Buổi Thuyết trình của Sr. Isabella Trần Thị Kim Hường về “Viện Dưỡng lão tình thương Suối Tiên”

0

Song song với những hoạt động khác cùng với Giáo phận trong ngày Khánh Nhật Truyền Giáo năm nay, Ban Văn hóa của Hội Dòng cũng tổ chức một buổi Thuyết trình đặc biệt trong chương trình Nữ Tu Đăng Đàn vào tối Chúa Nhật tuần này. Thuyết trình viên của buổi Thuyết trình này không phải là các em đang trong giai đoạn Huấn luyện như thường lệ, cũng không là người thuộc Tu viện Trung ương mà là một vị “khách mời” đến từ một môi trường truyền giáo đặc biệt của Hội dòng: Cựu Bề trên Tổng quyền Isabella Trần Thị Kim Hường, Giám đốc “Viện Dưỡng Lão Tình Thương Suối Tiên (VDLTTST)”.

Nếu ai đã có dịp đến với VDLTTST, nhìn quang cảnh thơ mộng với ao cá, hàng dừa và khung cảnh thoáng mát, sạch sẽ; các bà già neo đơn cơ nhỡ, bị bỏ rơi đang sống an vui hạnh phúc những ngày tháng cuối đời dưới sự chăm sóc kỹ lưỡng về tinh thần lẫn vật chất của các nữ tu Dòng Đa Minh Tam Hiệp… ít ai nghĩ rằng nơi ấy có được như ngày hôm nay là nhờ thao thức đem tình thương Chúa đến cho người không nơi nương tựa của một nữ tu chân yếu tay mềm đã cao niên. Để “truyền lửa” cho chị em, nhất là các em mới nhập tu và các em trong giai đoạn Huấn luyện hiểu và thao thức với việc thi hành sứ mạng Truyền giáo của Giáo hội trong những mảng sứ vụ khác nhau của Hội dòng, Chị Cựu BTTQ đã nhận lời mời của Ban tổ chức để chia sẻ với chị em về đời sống, công việc và phương thức truyền giáo bằng đời sống chứng nhân “yêu như Chúa yêu” của các chị em nữ tu được sai đến phục vụ tại đó.

Sau khi xin ơn Chúa Thánh Thần đến soi sáng, hướng dẫn người nói lẫn người nghe, cả Hội trường thật lắng đọng chờ đợi, bởi cũng đã lâu rồi, kể từ khi mãn nhiệm Bề trên Tổng quyền đến nay, Chị Isabella mới trở lại diễn đàn để chia sẻ với chị em. Trong bầu khí chờ đợi đó, các em Thỉnh sinh đã cống hiến cho khán giả vũ khúc : “Đi loan Tin Mừng” tuy không chuyên nghiệp nhưng cũng khá bắt mắt tạo sự phấn khởi cho mọi người.

Tiếp ngay sau bài múa của các em, giọng nói thân thương của người Chị đã từng dẫn dắt Hội dòng trong hai nhiệm kỳ (1995 – 1999, 1999-2003) đưa khán giả đến với Viện Dưỡng Lão Suối Tiên, nơi Chị đang cùng với 4 chị em khác thuộc Tu xá thánh Catarina đang thi hành sứ vụ Truyền giáo bằng tình thương cho những người già bị bỏ rơi, neo đơn và cơ nhỡ. Qua bài nói chuyện của Chị, chị em trong Hội Dòng hiểu rõ hơn về lịch sử của Viện, những khó khăn, hy sinh và nhiệt tâm của những chị em thi hành sứ vụ tại đó, và trên hết là nhận ra tình yêu thương của Chúa hiện diện và đồng hành với những con người “được chọn gọi, thánh hiến và sai đi”:

“Khi Hội Dòng chính thức thi hành sứ vụ tại Viện Dưỡng lão vào đầu năm 2006, số nhân sự của Viện là 40 người đã qua đời, 15 bà chính thức ở trong nhà và khoảng 15 người thường ra ngoài ăn xin rồi trở vào. Viện Dưỡng lão lúc ấy mới chỉ là một ngôi nhà che mưa nắng cho những người neo đơn, nghèo khổ và tâm thần nhẹ được Chị Catarina Lê Thị Mai Toàn cưu mang. Sau khi Chị Mai Toàn đột ngột qua đời vì bệnh tim, Chị Isabella cùng hai người chị em khác được sai đến phục vụ và bắt đầu cho công việc thành lập Tu xá Thánh Catarina và Viện Dưỡng lão tình thương. Công việc đầu tiên là thu quét nhà cửa, sắp xếp để có chỗ ở cho 3 chị em và hệ thống nơi ăn chốn ở cho các bà trong một ngôi nhà chật hẹp. Công việc này mất tới hơn 2 tháng. Tạm ổn trong nhà, nhìn ra xung quanh thì đất đai sình lầy, cỏ hoang mọc phủ kín. Con suối chảy ngang đất nhà đầy cỏ lùng, bao bị, xác con vật chết thối người ta vất vào trông thật ngao ngán. Ba chị em bắt đầu bắt tay làm sạch môi trường, ngày nào người chị em cũng ướt như chuột lột… Bên cạnh đó, những cánh tay khẳng khiu, yếu ớt cùng với những nụ cười méo mó trên khuôn mặt của người tàn tật cùng với lời nhắc bảo của Chúa: “Các con hãy cho họ ăn” (Mt 14,16) là một sự thúc đẩy mạnh mẽ cho Chị tìm phương thế cải thiện cuộc sống của người nghèo tại đây vì nuôi người nghèo không thể chỉ trông chờ vào lòng tốt của người ta được. Công việc được dự tính là đào ao nuôi cá, thả vịt và nuôi heo theo mô hình Vườn- Ao-Chuồng.

Vạn sự khởi đầu nan, công việc không xuôi xắn như mong đợi vì những khó khăn về phía chính quyền, vì đất có nhiều hòn đá quá lớn, trong khi bản thân thì thiếu ngân quỹ và thiếu cả người hỗ trợ làm việc vì công việc quá vất vả, quá nặng nhọc. Tuy nhiên, Chúa là Đấng Quan phòng đã nhìn thấy và định liệu mọi sự nên đã chuẩn bị từ 2 năm trước qua việc tạo cơ duyên cho Chị được gặp gỡ và giúp xây trên 30 căn nhà tình thương cho những gia đình cơ cực trong lòng hồ Trị An. Và, trong lúc khó khăn này, những anh em này đã nghe tin và kéo nhau ra giúp đỡ lại cho Chị. Nhờ ơn Chúa và sự trợ giúp của những anh chị em đó, công việc đã hoàn tất tốt đẹp, người nghèo tại Viện đã có thể hy vọng một cuộc sống tốt hơn. Hiện giờ, với sự trợ giúp của nhiều ân nhân và nguồn lực sẵn có, người nghèo tại Viện đã có một đời sống vật chất tương đối no đủ.

Cho đến ngày 22/5/2010, Viện được UBND Tỉnh Đồng Nai chính thức công bố thành lập với tên gọi: “Cơ sở bảo trợ xã hội – Viện Dưỡng Lão Tình Thương Suối Tiên” sau 17 năm chờ đợi. Viện được hoạt động công khai và con số các bà tìm đến nương náu tại Viện ngày càng tăng. Cho đến hôm nay, đã có 68 bà được an nghỉ tại nghĩa trang của Viện và 78 bà với nhiều tôn giáo khác nhau đang vui sống, trong đó có 3 người mù, 7 người bị tâm thần nhẹ, 5 bà trên 90 tuổi và một số người phải nằm liệt một chỗ.

Về đời sống vật chất:

Nhìn thấy cuộc đời của những bà tìm đến với Viện đa phần là khổ đau, bệnh tật và thiếu thốn tình thương. Viện Dưỡng lão là trạm chót của cuộc đời họ. Vì thế, với hết khả năng, Chị đã cố gắng tạo cho họ một không gian thoáng mát sạch sẽ, thơ mộng để họ sống vui, an bình trong những ngày tháng cuối đời. Hình ảnh thường thấy hiện nay tại Viện là sáng chiều các bà dắt nhau đi dạo, đi tập thể dục. Tại các lối đi trong vườn, chị đặt thêm Tượng đài các Thánh để các bà có thể vừa đi dạo, vừa cầu nguyện, kính viếng các Ngài.

Đức Kitô đã thương nhân loại và thương cho đến cùng, Chị muốn noi gương Ngài thể hiện tình thương qua việc quan tâm đến môi trường sống của họ, dù thiếu thốn đến mấy cũng cố để tạo được một môi trường sạch đẹp và an bình. Riêng tại phòng của người bại liệt, Chị dùng giường Inox, có vòi tắm ngay tại phòng, dùng tinh dầu và các loại chất khử tốt để giữ cho phòng luôn vệ sinh và thơm tho, nhờ đó mà cả mấy chục người bại liệt ở trong phòng mà vẫn tạo được cảm giác sạch sẽ. Chính nơi phòng này, Chúa Giêsu nơi người nghèo được trân trọng, săn sóc và yêu thương thật sự. Do đó, khi đến thăm Nhà bại liệt này, một Sư thầy đã thốt lên: “Chỉ có người Công Giáo mới làm được thế này thôi”.

Riêng về ẩm thực, việc chăm sóc thức ăn cho các bà, nhất là những người không thể ăn cơm, Chị phải dành riêng một nữ tu y tá phụ trách. Các bà ăn được ngon và có sức khỏe tương đối tốt. Ngoài ba bữa chính, các bà còn được ăn thêm bánh và sữa trong hai bữa phụ nên thường không bị đói. Bên cạnh đó, trong vườn trồng được chuối, mít nên các bà cũng được dùng thêm trái cây.

Về tiền các ân nhân đến thăm và cho từng người thì các bà được phép nhận, sau đó kêu gọi họ bỏ vào từng phong bì riêng để gởi lại cho các Dì cất giùm để tránh mất mát gây nghi kỵ, bất hòa trong Viện. Đây là việc làm rất mất thời gian của các Dì  và các bà cũng không thích vì : “đồng tiền liền khúc ruột”, các bà rất thích giữ tiền. Tuy nhiên vì lợi ích chung, các bà cũng dễ vâng lời. Khi cần dùng đến tiền hoặc có nhu cầu gì khác, các bà chỉ cần nói với Dì Quản lý thì sẽ được đáp ứng. Hàng tuần, vào ngày thứ Tư, các bà được mua đồ và phân phát theo nhu cầu từng người. Hôm ấy là ngày các bà rất mong đợi và chan chứa niềm vui vì ai cũng rạng rỡ khi được cầm đồ mới trên tay.

Về đời sống tinh thần:

Việc phục vụ người nghèo không dừng lại ở việc cho họ có cơm ăn, áo mặc. Họ cần được sống vui, sống có ý nghĩa và sống sung mãn trong niềm tin. Hồn trọng hơn xác bao nhiêu thì của ăn trong linh hồn cũng trọng hơn của ăn phần xác bấy nhiêu. Nhận thấy các bà là người tứ chiếng, đa phần không có học thức, không được huấn luyện về kỹ năng sống và có những người cả đời sống lây lất bụi đời… ăn nói thiếu nhân bản và có nhiều tật xấu; phần lớn trong số họ là người ngoại giáo, nếu là người có đạo thì cũng là những người hời hợt, chẳng hiểu biết gì về đạo ngoài việc đã được Rửa tội và lãnh một vài Bí tích từ thủa bé… cho nên để giúp họ thay đổi đời sống để có thể sống an hòa với những người khác, Chị dùng phương pháp Tin Mừng Trị Liệu. Mỗi tối, trong giờ Kinh cuối ngày, Chị gặp gỡ các bà và hướng dẫn đời sống tâm linh. Những người bại liệt không tham dự được thì được nghe tại giường qua hệ thống âm thanh được kết nối đến tận phòng. Ngoài ra, hằng ngày, có nhiều thời gian rảnh rỗi, các bà tham dự giờ đọc kinh chung 4 lần và Chầu Thánh Thể riêng mỗi người 30’. Cả những người ngọai giáo cũng vào theo và học đọc kinh cầu nguyện chung với người có đạo. Nhờ được nghe nói về Chúa, được gặp gỡ chính Chúa trong cầu nguyện mà đời sống các bà được biến đổi nhiều, không chỉ trong cách ăn nói, cư xử với các bà khác mà họ còn sống vị tha, ý thức hơn trong công việc được giao, đồng thời quảng đại vui nhận những thử thách, đau đớn của bệnh tật hơn…

Hằng tuần các bà có Thánh lễ chiều thứ Bảy thay cho lễ Chúa Nhật và các Lễ Trọng. Vào các dịp lễ Trọng, Chị giúp xét mình và mời Linh mục đến giải tội cho họ.

Khi có người qua đời, tự tay các chị em trong Tu xá thánh Catarina lo hậu sự cho họ. Sau khi tắm thi thể, xác được đưa ra nhà quàn, được chia phiên cầu nguyện, lễ an táng và đưa ra nghĩa trang của Viện Dưỡng lão. Theo Nội quy của Viện, khi có người qua đời, gia đình tình thương này sẽ cầu nguyện cho linh hồn đó một tháng, xin 3 thánh lễ và mỗi tháng xin cho những người đã qua đời 1 lễ.

Nơi an nghỉ của các bà

Gia đình tình thương, nơi Chúa ban phép lạ hằng ngày:

Chúa Giêsu nhìn đám đông, Ngài  chạnh lòng thương, Ngài hiểu họ đang đói và cần được giúp đỡ nên dầu cho họ không xin, Ngài cũng đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng (Mt 14,13-21). Vì thế, để có thể yêu thương phục vụ như Đức Kitô, lời dạy của Thánh Phaolô “Anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện” (Cl 3,14) là câu nói nằm lòng của chị em nữ tu được sai đến phục vụ ở đây. Nhờ có đức yêu thương mà chị em mới có được cái nhìn của Chúa để thấy được tâm tư tình cảm cũng như những nhu cầu của những người mà chị em được phục vụ. Khi có tình yêu thực sự đối với họ thì chính tình yêu dạy cho chị em biết phải làm gì bởi vì “Tình yêu có nhiều sáng kiến” (Thánh Augustinô). Bên cạnh đó, chị em cũng cần có đức tin để nhìn thấy Chúa trong họ và tin rằng khi phục vụ họ là phục vụ chính Chúa. Dựa trên nền tảng đức tin và tình yêu mà chị em cố gắng từng ngày làm cho Viện Dưỡng lão này thành một “Gia đình tình thương”, nơi Chúa đã thực hiện nhiều phép lạ nhãn tiền.

Phục vụ người già, chấp nhận những tính tình không giống ai, chấp nhận cả một quá khứ chẳng mấy khi tươi đẹp đã ăn sâu vào trong suy nghĩ và thành nếp sống của những người đang ở trong giai đoạn “ba lần con nít”, không dễ bằng lòng với bất cứ cái gì … đã là một thách đố không nhỏ, nhưng thách đố đó trở thành nhỏ hơn so với khi chị em bước vào phục vụ các bà phải ở trong Nhà Bại Liệt, nhất là những bà bị thêm bệnh tiểu đường. Để có thể phục vụ được những người bệnh này phải có sự hy sinh và tình yêu thương cao độ. Biết phận mình yếu đuối nên trên đường bước vào Nhà Bại Liệt, Chị đã cho ghi câu lời Chúa: HÃY YÊU NHƯ THẦY ĐÃ YÊU. Đây là động lực và nội lực cho chị em phục vụ mỗi buổi sáng bước vào căn phòng đặc biệt này để làm vệ sinh, tắm rửa và săn sóc vết thương cho họ. Đối với những người bị tiểu đường mà bị lởi loét, chỉ cần nằm vài ba hôm là da thịt họ thâm đen và thịt bắt đầu thối bên trong, có những người lở loét toàn thân thật đau đớn. Phải cắt từng mảng thịt và rửa, cho thuốc để không bị thối lan ra vùng khác và cũng không ảnh hưởng đến những người cùng phòng. Nỗi đau đớn của bệnh nhân cộng với mùi hôi thối nồng nặc bốc lên từ cơ thể của họ khi được vệ sinh là một áp lực không hề nhỏ đối với các nữ tu y tá. Các chị phải dành hết tình yêu thương cho họ như yêu Chúa và yêu thương họ như Chúa yêu để có can đảm tươi cười vui vẻ phục vụ hằng ngày và mỗi ngày.

Nhận thấy mình được yêu thương, có bệnh nhân đã thốt lên: “Các Dì cắt thì em cũng đau lắm, nhưng em biết ơn các Dì. Em không cha không mẹ, không có anh chị em mà được các Dì thương như vậy thì em cám ơn Chúa lắm”.

Trong Viện, các bà được Chị chia công tác tùy theo sức mỗi người để họ có thể cảm nhận họ vẫn tồn tại một cách hữu ích. Khi đã hoàn thành công việc của riêng mình, thấy các Dì bận rộn quá, các bà cũng tự tìm việc cho mình hoặc đến gặp Chị để xin thêm việc. Nhờ thiện chí của họ mà cỏ trong vườn, rác hay lá rụng trên các lối đi được thu dọn sạch sẽ. Người còn khỏe mạnh, nhanh nhẹn thì phụ các Dì tắm giặt hay đút cơm cho người bại liệt. Người tâm thần không biết lau nhà nhưng có sức khỏe thì xách nước cho người mắc bệnh Đao lau nhà… Nhờ vậy mà Viện không phải thuê người phục vụ, trong khi các bà lại học được cách sống tương thân tương ái khi cùng nhau thực hiện chung 1 công tác.

Sau một thời gian sống nơi Viện Dưỡng lão, phần lớn các bà thay đổi tính nết, trở nên dễ thương hơn và chung sống hòa hợp được với người khác. Điều làm cho họ thay đổi không phải là sợ kỷ luật hay sợ bị bỏ rơi mà chính là họ cảm mến, yêu thương lại chị em. Thực ra, việc phục vụ và giúp các bà đổi mới con người cũ của họ không khó nhưng đòi hỏi chị em một khả năng chấp nhận cao, biết cảm thông và tôn trọng họ, tế nhị trong lời nói để không gây mặc cảm, tổn thương; nhìn ra những cố gắng trong công việc họ làm để khích lệ và tin tưởng để giúp họ vui sống trong cộng đoàn khá phức tạp này. Khi họ có một thói quen xấu nào đó không nên khắt khe đòi hỏi họ bỏ ngay mà phải lựa lời thuyết phục từ từ và kiên nhẫn trước những cố gắng tiệm tiến của họ. Về vấn đề này, Chị đưa ra một số trường hợp cụ thể và những kinh nghiệm Chị đã rút ra được sau khi các bà có “sự cố” để khán giả hiểu rõ hơn vấn đề.

Chị cảm nhận một điều là Chúa rất yêu thương người nghèo, Ngài lo lắng cho họ trong mọi việc và phép lạ cứ diễn ra hằng ngày nơi Viện: Các bà được no đủ cả về vật chất lẫn tinh thần; các bà dầu có nhiều khác biệt về tuổi tác, tính tình, nhưng trong nhà hiếm khi nghe tiếng cãi vã giận hờn; một vài người đau bệnh được hồi phục kỳ lạ … Đặc biệt hơn, với trường hợp bà X. bị rơi xuống giếng từ lúc 17 tuổi, người bị gãy gấp thành 3 đoạn và phải mang tật như vậy suốt đời. Khi vào Viện bà cũng chỉ nằm được một bên hoặc trái hoặc phải và ăn uống thật khổ sở, đau đớn, người lúc nào cũng cong vẹo, dị dạng. Thấy bà sắp lâm chung, Chị lo lắng không biết phải làm sao để đưa được bà vào trong hòm. Ấy vậy mà khi bà qua đời, lúc tắm xác cho bà Chị chỉ cần nói: “Bà ơi, cả đời bà đã khổ nhiều rồi, bây giờ bà mềm ra để Dì nắn lại cho người bà nằm thẳng một chút cho thanh thản”, vậy là người bà mềm hẳn ra và Chị đặt bà nằm thẳng như những người bình thường. Điều này làm cho các bà khác khi đến viếng xác, cầu nguyện vô cùng ngạc nhiên, không thể nhận ra được người đang nằm trên giường liệm là ai…

Viện Dưỡng lão, một môi trường truyền giáo hữu hiệu:

Không kể thời gian Chị Catarina Mai Toàn phụ trách, trong 7 năm qua, Viện đã có gần 30 người được Rửa tội và giúp rất nhiều người trở lại với Chúa sau nhiều năm bỏ đạo vì đơn độc, rồi cặp kè với ai đó sống qua ngày, bây giờ tuổi đã cao, người gá nghĩa đã chết hoặc bị ruồng rẫy, nay vào Viện mới bừng tỉnh, ăn năn trở về với Chúa. Bên cạnh đó, những trường hợp có đạo mà sống hời hợt, chẳng hiểu gì về đạo thì Viện là môi trường giúp họ ý thức hơn bổn phận làm con Chúa. Từ đó, họ sống tốt và nhiều người trong số họ đã trải qua một cái chết thanh thản, bình an, phần rỗi của họ có phần chắc chắn.

Vì thương những người nghèo neo đơn, đến lúc tuổi gà kiệt sức mà không có nơi nương tựa và nhận thấy sự hữu hiệu của việc Truyền giáo trong môi trường này nên Chị ước mong Hội Dòng mình cũng như các Hội Dòng khác mở thêm các Viện Dưỡng lão để cứu các linh hồn. Đương nhiên, người đi truyền giáo cũng phải chấp nhận vất vả khi bước vào đồng lúa được sai đến: khom lưng dưới nắng cháy và gồng gánh nặng nề để đưa lúa về kho lẫm.

Người đi thi hành sứ vụ truyền giáo trong môi trường đặc biệt này cần phải có nhiều cố gắng, hy sinh và nhẫn nại chịu đựng, nhưng có một điều quan trọng trên hết là luôn cảm nhận được: Chúa không bao giờ để ta một mình. Chủ của cánh đồng này là của Chúa, chúng ta là những người thợ. Ngài sẽ hỗ trợ chúng ta hết mình, chỉ cần chúng ta có cái “tâm” trong công việc và cái “tình” để biết yêu như Chúa yêu. Với kinh nghiệm bản thân, Chị nhận thấy rằng Chúa làm rất nhiều điều kỳ diệu khi chúng ta quan tâm đến người khác. Phép lạ sẽ diễn ra khi chúng ta góp một chút phần của mình vào, dầu nhỏ nhoi như 5 chiếc bánh và 2 con cá trước bữa ăn khổng lồ cho 5 ngàn người đàn ông, không kể phụ nữ và trẻ em (Ga 6, 1-15).

Thế giới ngày nay có nhiều tiến bộ về mọi mặt, nhưng đồng thời cũng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội. Một trong số đó là căn bệnh vô cảm của xã hội ngày nay càng ngày càng đẩy người nghèo đến chỗ bần cùng. Người ta có thể bỏ ra hàng tỷ, chục tỷ để tổ chức một đám cưới nhưng người anh em nghèo bên cạnh cần một bát cơm khi đói lòng không dễ được sẻ chia. Thử hỏi có được bao nhiêu người như đôi bạn trẻ sau lễ cưới đến với Mẹ Teresa Calcutta và nói: “Thưa mẹ, chúng con không tổ chức đám cưới linh đình, chúng con dành số tiền ấy để mẹ lo cho người nghèo” ?. Là những môn đệ Chúa Kitô, chúng ta không thể dửng dưng trước người nghèo khổ nhưng cần mặc lấy tâm tình yêu thương của Ngài để thao thức khi nhìn thấy “đòan chiên bơ vơ”, để biết yêu thương “như Thầy đã yêu thương anh em”. Và đồng hành với Giáo hội, chúng ta cũng phải có chung một suy tư : Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của chúng ta (x. Hiến chế vui mừng và Hy vọng) để biết mở lòng, mở rộng vòng đai hoạt động bác ái và nhất là mở rộng Nước Thiên Chúa bằng tình yêu thương như ĐTC Phanxicô đã nói: “Yêu thương là phương tiện truyền giáo hữu hiệu nhất”

Theo bản thống kê mới nhất vào ngày 28.5.201, Giáo hội hiện có 5.305 nhà thương, 9.882 cô nhi viện, 547 trại cùi, 17.222 Viện dưỡng lão, 39.331 trung tâm phục hồi xã hội. Nhưng chừng đó vẫn chưa đủ vì vẫn còn rất nhiều người lang thang đầu đường xó chợ, vẫn còn biết bao nỗi dằn vặt đớn đau trong phận người, vẫn còn con số rât lớn những con người phủ nhận Thiên Chúa hoặc chưa có cơ hội để nhận ra Thiên Chúa là Cha yêu thương của họ.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con đến với tha nhân bằng đôi chân của Chúa, nhìn tha nhân với ánh mắt của Chúa, yêu tha nhân với trái tim của Chúa và phục vụ tha nhân với tấm lòng của Chúa … để qua con, người khác nhận ra Chúa đang hiện diện giữa thế giới này.”

Chương trình Nữ Tu Đăng Đàn khép lại trong tiếng ca tạ ơn: Khúc cảm tạ, từ đó âm vang vọng ngân… nguyện theo chân Chúa đi qua, đồi Tabor hay thập giá... Xin tạ ơn Chúa vì Ngài vẫn có đó, hiện diện, đồng hành và đỡ nâng từng người chị em chúng con trên mọi nẻo đường Truyền giáo. Xin cho những cảm nhận và những thao thức truyền giáo mà chúng con được người Chị “truyền lửa” cho không dừng lại ở những cảm xúc nhưng là động lực thúc đẩy chị em chúng con nhiệt tâm lên đường thi hành điều Chúa muốn.

Ban Truyền Thông              

 

Comments are closed.