ĐGH Gioan XXIII và Công đồng Vatican II

0

Sáng thứ Hai ngày 30 tháng 9 năm 2013, trong Công Nghị Hồng Y đầu tiên do ngài triệu tập, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên bố rằng ngài sẽ phong thánh cho hai vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan XXIII và Đức Gioan Phaolô II, vào ngày 27 tháng 4 năm 2014. Việc chọn ngày này thật ý nghĩa, đó chính là ngày lễ Lòng Thương Xót Chúa. Và như thế, ước mơ cuối cùng đã trở thành sự thật. Cả hai vị Giáo hoàng này được nhiều người ngưỡng mộ và cả thế giới đều công nhận sự thánh thiện của các ngài – cả hai sẽ cùng được phong thánh trong một buổi lễ mà chắc chắn sẽ thu hút hàng triệu người đến Rôma. Khi công bố quyết định này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về Đức Gioan XXIII: “Ngài đã được các Kitô hữu yêu mến, chúng ta đang sống trong năm kỷ niệm lần thứ năm mươi khai mạc Công Đồng, và … không ai còn nghi ngờ về sự thánh thiện của ngài”. Bài viết này xin chia sẻ vài suy tư về Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, người đã khởi xướng Công Đồng Vatican II.

Cậu Angelo Giuseppe Roncalli sinh  năm 1881 ở Sotto il Monte, một làng nhỏ thuộc tỉnh Bergamo, miền Bắc nước Ý, là con thứ ba trong một gia đình có tất cả 11 người con. Cậu trở thành linh mục ở tuổi 22. Một năm sau, năm 1905, ngài được bổ nhiệm trở thành thư ký giám mục giáo phận của ngài. Năm 1921, Đức Thánh Cha Bênêđictô XV bổ nhiệm ngài trở thành Chủ tịch Hội Truyền Giáo Ý. Ngài cũng là đại diện Tòa Thánh tại Bulgaria và là sứ thần Tòa Thánh ở Istanbul, Athens và Paris. Năm 1953, Đức Piô XII vinh thăng Hồng Y cho ngài và bổ nhiệm ngài trở thành Thượng Phụ thành Venice. Ngài phục vụ ở đó cho đến năm 1958, khi ngài được bầu chọn trở thành Giáo hoàng ở tuổi 77. Ngài là vị Giáo hoàng thứ 261 của Giáo hội Công giáo Rôma. Mọi người ngày ấy đều cho rằng ngài chỉ là Giáo hoàng chuyển tiếp, nhưng dưới sức mạnh của Thánh Thần ngài đã làm nhiều việc phi thường.

Chỉ sau ba tháng nhậm chức, ngày 25 tháng 1 năm 1959, qua tông sắc “Humanae Salutis” ngài công bố triệu tập Công đồng chung Vatican II, nối tiếp Công đồng chung Vatican I. Đây là một biến cố rất lớn và có tầm ảnh hưởng quan trọng trong lịch sử Giáo hội, vì Công đồng Vatican II đưa Giáo hội nhập cuộc vào thế giới tân tiến của thời đại ngày nay, và ngài coi đây là một lễ Hiện Xuống mới. Công đồng nghiên cứu về mọi mặt của Giáo Hội: đời sống phụng vụ, các mối quan hệ xã hội, Giáo hội và thế giới hiện đại, Giáo hội Công giáo và phong trào đại kết. Công đồng còn nhằm hai mục đích: thứ nhất cập nhật hóa Giáo hội để quét sạch bụi bậm đã bám vào trong thời gian cả ngàn năm; thứ hai mở đường cho phong trào Đại kết, tái hợp nhất mọi Kitô hữu đã chia rẽ gần chục thế kỷ. 

Ngày 11 tháng 10 năm 1962 Công đồng chung Vatican II được chính thức khai mạc ở đền Thánh Phêrô bên trong Vatican trong một nghi lễ long trọng, có sự hiện diện của 2540 Giám mục trên thế giới về tham dự. Vatican II là Công Đồng lớn nhất trong lịch sử Giáo hội, quy tụ hàng Giám mục của cả thế giới. Đây là lần đầu tiên đại diện của các Giáo hội thuộc đủ mọi chủng tộc, màu da, văn hóa, khuynh hướng … nói lên tiếng nói của mình trong tinh thần hiệp nhất của Giáo hội Công giáo. Cũng chưa có một Công Đồng nào trước đây cần đến một đội ngũ chuyên viên hùng hậu, sử dụng các kỹ thuật và phương tiện truyền thông dồi dào như vậy.

Sau bốn kỳ họp kéo dài từ năm 1962 đến năm 1965, Công Đồng đã mang lại kết quả cụ thể –ngoài những kết quả khác– là 16 văn kiện, gồm 4 Hiến chế, 9 Sắc lệnh và 3 Tuyên ngôn. Nếu phải tổng hợp kết quả này trong một câu vắn gọn, tương xứng với thực tại, thiết tưởng không gì hơn là lặp lại chính lời của Đức Gioan XXIII, trong bài Diễn văn truyền thanh phát đi một tháng trước ngày khai mạc Công Đồng. Được hỏi nên đặt tựa đề cho bài Diễn văn này như thế nào, ngài đã trả lời : Ecclesia Christi, Lumen gentium (Giáo hội Chúa Kitô, Ánh sáng muôn dân). Tất cả Công đồng Vatican II là như thế.

 Trong năm năm triều giáo hoàng của ngài, ngoài việc đơn giản hóa lễ nghi đăng quang giáo hoàng, ngài đã phá lệ thường của Vatican để ra khỏi điện hơn 100 lần, viếng các lao xá, bệnh viện, nhà mồ côi, hành hương Lorettô, Atxidi… Ngài luôn cởi mở với thế giới, tiếp kiến hơn 30 nhà lãnh đạo các quốc gia. Ngài thực là gương mẫu nổi bật của một chủ chăn nhân hậu, đơn sơ, khiêm tốn, bao dung, có lòng thương người, ăn ở có tình có nghĩa. Ngài không giảng những bài thần học dài hoặc suy tư triết học sâu. Thay vào đó, ngài chỉ nói thật đơn giản những gì ngài cảm thấy Chúa đã yêu cầu ngài nói, và ngài trình bày trong phong cách nói chuyện với tâm hồn của những con người bình thường. Ví dụ, trong bài giảng tại Thánh lễ khai mạc Công Đồng Vatican II, Đức Gioan XXIII nồng nhiệt nói lên những hy vọng của ngài đối với Công đồng, ngài nói rằng: “…Giáo hội sẽ làm cho mọi người, các gia đình, và các dân tộc thực sự hướng tâm trí của họ đến những sự trên trời”.

Chiều ngày 03 tháng 6 năm 1963, ĐGH Gioan XXIII đã đi vào cõi vĩnh hằng, hưởng thọ 82 tuổi. Văn phòng báo chí Tòa Thánh chỉ nói ngắn gọn: “Ngài không còn chịu đau khổ nữa”.  Hơn nửa thế kỷ qua, từ sau khi ngài triệu tập Công đồng Vatican II (1962-1965), Giáo hội Công giáo đã được canh tân. Người triệu tập Công đồng Vatican II là một “ông già vui vẻ”, được mệnh danh là “Giáo hoàng Tốt lành”. Ngài đã được Chân phước GH Gioan Phaolô II tôn phong Chân phước năm 2000.

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII sẽ luôn luôn được liên kết với Công đồng. Nhưng ngài đã không sống đủ lâu để quan sát sự kết thúc của Công đồng, ngài cũng không nhờ Công đồng để gây ấn tượng về ý kiến cá nhân hoặc sự trình bày rõ ràng, chính xác của ngài. Ngài đã mở cánh cửa Giáo hội ra với thế giới bên ngoài, và đem một sinh khí mới vào sự sống Giáo hội. Ngày nay, người Công giáo tin rằng, nhờ Chúa Thánh Thần, Công đồng Vatican II đã cứu Giáo hội Công giáo khỏi tình trạng xơ cứng và suy sụp. Người ta vẫn nói rằng, cứ khoảng 300 năm tới 500 năm, Giáo hội lại cần tái tự kiểm tra và kiểm tra vị trí của mình trên thế giới. Đó là điều đã xảy ra tại Công đồng Nicê (Nicaea) hồi thế kỷ thứ 4 và Công đồng Trentô (Trent) hồi thế kỷ 16 – và đặc biệt là Công đồng Vatican II trong thế kỷ 20. Trong cùng một cách, Tin Mừng được truyền trở lại cho thế hệ mới của các Kitô hữu trong thế kỷ thứ nhất, gia sản của Công đồng đã được truyền lại cho thế hệ chúng ta, để chúng ta có thể gìn giữ sống động trong tâm trí bằng cách đưa nó vào cuộc sống của chính mình. Nói tóm lại, chúng ta không thể là người “Công giáo” mà không là người “Công giáo Công đồng Vatican II”.

Việc phong thánh của ngài trùng hợp với kỷ niệm lần thứ 50 khai mạc Công đồng là một sự kiện rất có ý nghĩa. Cả hai sự kiện buộc chúng ta phải xem xét lại các văn kiện công đồng và suy nghĩ về cách thức mà các văn kiện đã được thực hiện. Triều đại Giáo hoàng của Đức Thánh Cha Phanxicô 50 năm sau Công đồng cho thấy rõ sự xác minh về Công đồng hơn sự phong thánh cho Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII. Trong cuộc phỏng vấn gần đây với tạp chí của Dòng Tên, Đức Thánh Cha Phanxicô cho biết: “Công Đồng Vatican II là đọc lại Tin Mừng trong ánh sáng của nền văn hóa đương đại”, và như thế, động lực của việc đọc lại Tin Mừng là “hoàn toàn không thể thay đổi được”. Vì thế, chúng ta không thể hiểu Tin Mừng bên ngoài khuôn khổ của Công đồng. Hiện nay, có một xu hướng trong Giáo hội thừa nhận tính hợp pháp của Công đồng, nhưng bỏ qua những lời giáo huấn của Công đồng. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng Công đồng hơn một sự kiện của Giáo hội trong quá khứ. Thay vào đó, Công đồng chính là một ống kính mà qua đó chúng ta đọc Tin mừng và sống cuộc sống của người Kitô hữu ngày nay. Năm mươi năm về trước, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã không thể nói điều đó trong khi Công đồng vẫn còn tiếp tục trong các phiên họp.

Một điều rất quan trọng, đó là những người Công giáo có xu hướng bỏ qua những lời dạy của Công đồng. Họ nói rằng, bởi vì các văn kiện chứa đựng những ý tưởng thần học phức tạp đã được hoặc có thể dễ dàng bị giải thích sai. Và điều này sẽ trở thành một trở ngại cho việc đọc các văn kiện và thực hiện lời dạy của Công đồng trong các văn kiện. Thật ra, các văn kiện đã được viết và diễn đạt rất rõ ràng và dứt khoát.

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đại diện cho Công đồng; Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đại diện cho sự hưởng ứng để hiệu chỉnh Công đồng. Và như vậy tất cả hài hòa qua việc hai ngài được phong thánh cùng với nhau, mặc dù hai vị rất khác nhau, ngay cả trong phương pháp mục vụ và thần học của các ngài. Nhưng cả hai ví dụ cho thấy việc thừa nhận những thực tế cổ xưa trong giáo hội, hay đúng hơn là thái độ hân hoan, biểu hiện đa dạng sự mặc khải của Thiên Chúa. Sự thật về Đức Giêsu có thể được tìm thấy trong cả hai Phúc Âm của thánh Marcô và thánh Gioan mặc dù chúng rất khác nhau. Đức Giáo hoàng Gioan XXIII và Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng rất khác nhau, nhưng dân Thiên Chúa đã và luôn thấy sự hiện diện của Đức Giêsu trong cuộc đời của mỗi vị. Và Giáo hội Công Giáo được phong phú hơn vì điều này.

TẠM KẾT

Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII của Công đồng là vị ngôn sứ đã can đảm mở đường, tập trung vào Chúa Giêsu Kitô, xuất phát lại từ chính Ngài bằng gắn bó với Ngài trong Bí tích Thánh thể, trong Thánh lễ và các Bí tích, bằng chiêm niệm Lời Chúa trong cầu nguyện hàng ngày để có sức thiêng mà luôn sống nhân hậu, hiền lành, khó nghèo, không sợ chết, không sợ khổ, không an phận và luôn mỉm cười. Công đồng Vatican II đã làm cho trái tim con người trở thành một trái tim nhân hậu. Nó giúp con người chọn con đường của tình thương và lòng hảo tâm. Và quan trọng nhất, nó thu hút mọi người đến gần Chúa hơn. Dân Chúa cần ý thức vị trí căn tính của mình trong Giáo hội để cùng với hàng giáo phẩm thi hành nhiệm vụ ngôn sứ cho thế giới. Tình yêu Chúa Giêsu Kitô đã mời gọi chúng ta đổi mới con người chúng ta. Ước mong mỗi Kitô hữu Việt Nam luôn duy trì được nhiệt tình như những Kitô hữu tiên khởi của Giáo hội, luôn cậy dựa vào quyền lực của cùng một Thần Khí đã đổ xuống trong Lễ Ngũ Tuần, để lại lên đường thi hành sứ vụ Tân Phúc âm hóa và thực hiện việc tái loan báo Tin Mừng cho một thế giới hiện đại đang chủ trương tục hóa.

Hỡi những Kitô hữu “Hãy mở những cánh cửa sổ ra. Hãy tìm hiểu nhìn xem những dấu chỉ thời đại. Hãy lắng nghe con người và tìm hiểu những suy nghĩ thắc mắc của họ”. (Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII.)

Sr. Maria Ngô Liên

Comments are closed.