giê-su muốn, thì hãy suy niệm hai thái độ khôn, khờ. Đèn chúng ta còn dầu đến đâu? Có luôn dự trữ trong mình dầu bác ái để giữ cho ngọn lửa đức tin khỏi tàn lụi chăng, hầu có mặt ngay khi Chúa đến? Nếu biết rằng Người đến trong mỗi giây phút cuộc sống, qua anh em, qua hoàn cảnh, chúng ta sẽ lo thắp sáng ngọn đèn đức tin, đổ đầy bằng dầu đức ái, để đón Người không chút chậm trễ. Rồi sẽ đến một ngày, Người sẽ tỏ ra cho chúng ta biết Người là ai, và đã đến với ta như thế nào: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

Một truyền thuyết kể rằng vua thánh Henri (973–1024), lúc còn là công tước trẻ miền Bavière (Đức), một hôm mơ thấy vị thầy đã mất là thánh Wolfgang hiện ra viết trên tường nhà thờ hai chữ “còn sáu”. Tỉnh dậy, Henri nghĩ rằng mình chỉ còn sống được 6 ngày nữa. Ngài vội bố thí rộng rãi để chuẩn bị ra trước tòa Đấng Thẩm phán tối cao. Nhưng rồi hạn định đã qua mà Henri vẫn sống. Vị công tước trẻ nghĩ rằng mình còn 6 tháng để làm việc lành. Sáu tháng lại trôi qua mà ngài vẫn khỏe mạnh. Lần này ngài nghĩ thời hạn kéo dài 6 năm và cố gắng sống hoàn hảo hơn nữa. Sau 6 năm trường nhân đức ấy, Henri bỗng được chọn làm vua nước Đức rồi hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh (Đế quốc Rôma – Giéc-man). Nhờ sống trong tinh thần tỉnh thức như thế, vua Henri không những đã nên thánh (vợ ngài cũng vậy: thánh nữ Cunégonde) mà còn biến đất nước mình thành một nơi hòa bình.

Comments are closed.

phone-icon