
Tiến sĩ Trần Mỹ Duyệt
Khi Chúa Giêsu bị người thông luật hỏi “giới răn nào trọng nhất”, Ngài đã lấy cơ hội ấy để nói về đức ái, về tình yêu của Ngài với tầm nhìn Tân Ước. Ngài không trả lời giới luật này hay giới luật kia quan trọng nhất, thay vào đó Ngài nói: “Hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn ngươi.” Rồi tiếp: “Hãy yêu mến tha nhân như chính mình”. Theo Ngài đó là tóm tắt mọi lề luật (Mátthêu 22:34–40). Vậy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn là như thế nào? Chúa Giêsu có ý gì khi đặt thứ tự tình yêu dựa trên những tiêu chuẩn này? Làm sao con người có thể đạt được yêu cầu ấy?
Trong Phúc Âm Nhất Lãm, cả 3 Thánh sử đều nói đến giới răn mới này. Nó cho thấy tầm quan trọng, và cần thiết đối với đời sống tâm linh cũng như hành vi sống đạo của người môn đệ Chúa.
– Mt 22: 37: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn ngươi”.
– Mc 12: 30: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, và hết sức lực của ngươi.”
– Lc 10: 27: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn.”
Để biết xem tại sao Chúa Giêsu lại gọi đây là giới răn trọng nhất, chúng ta hãy lùi về quá khứ ở đó, Cựu Ước có 613 luật được ghi chép trong các sách Genesis, Exodus, Leviticus, Numbers, Deuteronomy, chia thành 248 luật tích cực (phải làm) và 365 luật cấm (không được làm). Điều răn trọng nhất ấy bắt nguồn từ Đệ Nhị Luật 6:5 “Yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết sức ngươi”, và Sách Lê Vi 19:18 “Yêu láng giềng ngươi như chính mình ngươi”.
Trong Phúc Âm, cụm từ “yêu mến hết trí khôn” là do Chúa Giêsu thêm vào khi trích dẫn Sách Đệ Nhị Luật 6:5 để trả lời câu hỏi của người thông luật hỏi Ngài về giới răn trọng nhất. Ngài đã thêm vào “với hết trí khôn”, để nói lên rằng việc nghĩ về Thiên Chúa là một phần trong tình yêu đối với Ngài. Bởi vì trí khôn liên quan đến những tư tưởng, niềm tin, và cách thức sử dụng thông tin. Yêu Chúa bằng trí óc nghĩa là để sự thật của Ngài định hình cách suy nghĩ của ta, từ chối những điều sai lầm và điều chỉnh cách nhìn thế giới của ta theo Thánh Kinh. “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, và hết sức ngươi.” (Marcô 12:30; Luca 10:27) Nhưng Luca lại đổi thứ tự giữa sức lực và trí khôn.
Như vậy, “Yêu mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn” (Luca 10:27) hay “Yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, và hết sức lực của ngươi” (Marcô 12:30), có nghĩa là tình yêu đối với Thiên Chúa phải trọn vẹn, sâu thẳm cả về tinh thần cùng với toàn thể khả năng, sức lực. Tình yêu này phải được thể hiện qua những người mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống. Nhưng để hiểu tại sao lại có thứ tự giữa “trái tim”, “linh hồn”, “trí khôn”, và “sức lực”, chúng ta hãy thử xem các học giả, các nhà chú giải Thánh Kinh giải thích thế nào về những từ ngữ này?
Trái tim (lòng): Trong Kinh Thánh Do Thái, trái tim là trung tâm của ý chí, tình cảm và sự lựa chọn đạo đức. Nó chính là trung tâm của cảm tình, sự chọn lựa luân lý và ý chí. Yêu mến Thiên Chúa với hết trái tim là tận hiến mọi ước muốn, tình cảm và quyết định của ta cho Ngài.
Linh hồn: Trong tiếng Hy Lạp, linh hồn (psche), là năng lực sống, bản sắc cá nhân và con người bên trong. Nó là sự sống và cảm xúc. Yêu mến Thiên Chúa với hết linh hồn là hiến dâng toàn bộ con người và cuộc sống của ta cho Ngài.
Trí khôn: Trí khôn là nơi chất chứa suy nghĩ, lý trí và sự hiểu biết. Nó đại diện cho tư tưởng và lý trí. Yêu mến Thiên Chúa với hết trí khôn là điều chỉnh niềm tin, kiến thức và quyết định của ta theo chân lý của Ngài.
Sức lực: Là năng lượng, khả năng và tài nguyên của ta. Yêu mến Thiên Chúa bằng tất cả sức mạnh là sử dụng thời giờ, tài năng và nỗ lực của mình để ca ngợi Ngài, phục vụ người khác và theo đuổi mục đích của Ngài
Tóm lại, tình yêu sẽ mang tính cảm xúc, cá thể, sức mạnh, con người và trí tuệ – toàn vẹn không chia cách. Trái Tim đứng thứ nhất, rồi mới đến Linh hồn, và sau đó là Trí khôn và Sức lực. Đây không phải là ngẫu nhiên nếu chúng ta nhìn vào phần vụ của một cơ quan trong cuộc sống con người, ở đó tình yêu bắt đầu từ bên trong, từ nguồn của ý chí và tình cảm. Nếu không có sự thao thức của trái tim, những khía cạnh khác sẽ thiếu nền tảng. Tiếp đến những đặc tính của linh hồn làm sâu sắc thêm cam kết với con người toàn diện, khẳng định rằng Chúa là trung tâm của cuộc sống và bản sắc của ta. Rồi trí khôn sẽ đưa tình yêu vào phạm vi suy nghĩ và hiểu biết, đảm bảo rằng niềm tin và quyết định của ta bằng với sức mạnh.
Một số học giả ghi nhận rằng trong tiếng Do Thái nguyên bản, “Trái tim” và “linh hồn” thường được dùng thay thế cho nhau, nên việc thêm “tâm trí” trong tiếng Hy Lạp của Mátthêu là một sự mở rộng có chủ ý để bao gồm cả sự liên kết lý trí với sự thật của Chúa. Bằng cách đặt “trái tim, linh hồn và tâm trí” cùng nhau, Chúa Giêsu dạy rằng tình yêu đối với Thiên Chúa không chỉ là cảm xúc hay nghi lễ mà là sự dấn thân toàn diện của con người, bao gồm ý chí và tình cảm, cuộc sống và bản sắc, trí tuệ và khôn ngoan cùng với sức lực của một con người. Tình yêu này đòi hỏi sự trọn vẹn, nhất quán và đầy đủ, vì nó là điều răn quan trọng nhất.
Cũng như chết vì yêu: “Không ai có tình yêu lớn hơn kẻ chết vì người mình yêu” (Gioan 15:13), khi đưa ra đòi hỏi phải yêu mến Thiên Chúa hết trái tim, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực, điều này chỉ có Chúa Giêsu nói và làm được mà thôi. Vì là Con Thiên Chúa, Đấng mang trong mình hai bản tính, Thiên Chúa và con người, nên Ngài mới yêu mến và vâng phục thánh ý Chúa Cha cách trọn vẹn – hết lòng; phó thác, hiến dâng chính mạng sống mình cho đến chết – hết linh hồn; sống theo sự thật cách trọn vẹn – hết trí khôn; và và thi hành thánh ý với tất cả sức lực.
Tóm lại, điều răn trọng nhất mà Chúa Giêsu dậy chính là yêu mến Thiên Chúa phải trọn vẹn, đầy đủ, bao trùm mọi phần, mọi quan năng trong con người, và thứ tự này phản ảnh dòng chảy tự nhiên từ tình cảm, ý chí bên trong, đến cuộc sống, rồi đến suy nghĩ, tất cả gắn liền trong sự tận hiến cho Thiên Chúa. Ngài là tấm gương tuyệt hảo, còn chúng ta chỉ có thể noi theo và bắt chước cùng với sự trợ giúp của Thánh Thần.