Những môn đệ tiên khởi của Thánh Đa Minh – Chân phước Batôlômêô Di Braganza

0

CHÂN PHƯỚC BATÔLÔMÊÔ DI BRAGANZA, GIÁM MỤC

***

Các sử gia ở Vicenza đồng ý với các sử gia của Dòng khi đặt chân phước Batôlômêô di Braganza vào số các anh em tiên khởi và nổi bật nhất của thánh Đa Minh. Trên thực tế người nổi tiếng ở nhiều phương diện. Người đã được phú bẩm những tài năng tuyệt vời và đã phát huy chúng một cách cần mẫn. Những công tác mà người đã cống hiến cho Giáo hội trong tư cách một nhà giảng thuyết Tông tòa, một Tôn sư thánh điện, một Giám mục và như một đặc sứ của Tòa thánh, giúp cho người xứng đáng có một vị trí vinh dự trong lịch sử Hội thánh. Một con tim trong trắng hiếm có và lòng đạo đức nổi bật như để tô nét thêm tính cách cao quý của người.

Đã có nhiều Giáo hoàng tỏ lòng tín nhiệm Batôlômêô. Thánh Louis, vua nước Pháp, đã mộ mến người. Các nhân đức của người khiến cho những ai được người hướng dẫn kính phục. Nước Ý đã hưởng được nhiều lợi ích đáng kể nhờ lời giảng dạy của người. Nhờ công việc và mẫu gương của người, nhiều người đã gia nhập Giáo hội, còn các tín hữu ngày càng gia tăng lòng sốt mến.

Độc giả của chúng ta sẽ hoàn toàn đồng ý rằng ký ức về một con người như thế hẳn không nên bị lãng quên. May mắn thay, người đã để lại một ký sự hay nhật ký dưới hình thức của lời trăng trối và chúc thư. Nhờ tài liệu này, người ta có thể viết được phần nào tiểu sử của người và đưa ra một số sự kiện chính yếu trong cuộc đời của người theo một niên đại chính xác. Thứ tự của các sự kiện như thế thì thật quan trọng bởi vì các sử gia thường hay nhầm lẫn.

Batôlômêô chào đời tại Vicenza, một thành phố nước Ý, cách Venice 40 dặm về phía tây, nằm ở nơi giao nhau giữa hai dòng sông Retrone và Bacchiglione. Không ai biết chắc ngày sinh của người, nhưng đoán chừng vào khoảng năm 1200 hay 1201. Người đã hoàn thành một phần chương trình học ở Padua. Anthony Godi, một tác giả thế kỷ XIII, nói rằng người thuộc dòng dõi các bá tước Braganza, từ lâu đã lừng danh ở Lombardy. Vài tác giả người Ý khác cũng đã đưa ra lời nhận định như vậy. Duy chỉ với các tác giả kế tiếp của bộ tác phẩm “Hạnh các Thánh” (Acta Sanctorum), do Cha John Van Bolland, S.J. khởi xướng, dường như muốn đặt vần đề về nguồn gốc quý tộc của người.5 Tuy nhiên, nghi ngờ của họ đưa đến một cuộc hội đàm của nhóm Societ Palatina ở Milan, vốn đã phát hành tác phẩm “Cronica della Citt di Vicenza” của Godi trong một tuyển tâp rất đồ sộ được biết đến như là “Tuyển tập những văn nhân trong lịch sử nước Ý” (Rerum Italicarum Scriptores). Signore Argelati, giám đốc uyên bác và nổi tiếng của nhóm trên, đã trả lời rằng những bản thảo cổ chứng thực chân phước Batôlômêô, O.P., Giám mục Vicenza, thuộc dòng dõi những bá tước Braganza, những lãnh chúa của thái ấp cùng tên.6

Chính trong thời gian theo học tại Padua, người cũng lo trau dồi việc đạo đức. Nơi ấy, vị Giám mục tương lai có một vận may tốt để làm quen với thánh Đa Minh, cũng như để nghe vài bài giảng của người. Con người tông đồ này truyền cảm hứng cho cậu sinh viên của chúng ta ghét bỏ sự hão huyền của thế gian và đã quyết định hiến dâng những tài năng của mình để phục vụ Giáo hội. Không những thế cậu còn quyết định theo đuổi nếp sống gương mẫu nơi vị sáng lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết, và đã nhận tu phục từ chính thánh nhân.7

Lúc bấy giờ, Batôlômêô chắc hẳn còn rất trẻ. Ít nhất, chính người cũng nói với chúng ta rằng người được thánh Đa Minh huấn luyện và chăm sóc như một người cha và được nuôi dưỡng trong Dòng từ thuở thiếu thời.8 Ban đầu, người dành toàn bộ tâm huyết cho việc học hỏi đời sống mới và phát triển những tài năng đáng quý mà trời đã phú bẩm cho người. Bằng cách này, nhờ sự trợ giúp của ân sủng và dưới sự hướng dẫn của những vị thầy kinh nghiệm, chẳng bao lâu người được xem là một Tu sĩ mẫu mực, một nhà thần học có tài năng, một người giảng dạy trung thành và một người bảo vệ Lời Chúa.

Ngay sau khi được thụ phong, vị tân Linh mục được gửi đi rao giảng đức tin Công giáo cho dân chúng để chống lại sự phóng đãng và lạc thuyết. Đồng thời, người đã nỗ lực để dẹp yên những xáo trộn nghiêm trọng mà lúc ấy đang phổ biến khắp các thành thị của nước Ý, đặc biệt là ở miền Lombardy. Công việc này vốn chiếm nhiều thời gian, người đã được trợ giúp bởi những nhà giảng thuyết nổi tiếng khác trong Dòng. Giám mục Henry de Sponde đã ca ngợi những người này trong quyển “Sứ Biên Niên của Giáo hội” (Annales Ecclesiastici), hay quyển toát yếu “Sử biên niên” của Cesare Baronio.9

Tuy nhiên, cùng với sự nhiệt thành không mệt mỏi, Batôlômêô chưa hài lòng về nỗ lực dẹp bỏ tư tưởng bất hòa, cũng như hòa giải mâu thuẫn giữa những cá nhân, các gia đình và những cộng đoàn. Người nhận thấy rằng cần có một biện pháp lâu dài để kiếm soát những bất hòa đáng tiếc vốn đang tiếp tục làm xáo trộn sự an bình chung. Người xác tín rằng, nếu không có giải pháp hữu hiệu, thì sự giảng thuyết của các cha không thể sản sinh hoa trái như lòng mong muốn. Do đó người thiết lập một hiệp hội có tên là “Các hiệp sĩ của Đức Maria vinh quang” (Chevaliers of Sancta Maria Gloriosa).

Mục tiêu của hiệp hội này là gìn giữ hoặc khôi phục sự thanh bình giữa dân chúng. Các thành viên hiệp hội mang sứ điệp hòa giải đi khắp nơi. Họ đã tận dụng tất cả các phương tiện mà đức bác ái Kitô giáo có thể gợi lên để chấm dứt các mối bất hòa, tranh chấp và thù hận – nói tóm lại, chấm dứt những gì đưa đến cuộc nội chiến đã khiến nhiều người Ý phải đổ máu và mất của. De Sponde, Giám mục thành Pamiers đã đề cập ở trên, nói đến sự thiết lập của hiệp hội theo kiểu quân sự. Chẳng bao lâu sau, hiệp hội này được Tòa thánh tán thành, và năm 1261 được châu phê bởi sắc chiếu của Đức Giáo hoàng Urban IV.10

Sự can thiệp của Thiên Chúa là cần thiết để làm cho người dân Ý biết nghe những lời khuyên lơn, cầu nguyện và răn bảo của những người đã nỗ lực mang lại an bình và hòa thuận giữa họ. Chỉ có sự trừng phạt từ trời mới có thể chạm đến những trái tim của những người nổi loạn, xem như không gì có thể đem lại ý thức về bổn phận của họ. Vì lý do này, De Sponde nói tiếp, Thiên Chúa đã giáng phạt đất nước này từ tai họa này đến tai họa khác. Trước hết là những cơn địa chấn hủy diệt, sau đó là những mùa màng thất bát kéo theo nạn đói, bệnh dịch hạch và thời tiết giá lạnh. Sau cùng, những trận lũ lụt dữ dội đã gây ra cảnh điêu tàn cho các thành phố cũng như thôn quê.

Những tai họa này xảy đến dồn dập khiến cho dân chúng phải ăn năn sám hối. Trong đó một số lớn chắc hẳn không phải sám hối chỉ vì sợ sự xét xử của Thiên Chúa, nhưng họ làm tất cả để tránh cơn thịnh nộ của Người. Nhiều cuộc rước kiệu đã được tổ chức ở khắp nơi, gồm hết mọi thành phần tham gia, đủ mọi lứa tuổi, giới tính và địa vị. Họ đi chân đất, vác thánh giá hoặc cầm đuốc, và hát những lời ca tụng Thiên Chúa. Họ thực hành mọi khổ chế. Những điều đó là nguyên nhân mà người ta gọi năm 1233 ở nước Ý là “Năm toàn dân cầu nguyện” (l’anno della devozion generale). Các tín hữu cảm thấy hạnh phúc vì tấm lòng thống hối và khiêm nhường chân thành của họ, được diễn tả qua những hình thức sám hối và đạo đức đáng được Thiên Chúa đón nhận.

Đang khi vị Tu sĩ giảng thuyết nhiệt thành của chúng ta bận rộn hết sức để giải thích cho dân chúng ở khắp nơi tính chất cần thiết của sự hy sinh nội tâm, thì Đức Giáo hoàng triệu người về Rôma để làm thần học gia. Những ai cho rằng Batôlômêô di Braganza là người kế vị trực tiếp thánh Đa Minh với tư cách là Tôn sư thánh điện thì đã bỏ qua sự kiện là khi Đấng sáng lập qua đời Batôlômêô chỉ mới 20 hay 21 tuổi. Bên cạnh đó, chính Giáo hoàng Gregory IX chứ không phải là Giáo hoàng Honorius III(thời gian thánh Đa Minh qua đời), đã trao vị trí đáng kính đó cho vị Tu sĩ này. Ngày bổ nhiệm là khoảng năm 1235. Người tiếp tục giữ chức vụ đó dưới thời Đức Giáo hoàng Innocent IV, mà người đã tháp tùng đến Lyon vào tháng 12 năm 1244 và năm sau lên ngôi Giáo hoàng.

Bất cứ khi nào có thời gian rảnh sau những công việc của mình, Batôlômêô đều ngồi viết lách. Những bản thảo cũ của tu viện tại Vicenza vẫn còn cho thấy những tác phẩm khác viết về lòng đạo đức, vài cuốn chú giải về Thánh Kinh và về các cuốn sách trước đây được xem như của Denis, và một số những luận án khác từ ngòi bút của người. Cả các sử gia thành Vicenza lẫn Cha James,O.P. đều đưa ra một danh sách các tác phẩm của người; rất tiếc là chúng ta không đủ chỗ trống để ghi lại ở đây, hay đưa ra những lời bình luận về sự xuất sắc của chúng.

Chúng ta không biết khi nào và bằng cách nào thánh Louis, vua nước Pháp, biết về những thành tích xuất chúng của vị Tu sĩ giảng thuyết này. Cũng có thể là nhờ danh tiếng vang dội của Batôlômêô, cũng có thể người được Đức Giáo hoàng gửi đến nhà vua với vài phận vụ. Tuy nhiên điều chắc chắn là nhà vua đã chọn người con thánh thiện và uyên bác của thánh Đa Minh làm cha giải tội. Người ta tin rằng, và không phải là không có lý do, Batôlômêô giữ vị trí này khi viết khảo luận ngắn bàn về việc giáo dục các hoàng tử (De Informatione Regiae Prolis), mà người đã kính tặng cho hoàng hậu Margaret, phu nhân của thánh Louis.

Có lẽ khi đang làm việc ở Paris thì Batôlômêô được Đức Innocent IV đặt làm Giám mục thành Nemosia (hay Nimesia), thuộc đảo Cyprus. Ferdinand Ughelli, một sử gia thuộc Dòng Xitô, cho rằng sự kiện này xảy ra vào năm 1250; nhưng theo quan điểm của nhóm Bolland (các Tu sĩ Dòng Tên), biến cố trên xảy ra vào năm 1248 thì có vẻ hợp lý hơn. Thực ra, chính Batôlômêô nói với chúng ta rằng Đức Giáo hoàng bổ nhiệm người làm Giám mục vào thời điểm thánh Louis đảm nhận cuộc hành trình tiến về phương Đông để khôi phục lại Đất Thánh.11 Hình như đúng là vị Giám mục – Tu sĩ giảng thuyết hộ tống vị vua thánh nước Pháp cho đến tận đảo Cyprus; và chúng ta biết rằng vào ngày 17 tháng 09 năm 1238, vua Louis đã đến được hòn đảo.

Khi vua Louis rời đảo Cyprus vào tháng 5 năm 1249 để bao vây Damietta, Ai Cập, Batôlômêô đã tiếp quản địa phận này. Nơi đây, người đã dành 5 hoặc 6 năm để thi hành những trách vụ coi sóc của một Giám mục. Người đặt cả tâm huyết và linh hồn để hướng dẫn đàn chiên của người, điều chỉnh cuộc sống của hàng giáo sĩ và giúp đỡ người nghèo. Trên hết người là một mẫu gương hoàn hảo của lòng đạo đức và sự tuân giữ kỷ luật. Người quy củ và cẩn thận trong việc kinh lý các giáo xứ trong giáo phận. Với sự quan tâm, người đã sửa chữa những lạm dụng gây chia rẽ giữa các tín hữu, nhổ bật rễ sự mê tín, canh tân lại những việc đạo đức, và phục hồi lại kỷ luật của Giáo hội.

Trong khi người rất bận rộn với những công việc của giáo phận, nhiều nhu cầu cấp thiết của Giáo hội đã kéo vị Giám mục đạo đức ra khỏi những giáo dân yêu quý của người. Đức Giáo hoàng đã ra lệnh cho người phải ngay lập tức đi cùng vua Louis sang Palestine. Tuy nhiên, người ta không biết liệu người có tiếp tục sứ vụ thầm kín trên hay làm trợ tá cố vấn cho vua nước Pháp sau sự thất bại thảm hại của lực lượng Kitô giáo do các tín hữu hồi giáo ở Mansura, Ai Cập gây ra, rồi sau đó phải nhờ Louis, lực lượng Kitô giáo chiếm được Damietta. Cha Vincent Pontana, O.P chủ trương rằng Batôlômêô được gửi sang Palestine với tư cách đặc sứ Tòa thánh, và ở đó một lần nữa người lại hoạt động như là cha giải tội của nhà vua.12 Nhưng chúng ta biết rằng một Tu sĩ giảng thuyết khác là Geoffrey de Beaulieu, khi đó cũng là cha giải tội của vua Louis, trong khi Hồng y Eudes Chteauroux ở với vua trong tư cách đặc sứ của Tòa thánh.

Trong tập ký sự ngắn về chính cuộc đời của mình, Giám mục Batôlômêô nói với chúng ta rằng người đã ở với thánh Louis tại Jaffa, Sidon, và Ptolemais. Người cũng nói rằng cả vua và hoàng hậu, khi lên tàu trở về Pháp, đã giục người đến thăm họ ở Paris, nơi người sẽ nhận những trọng trách mới mà hoàng gia ban cho người. Chúng ta có thể đặt hành trình của Đức Cha đến Syria vào năm 1254, năm cuối cùng vua Louis ở Palestine. Rõ ràng người đã cố vấn và giúp đỡ vị vua thánh thiện bằng những nỗ lực của người nhân danh tôn giáo và lòng bác ái trên những miền của Đất thánh, nơi vẫn còn dưới sự cai quản của Kitô giáo.

Nếu khi đó vị Giám mục trở lại Giáo phận của người ở Cyprus, người cũng không thể ở lại đó lâu. Đức Giáo hoàng Alexander IV, lên ngôi Giáo hoàng ngày 12 tháng 12 năm 1254, thấy rằng Batôlômêô cần phải ở Ý hơn và đã bổ nhiệm người làm Giám mục Vicenza, nguyên quán của người. Trong nhiệm vụ mới này, Batôlômêô đã khởi đầu lại công việc với năng lực vốn có, tiêu biểu cho cả cuộc đời của người, đó là hoàn thành tốt nhất trong thời gian ngắn nhất. Người đã nỗ lực hết sức mình để làm cho những người theo nhóm Manikê hoán cải. Nhân đức cao quý của người đã dành được sự thán phục của tất cả những người thiện chí. Sự kiện quyết của người đã làm cho những kẻ xấu xa phải xấu hổ. Thực ra, chẳng bao lâu sau nhóm người này bắt đầu một cuộc khủng bố bạo lực chống lại vị Giám mục thánh thiện. Đứng đầu nhóm người này là Ezzelino da Romano, một kẻ thù công khai của tôn giáo và là một kẻ đàn áp hiểm độc đối với hàng giáo sĩ Công giáo. Không thể chịu đựng sự bạo ngược của con người đầy tàn bạo và quyền lực này, Batôlômêô đến Rôma, để chờ sự dịu lắng của những nguy hiểm đã đe dọa người ngay trong chính Giáo phận của mình.13

Bấy giờ Đức Giáo hoàng Alexander IV gửi người vói tư cách đặc sứ Tòa thánh đến nước Anh và Pháp để giải quyết các vấn đề tôn giáo. Từ London người cùng với vua và hoàng hậu nước Anh tới paris. Ở đó người đã tham dự cuộc họp giữa hai nhà vua. Sứ vụ này đã kết thúc cách tốt đẹp đúng lúc cái chết của Ezzelino da Romano đem đến sự chấm dứt cuộc bách hại lâu dài bởi tên cường bạo này. Batôlômêô ngay lập tức khởi hành trở về nước Ý để ở với giáo dân thân yêu của mình. Trước khi rời Paris, thánh Louis đã thực hiện lời hứa khi còn ở Palestine bằng cách tặng cho vị Giám mục vài món quà quý giá. Trong số đó có một phần của cây thánh giá thật và một cái gai từ vòng gai mà Chúa đã đội trên đầu. Cách tốt hơn để chỉ ra tính chân thực của những thánh tích này, vua Louis đã viết lên tặng phẩm và đóng ấn với ấn tín hoàng gia. Trong tài liệu này nhà vua tuyên bố rằng ông đã trao chúng cho Batôlômêô di Braganza như một bằng chứng cho tình cảm của nhà vua dành cho người.

Vào năm 1260, vị Giám mục của Vicenza mang theo trong mình những gia sản quý giá tiến về giáo phận của người. Cả giáo sĩ lẫn giáo dân đón chào người. Trên đường đi, họ mang theo nến, những nhánh ô liu, và reo lên trong vui sướng “Chúc tụng đấng ngự đến nhân danh Chúa”. Con người thánh thiện đáp trả lại những biểu lộ vui mừng và trang trọng này bằng một tình cảm của người Cha. Ngay lập tức người bắt đầu phục hồi lại Giáo hội yêu quí của mình với vẻ đẹp như xưa. Với tất cả nhiệt huyết, người phục hưng lại những việc thực hành đạo đức, trật tự tốt đẹp và an bình trong toàn giáo phận, đồng thời sửa chữa lại những thiệt hại và sự tàn phá do lạc giáo và các thành viên của họ gây ra trong suốt thời gian người vắng mặt.

Thiên Chúa chúc lành cho lòng nhiệt thành của Batôlômêô. Thực vậy, những nỗ lực của người đã gặt hái thành công hơn những gì người có thể mong đợi. Trong một thời gian ngắn, giáo dân trong giáo phận của người đã hưởng nếm hạnh phúc của sự an bình và tĩnh lặng, trong khi láng giềng của họ vẫn còn trong tình trạng loạn lạc và nhiễu nhương. Do đó, những công dân thành Vicenza vừa ao ước được bảo đảm tiếp tục sự yên bình đáng quý của thành phố đồng thời vừa bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với vị chủ chăn yêu quí của mình. Do vậy, họ nài nỉ người trong tương lai không chỉ hướng dẫn họ về đàng tâm linh với tư cách Giám mục mà còn về các vấn đề dân sự như là vị tỉnh trưởng.

Cho tới lúc này, các cha cùng Dòng với Giám mục chỉ có một nhà tại Vicenza. Bấy giờ chân phước Batôlômêô thuyết phục các cha xây thêm một tu viên khác, cùng với một ngôi thánh đường nguy nga dành cho việc thờ phượng và được gọi là Nhà thờ Vòng Gai. Nơi đó có đặt cái gai từ vòng gai của Chúa và một mảnh thánh giá thật mà người đã mang về từ Pháp. Các sử gia ở Vicenza cho chúng ta biết về lòng tôn kính của các tín hữu đối với những thánh tích này. Cũng thế, chúng ta thấy rằng những món quà giá trị đó tạo nên một tinh thần thi đua để xây dựng và trang hoàng cho ngôi thánh đường mới. Trên mảnh đất mà từ lâu đã bị xúc phạm bởi những cuộc hội họp của phái Mani, ngôi nhà cầu nguyện này được dựng nên để tôn thờ và phụng sự Thiên Chúa một cách không ngơi nghỉ ở chính nơi vốn đã từng là điểm hẹn của sự bất kính và vô đạo.

Trong khi mọi người phải bận rộn xây dựng ngôi nhà vật chất cho Thiên Chúa, thì vị Giám mục thánh thiện này đã dấn thân không biết mệt mỏi và rất thành công trong việc xây dựng nên một ngôi đền tâm linh cao quý hơn để đưa những người tội lỗi hoán cải và những người ly giáo trở về với ràn chiên của Đức Kitô. Những lời hướng dẫn của người mang lại lợi ích cho rất nhiều người. Một vài người chỉ muốn thử thách lòng nhiệt thành của người; nhưng họ không thể làm mất đi sự kiên nhẫn của người. Một trong những vị Giám mục tương lai của lạc giáo là Jeremiah, một tiến sĩ hay thừa tác viên, với cái tên Gallo, đã chống lại Giáo hội trong một thời gian dài. Đặc biệt, vị Giám mục này, trong vài cuộc thảo luận với con người của Chúa, đã cương quyết bảo vệ giáo thuyết của giáo phái ông ta. Tuy nhiên, cuối cùng ánh sáng chân lý đã lướt thắng bóng đêm lầm lạc. Sự thất bại và hoàn cải của Gallo gần như đã đặt dấu chấm hết cho nhóm lạc giáo Cathar và những kẻ thù khác của Giáo hội trong thành phố Vicenza.

Một hành động khác vì lợi ích cho quê hương của vị Giám mục đạo đức này đáng được đề cập tới ở đây. Một sự hiểu lầm tệ hại đã xuất hiện giữa người dân Padua và dân Vicenza và là tai họa cho cả hai cộng đồng. Thật là vấn đề và khéo léo trong ngoại giao, Batôlômêô đã thực hiện một sự hòa giải làm vui lòng cả hai nhóm tranh luận.

Vì tính chính xác của lịch sử, ta nên để ý đến một sự nhầm lẫn của cha Ferdinand Ughelli, viện phụ Dòng Xitô và là một sử gia. Cha phát biểu rằng Batôlômêô Vicenza và tổng Giám mục Aquileia được chỉ định làm hai vị đại diện đế quốc Rôma trên toàn nước Ý. Ferdinand Ughelli cho rằng sự kiện này xảy ra vào năm 1262, và cho rằng việc lựa chọn hai người này là do Rudolf I. Nhưng mãi đến năm 1273 vị hoàng thân này mới trở thành hoàng đế, tức là 11 năm sau và ít nhất là 3 năm sau cái chết của nhà Tu sĩ giảng thuyết danh tiếng của chúng ta.

Thật khó để quyết định phẩm chất cao quý nơi Đức Tổng Giám mục này thực sự có mang tính Thượng phụ hay không, như một số tác giả đã đề cập đến. Tấm bia trên ngôi mộ của người có thể là nền tảng cho quan điểm này. Cha Daniel von Papenbroeck (được biết nhiều hơn với tên gọi Papebroch, S.j.) đã đối chiếu theo danh sách các Thượng phụ Giêrusalem của cha. Theo nhà phê bình uyên bác này, Đức Giáo hoàng Urban IV bổ nhiệm Batôlômêô và vị trí Thượng phụ này vào năm 1264, và người đã khởi hành đi đến Đất Thánh ngay tức khắc để đảm nhận trách nhiệm mới của mình. Tuy nhiên, cũng tác giả này nói thêm, sau đó hai năm người trở lại nước Ý, từ bỏ địa vị cao quý hơn trong tay Đức Giáo hoàng Clement IV và được tái bổ nhiệm tại Tòa giám mục ở Vicenza, vốn trống tòa từ năm 1266.14 Quá nhiều ân huệ cho nhân vật của chúng ta để nắm giữ chức vụ Thượng phụ.

Mặt khác, cần phải nói rằng, chúng ta không thể tìm ra sắc chỉ nào của Đức Giáo hoàng Urban IV hay Clement cho thấy việc thuyên chuyển người từ Vicenza đến Giêrusalem và từ Giêrusalem trở lại Vicenza. Đa số các sử gia đã viết về chân phước Batôlômêô không đề cập đến sự kiện này. Nói cho đúng, đây là những cuộc tranh luận chưa có câu trả lời. Nhưng cần phải nói thêm có những khó khăn khiến cho nhiều tác giả khác quyết định chống lại quan điểm của cha Von Papenbroeck. Nhìn cách tổng thể, những lý do này đưa ra để cân nhắc sự nghi ngờ rằng Giám mục Di Braganza là Thượng phụ của Giêrusalem.15

Hơn nữa, Tổng Giám mục Ravenna và những Giám mục khác của giáo tỉnh có mặt ở Bologna để di chuyển hài cốt lần thứ hai của cha thánh Đa Minh. Batôlômêô di Braganza cũng vinh dự có cơ hội hiện diện để tăng thêm phần long trọng. Người đã giảng một bài về biến cố này và công bố với mọi người các ân xá được ban bởi vị Tổng Giám mục này và các Giám mục thuộc giáo tỉnh của người. Trong suốt buổi lễ và trong việc chứng nhận biến cố di chuyển hài cốt, chính người đã soạn thảo, thì người chỉ đề là Giám mục Vicenza. Cũng vậy, trong chúc thư của người đề ngày 23 tháng 09 năm 1270, chúng ta có một phác thảo chính xác về đời sống của người, người đơn giản tự gọi mình là Giám mục của Vicenza. Tuy nhiên, người không quên nói rằng Tòa thánh đã liên tiếp bổ nhiệm người đến giáo phận Nemosia (hay Nimesia) và Vicenza. Nguòi không hề đề cập việc làm thượng phụ Giêrusalem. Một lần nữa tất cả những điều này tạo nên một chứng cứ mạnh mẽ chống lại việc cho rằng người đã đảm nhận trách vụ ở Đất thánh.

Người ta không biết chính xác ngày chết của con người thánh thiện này. Tuy vậy có sự đồng ý rằng người chết vào một thời gian rất ngắn sau khi viết chúc thư như đã biết là ngày 23 tháng 09 năm 1270. Không chỉ có các góa phụ, trẻ mồ côi và người nghèo đã khóc vì cái chết của người, sự ra đi của người là một nỗi buồn chung cho những ai yêu mến đời sống đạo cũng như cho những ai ngưỡng mộ nhân đức và công lao của người. Đức tin và lòng nhiệt thành mãnh liệt của người là vì Thiên Chúa và ơn cứu độ các linh hồn, tâm tính hòa nhã và sự khiêm nhường của người là những nhân đức đặc biệt được mọi người thừa nhận và ca ngợi. Trong việc thực hành đức khiêm nhường, người biết rất rõ làm thế nào để hòa hợp giữa một học thức uyên bác với những công việc nổi bật nhất. Mọi người trong thành phố và giáo phận Vicenza luôn luôn nhớ đến người.

Các sử gia quả quyết với chúng ta rằng, sau cái chết của người, các tín hữu không chỉ tôn kính vị Tu sĩ giảng thuyết của chúng ta mà còn dành cho người tước hiệu chân phước. Các học giả nhóm Bolland (chuyên khảo cứu và biên soạn tiểu sử các thánh) cũng đã chứng minh tương tự như thế không chỉ qua lời chứng thực của những người đã viết ngay tại chỗ và ngay lúc đó mà còn bởi những dấu hiệu khác dùng để xác minh sự chân thực này. Thí dụ như cái đèn được thắp trước hài cốt của người và bức chân dung người với những hào quang quanh đầu được đặt trong ngôi thánh đường Vòng gai. Những dấu lạ đã xảy ra tại phần mộ của người khiến cho người dân Vicenza yêu cầu một cuộc cải táng trọng thể hài cốt còn lại của người. Vào dịp này, dù người đã mất được tám mươi năm, thân xác của người vẫn không bị thối rữa. Một cách khá tự nhiên, điều này càng làm gia tăng lòng sùng mộ của dân vốn quen việc cầu khẩn sự trợ giúp của người trong những lúc họ túng quẫn.

Như thế đó, vị Giám mục đạo hạnh Vicenza đã sống, làm việc và đã chết. Người là một trong số những môn đệ đầu tiên vĩ đại của thánh Đa Minh, cũng như là một trong những người học thức nhất và là người mà dân chúng yêu mến và tôn kính. Lòng mộ mến dành cho người có thể được nói là vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay, hơn 5 thế kỷ sau cái chết của người, và nhiều năm sau khi cha Antoine Touron viết cuốn sách này, Đức Giáo hoàng Piô VI cho phép Dòng Giảng Thuyết và hàng giáo sĩ giáo phận Vicenza ân huệ nguyện kinh thần vụ và cử hành thánh lễ kính người. Ngày lễ của người được mừng kính vào ngày 23/10.

(Trích từ Victor F. O’Daniel, Những môn đệ tiên khởi của thánh Đa Minh Tập I, Học viện Đa Minh, 2011 tr. 43-56)

——————–
Ghi chú:
5 Godi, Anthony, Cronica della Città di Vicenza,P.92; Barbarano, Francis, O.M. Cap., Historia Vicentina (cited in Acta Sanctorum, XXVIII – fistvolume for July -, 246); Acta Sanctorum, XXVIII, 249, No. 16.

6 Letter of July 18, 1730.
7 Alberti, Leander, O.P., De Viribus Illustribus Ordinis Praedicatorum, folio 115 ; Sponde, Henry de, Annales Ecclesiastici, Anno 1233, No. 7 ; Razzi, Seraphin, O.P., Storia dei Domenicani Illustri, P.67.
8 Quetif-Echard (first name of both James), Scriptores Ordinis Praedicatorum, I,255.
9 Op. cit., Anno 1233, Nos.6-7.
10 Op. cit., Anno 1261.
11 Acta Sanctorum, XXVIII, 250, No. 18, 252, No. 28; Quetif-Echard, op. cit., I,255.
12 Syllabus Magistrorum Sari Palatii, p. 64 ; Fontana, Vincent, O.P., Sacrum Theatrum Dominicanum, pp, 248, 343.
13 Ughelli, op. cit., V, col. 1052 ; Acta Sanctorion, XXVIII, 251, No. 27.
14 Acta Sanctoruin XX (seventh volume for May), 692 ff. Cũng xem Acta Sanctorum, XXVIII, 255, No. 44.
15 Xem Quetif-Echard, op. cit., I, 255.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Comments are closed.