Khó nghèo Phúc âm: bản sắc và sự thích nghi của chị em Đa Minh Tam Hiệp

0

(Nhân kỷ niệm 75 năm thành lập Hội dòng)

Sr. Maria Đinh Thị Sáng, OP

Nội dung chính:

1. Đức khó nghèo trong hai bản dịch Hiến pháp đầu tiên
2. Đức Khó nghèo: Nhiệm nhặt và thích nghi qua các thời kỳ
3. Đức khó nghèo và giá trị nhân văn trong đời sống hằng ngày
4. Khó nghèo vì sứ mạng loan báo Tin Mừng
4.1. Khó nghèo như bản chất và dòng chảy phục vụ
4.2. Khó nghèo như một phương thế sư phạm trong giáo dục
4.3. Khó nghèo – dấu chỉ ngôn sứ và sự khiêm hạ trong giảng thuyết

Trước đây, khi nhắc đến người nữ tu Đa Minh Tam Hiệp, hình ảnh hiện lên trong tâm trí nhiều người là một tác phong sống giản dị: trang phục nhã nhặn, thức ăn thanh đạm, kỷ luật tự giác và một tinh thần từ bỏ tư hữu để mọi sự làm của chung. Như những người chị em Đa Minh Bùi Chu, căn tính ấy được nuôi dưỡng từ nguồn mạch các ‘Nhà Phước’ – nơi những người nữ tu tiền bối đã toát lên cung cách bình dị, chịu khó và khiêm tốn, sống giữa dân nghèo không phân biệt lương – giáo để tận tụy dạy dỗ và sẻ chia.

Ngày nay, trước những biến đổi mau lẹ của xã hội, lối sống và cái nhìn của chị em cũng có phần rộng mở hơn. Tuy nhiên, sự thay đổi này cũng mang đến những nỗi ưu tư về việc giữ gìn bản sắc khó nghèo trước nguy cơ bị mai một. Dẫu vậy, dù ở thôn quê hay đô thị, chị em vẫn đang nỗ lực tìm kiếm những nét dung dị riêng để nhận diện mình giữa dòng đời.

Chúng ta cùng đọc lại Hiến pháp nguyên thủy và những bản luật thời kỳ đầu để xem tinh thần khó nghèo Phúc âm đã định hình căn cước Chị em Đa Minh Tam Hiệp như thế nào, và làm thế nào lý tưởng ấy được tiếp nối qua những uyển chuyển và thích nghi suốt 75 năm qua.

1. Đức khó nghèo trong hai bản dịch Hiến pháp đầu tiên
1.1. Bối cảnh ra đời và sự khác biệt

Trong hồ sơ xin phép lập Dòng, Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi, Đại diện Tông tòa Địa phận Bùi Chu, đã đệ trình lên Thánh bộ Truyền Giáo Hiến pháp Chị em Đa Minh Việt Nam nguyên bản bằng tiếng La Tinh[1]. Bản HIến pháp này đã được Thánh Bộ kiểm duyệt và chuẩn y (approbata) vào ngày 21/3/1951, có 429 số.

Trong khoảng 10 năm, bản Hiến pháp nguyên thủy này (cùng với Tu luật thánh Augustinô đi kèm với Hiến pháp) được dịch ra tiếng Việt với 2 ấn bản khác nhau:

– Bản dịch năm 1957 do ĐGM Giuse Trương Cao Đại O.P. giới thiệu cho tất cả chị em Đa Minh Việt Nam tại Hố Nai, có 419 số (ít hơn 10 số so với bản gốc).

– Bản dịch năm 1960 do Cha Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh ký kiểm duyệt (nihil obstat) và giới thiệu, gửi cho chị em Đa Minh Bùi Chu tại Tam Hiệp, giữ nguyên con số như bản gốc là 429.

Không những về số lượng, hai bản dịch này còn có những chỗ khác nhau và khác với bản gốc về một số nội dung. Việc so sánh chúng sẽ giúp chúng ta thấy được phần nào nét riêng của Chị em Đa Minh Tam Hiệp được hình thành ngay từ đầu.

1.2. Sự khác biệt về nội dung Lời khấn Khó nghèo

Về Lời khấn Khó khăn, Hiến pháp trình bày trong 21 số (Chương IX, 86-106) tập trung vào việc buộc chị em phải từ bỏ quyền tự do định đoạn của cải, quyền làm chủ đồ dùng dù là của mình hay của chung, nhưng phải xin phép Bề trên.

Đáng chú ý là sự khác biệt về thẩm quyền và quy định:

– Về thẩm quyền: Bản dịch 1957 không đề cập đến vai trò của Bề trên Cả khi chị em làm những việc về chủ quyền do dân luật quy định, trong khi Hiến pháp Bản gốc yêu cầu (Hiến pháp 1951, số 92). Tương tự, Bản dịch 1960 lại thêm vào thẩm quyền của Đấng Bản quyền mà Bản gốc không có (số 88)[2].

– Về chế tài: Bản dịch 1960 ở cuối số 94 đính kèm một ghi chú dài liệt kê 10 trường hợp có tội phạm lời khấn khó nghèo, với mức độ nặng nhẹ khác nhau, khi trộm phép Bề trên để làm những việc như: lấy đồ dùng của ăn thức uống để dùng riêng hay cho người khác; cho người khác của cũ rách; nhận đồ người khác cho để dùng; cất giấu đồ chung để dùng riêng; mua bán hay cho vay mượn dù trong chị em với nhau; tặng hay bán sản phẩm mình làm ra; giữ của giùm cho người khác (nhất là đồ chính phủ cấm); hoặc bàn tính với người ngoài về việc cho thuê ruộng đất đã có trước đây.

1.3. Lý do tiềm ẩn cho sự khác biệt

Sự khác biệt giữa hai bản dịch cho thấy mục đích khác nhau khi ấn hành:

– Bản dịch 1957 (cho Hố Nai): Bản này được giới thiệu ngay trước khi một Hội dòng nữ Đa Minh mới, thuộc quyền Giáo phận Sài Gòn, được thành lập (21/1/1958). Có lẽ vì thế, Hiến pháp được gọi là Nội quy để phân biệt với Hiến pháp của Hội dòng Chị em Đa Minh Việt Nam (Bùi Chu), đồng thời những khoản luật không còn thích hợp với hoàn cảnh mới đã được sửa đổi hoặc gạch bỏ (ví dụ: bỏ bậc Ca sỹ, bậc Trợ tu, chỉ còn “chị em”).

– Bản dịch 1960 (cho Tam Hiệp): Bản này được gửi cho chị em Đa Minh Tam Hiệp khi vẫn còn trực thuộc quyền tài phán của Đức Giám mục Bùi Chu, với mục đích là để chị em cùng tuân giữ một lối chung. Bản dịch vì thế trung thành theo sát bản gốc tiếng La Tinh. Những khoản được cho là dễ vi phạm hàng ngày (liên quan đến khó nghèo) được nhắc nhở và giải thích thêm (x. cước chú 4) hoặc được ghi chú khi đã lỗi thời (ví dụ: chấp nhận bỏ bậc Trợ tu, chỉ còn bậc Ca sỹ).

Qua việc mô tả tổng quát về hình thức và nội dung của hai Bản dịch, chúng ta nhận thấy dường như luật của Chị em Đa Minh tại Tam Hiệp tỉ mỉ, khắt khe hơn luật của Hội dòng Đa Minh bạn cùng thời. Điều này phản ánh những khó khăn, thử thách và quyết tâm sống triệt để của thế hệ tiên khởi trong việc trung thành với lời khấn khó nghèo.

Xét về văn phong và ngôn ngữ, bản Hiến pháp vẫn nặng tính mệnh lệnh, quy tắc, luân lý của thời tiền công đồng Vatican II, chưa mang tính mời gọi hay thuyết phục nhiều như các văn kiện sau này.

2. Đức Khó nghèo: Nhiệm nhặt và thích nghi qua các thời kỳ

2.1. Đại Hội đồng 1966: còn nặng tính mệnh lệnh và chế tài

Bản luật quan trọng thứ hai của Hội dòng thời kỳ đầu là Quyết định Đại Hội đồng năm 1966. Đại Hội đồng lần thứ III tại Tam Hiệp (nay là Tổng hội) nhóm họp ngay sau khi Công đồng Vatican II bế mạc, theo phép của Đấng Bản quyền Giáo phận Sài Gòn mà Hội dòng trực thuộc. Sự kiện này (diễn ra sau hai nhiệm kỳ 1954-1966) đã thảo luận và thông qua 47 mục (gồm 456 số) về tinh thần, đời sống và lề lối làm việc của Dòng.

Lời khấn khó nghèo có 14 số, luôn nhấn mạnh việc không được tự do định đoạt về của cải, đồ dùng. Nó đi kèm các quy định nghiêm ngặt, mang đậm văn phong của Hiến pháp 1951 và Tu luật thánh Augustinô, bởi lẽ giáo huấn mới của công đồng Vatican II khi ấy chưa được học hỏi rộng rãi. Dưới đây là ví dụ về các chế tài nghiêm ngặt:

– Số 151: “Chị em nào phạm đến tiền chung của nhà Dòng hay tự ý đi xin tiền đồ đạc sách vở v.v. giấu gửi để dùng riêng – nếu là Bề trên phải cất chức liên viễn, nếu là chị em phải phạt nặng để cất gương mù”.

– Số 152: “Bất cứ Bề trên hay bề dưới khi đổi sở mà chuyển tiền hay đồ dùng gì ngoài ý muốn của Bề trên sẽ bị phạt nặng, liên viễn mất quyền bầu cử và ứng cử về mọi chức vụ v.v. Các đồ được đem theo xem Huấn lệnh ra ngày 12-3-1964”.[3]

Như chúng ta đã biết, theo lời khấn khó nghèo, tất cả mọi của cải, tiền bạc chị em nhận được đều thuộc về cộng đoàn. Tu luật Thánh Augustinô nhắc nhở các tu sĩ của mình rằng ai giữ lại mà không chịu nộp thì bị phạt như kẻ ăn trộm. Trong thực tế, có lẽ sau khi nộp cho Bề trên, có người giữ lại một chút tiền riêng với nhiều lý do khác nhau: để tiêu dùng trong trường hợp khẩn cấp, chữa bệnh, bồi dưỡng, thậm chí chỉ để cảm thấy an toàn về mặt tâm lý…

Thực tế này khiến các vị hữu trách nhận ra rằng việc nhấn mạnh sự cấm đoán đơn thuần khó lòng giải quyết được vấn đề nội tâm và nhu cầu thực tiễn của chị em. Vì thế, các Đại Hội đồng về sau vẫn tiếp tục khuyến cáo hay nhắc nhở, nhưng với văn phong nhẹ nhàng hơn và hạn chế dùng các từ “cấm” để thay thế bằng sự thích nghi và uyển chuyển đáng kể.

2.2. Đại Hội đồng canh tân và Hiến pháp 1969: nhấn mạnh chiều kích Phúc Âm

Theo Tự sắc Ecclesiae Sanctae (6/8/1966) của Đức Giáo hoàng Phaolô VI, yêu cầu các Dòng tu tổ chức Đại Hội đồng canh tân để thực thi Sắc lệnh Perfectae Caritatis của Công đồng Vatican II, Hội dòng đã tiến hành Đại Hội đồng Canh tân trong hai đợt, kéo dài từ 2/2 đến 13/6/1969. Đại Hội đồng đã mang lại nhiều kết quả tích cực để thăng tiến Dòng, trong đó có việc sửa đổi Hiến pháp.

Trình bày về Đức Khó nghèo, Hiến pháp 1969 đã quy chiếu về Phúc Âm, nêu bật lý do và ý nghĩa của Lời Khấn, khuyên nhủ chị em trở nên khó nghèo với Chúa Kitô và nhờ Chúa Kitô (số 107). Khác với các bản luật trước chỉ nhấn mạnh quy tắc, Hiến pháp mới kêu gọi chị em nội tâm hóa các khoản luật: trở nên nghèo bên ngoài lẫn bên trong, dũ hết mọi quyến luyến. Đồng thời, chị em được khuyến khích can đảm và hớn hở khi phải thiếu thốn vì được nên giống Chúa (số 108).

Dựa trên quy định của Hiến pháp cũ (ấn bản 1960) về quyền sở hữu, và theo Chỉ dụ Renovationis Causam của Bộ Tu sĩ (6/1/1969), Hiến pháp mới phân biệt rõ hai cấp độ khấn[4]. Chị em Khấn Hứa tạm không được từ bỏ quyền sở hữu tài sản của mình cho ai cách nhưng không, khi không có phép Đấng Bản quyền. Trong khi đó, chị em Khấn trọn đời, trong ngày tuyên khấn, phải tự tay viết nộp Bề trên tờ tuyên bố khước từ những di sản cha ông hay ai khác để lại, hoặc đang có hoặc sẽ có (x. số 110).

Những khoản luật khác không có nhiều thay đổi về sức buộc, nhưng được mặc thêm tinh thần và ý nghĩa mới. Ví dụ, về quy định chị em phải nộp ngay tiền của nhận được trong vòng 24 giờ (x. Hiến pháp 1951- ấn bản 1960, số 100), nay Hiến pháp mới viết:

“Để chị em khỏi vương vấn về tiền của theo đúng Đức Khó nghèo Phúc âm, và để đời sống chung được phát triển, mọi của cải phải giữ chung trong công quỹ, nên bất cứ ai, dù là Bề Trên, hết sức có thể, trong vòng 24 giờ, phải nộp cho Bề Trên mọi thứ tiền của nhận được chẳng kỳ bởi đâu. Bề trên đừng cho phép ai đi xin tiền của, và cũng đừng cho ai dùng chính tiền của họ đã xin” (Hiến pháp 1969, số 116)

2.3. Sau biến cố 1975 và Hiến pháp Rút gọn: cốt để thích nghi

Sau biến cố năm 1975, trước tình thế chính trị, xã hội và tôn giáo bị đảo lộn toàn diện, đe đọa đến sự sống còn của Hội dòng, làm cho nhiều chị em phải phân tán, Mẹ Anna Nguyễn Thị Ninh (nhiệm kỳ 1975-1983) cho biên soạn Hiến pháp Rút gọn từ bản Hiến pháp 1969, nhằm thích nghi với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Chẳng hạn, thời hạn Khấn Hứa tạm chỉ kéo dài “cho đến khi đi nghĩa vụ” (số 7).

Về Lời khấn Khó nghèo, Hiến pháp chỉ có 4 số, gộp chung hai, hoặc ba khoản với nhau thành một số, lược bỏ những câu diễn tả ý nghĩa, tinh thần và nền tảng, để đi ngay vào mệnh lệnh chính, nhưng nội dung và sức buộc vẫn không khác xưa bao nhiêu.

Về việc khước từ tài sản, chị em Khấn trọn đời không làm vào ngày tuyên khấn, nhưng làm vào độ tuổi được ấn định: “Các chị em khấn trọn, khi đã đủ 40 tuổi trọn, sẽ tự tay viết nộp Bề trên tờ chứng từ khước phần gia tài cha mẹ hay ai khác đã giối hoặc sẽ giối cho (110)” (Hiến pháp Rút gọn, số 17).

2.4. Bộ Giáo luật mới và Hiến luật 1989: chiều kích nhân bản

Sau khi Bộ Giáo luật mới được ban hành năm 1983, Mẹ Bề trên thành lập Ủy ban Soạn thảo Hiến luật năm 1985 để sửa đổi luật Dòng thông qua Tổng hội năm 1987. Đến năm 1989, Hiến Luật Chị em Đa Minh Việt Nam được Đức Giám mục Giáo phận Xuân Lộc phê chuẩn sau hai năm cho thử nghiệm. Lời khấn Khó nghèo mang chiều kích cá nhân và tập thể (số 19), đề cao giá trị của lao động (số 20), coi tiền của như “dụng cụ của đức ái”, là “phương tiện minh chứng tình yêu” với Chúa và tha nhân (số 11). Thay vì ngăn cản chị em đi xin của cải, Luật dòng nhấn mạnh đến việc phân phát và nhận lãnh:

“Bề trên và Chị Quản lý phải ân cần lo liệu những nhu cầu chính đáng cho chị em để tránh việc đi xin đồ dùng hay tiền bạc. Phần chị em, hãy vui lòng đón nhận từ Bề trên những đồ dùng tùy thân với lòng biết ơn và cảm tạ Chúa, để thực thi Đức Thanh Bần Phúc Âm” (số 18).

2.5. Các Tổng hội trong thiên niên kỷ mới: triển nở lối sống khó nghèo trong tinh thần trách nhiệm cá nhân và đời sống chung

Bước vào thiên niên kỷ mới, Hội dòng vẫn không ngừng thúc đẩy chị em trung thành bước theo Đức Kitô rao giảng Tin Mừng bằng lối sống nghèo trong hoàn cảnh hiện tại. Để làm rõ luận điểm đã nêu, chúng ta cùng theo dõi những cố gắng thích nghi về khoản luật không được giữ tiền riêng.

Tổng hội 1999 vẫn đưa ra nhiều chỉ thị yêu cầu chị em phải nộp cho Bề trên mọi tiền của đã nhận được bằng bất cứ giá nào, không được tự ý đi xin và giữ tiền riêng. Tuy nhiên, Tổng hội cho phép những chị em đi học hoặc có lý do chính đáng, được giữ một khoản cần thiết, và yêu cầu các chị phải làm sổ thanh toán mỗi tháng với Bề trên hay chị quản lý (x. CVTH số 13-14).

Để không quá khác biệt với kỷ luật tu trì của Hội dòng tại quê nhà, Tổng hội 2003 chỉ thị riêng cho các chị em du học ở Âu, Mỹ phải xin phép Bề trên Tổng quyền mỗi khi nhận hay chi với số tiền 300 đô la Mỹ trở lên, đồng thời làm báo cáo cho ngài dịp cuối năm (x. CVTH số 9).

Bốn năm sau Tổng hội 2007 vẫn giữ nguyên đề nghị ấy với các chị em du học, nhưng mở rộng phép cho những chị em khác có nhu cầu được giữ tiền riêng với một khoản từ 50.000 đến 100.000 đồng/tháng  để giải quyết những vấn đề bất trắc, và tất nhiên hàng tháng nộp sổ chi tiêu cá nhân cho vị hữu trách (x. số 10,1). Trong thực hành, một số Bề trên và chị quản lý thay vì phát đồ bồi dưỡng hàng tháng cho chị em, thì âm thầm phát tiền bồi dưỡng, và đến dịp lễ Bổn mạng của chị em thì mừng quà bằng tiền để chị em sử dụng theo nhu cầu. Nhưng các Tổng hội kế tiếp năm 2011, 2015 và 2019 không dành nhiều giấy mực để nhắc nhở việc giữ tiền riêng này. Ý kiến về việc đặt một tủ đồ dùng tại nơi chung để chị em tùy nghi đến lấy mà không phải xin chị quản lý bắt đầu xuất hiện (số 9,2).

Đáng chú ý, Tổng hội 2011 đưa ra một đề nghị được chị em ưa chuộng, theo đó mỗi cộng đoàn nên để một khoản tiền nhỏ ở nơi chung để chị em có thể đổ xăng hoặc sửa xe Honđa khi cần, ghi sổ rõ ràng. Lời đề nghị này liên tục được nhắc lại trong các tổng hội kế tiếp, vì có một số cộng đoàn chưa thực hiện cách nghiêm túc, hoặc không thể thực hiện được, do số thành viên trong cộng đoàn quá đông (x. CVTH 2011, số 11.3; CVTH 2015, số 10.2; CVTH 2019, số 14.2; CVTH 2023, số 7.2)

Vừa qua với đường hướng “Đào tạo người nữ tu Đa Minh sống khó nghèo, khiêm nhường và nhiệt tâm tông đồ”, Tổng hội Tam Hiệp XVI năm 2023 đã nâng việc giữ tiền riêng lên một tầm cao mới: từ việc đơn thuần “giải quyết bất trắc” (năm 2007) thành một hành vi nhằm giúp chị em sống luật cách tự do, trưởng thành và chịu trách nhiệm trong đời sống tu trì. Theo đó, cho phép mỗi chị em được giữ một khoản tiền theo mức ấn định của Hội đồng cộng đoàn để chi phí các nhu cầu cá nhân, với điều kiện tủ đồ dùng chung không có những thứ chị em cần, và nộp sổ chi tiêu cho chị Quản lý (x. CVTH 2023, số 8). Tương tự như vậy, những chị em đi làm, đi học hoặc có trách nhiệm đã được phép mở tài khoản ngân hàng riêng, thì cũng cần phải cung cấp số tài khoản và nộp lịch sử giao dịch cho vị hữu trách liên hệ 3 tháng một lần (x. số 9). Việc báo cáo tài chính thể hiện tinh thần khó nghèo, lệ thuộc vào Hội dòng, có cơ sở thiêng liêng và là điều hữu ích. Nhưng trong thực hành, công việc này cũng tốn ít nhiều thời gian, có khi gây khó khăn cho những ai không rành về công nghệ. Do đó, sự nhẫn nại, khiêm tốn và tinh thần trách nhiệm vẫn luôn được đề cao và có giá trị trường tồn trong lời khấn khó nghèo.

Sự chuyển dịch từ luật mang tính luân lý nghiêm nhặt sang sự quan tâm đến nhu cầu tâm lý và thực tiễn của tu sĩ được thể hiện rõ qua bảng tóm tắt sau:

Sự thích nghi này không làm suy yếu lời khấn, mà thể hiện tinh thần nhân bản của luật Dòng và sự đồng hành với chị em trong bối cảnh xã hội hiện đại, giúp chị em an tâm hơn trong đời sống và sứ vụ.

3. Đức khó nghèo và giá trị nhân văn trong đời sống hằng ngày

Đời sống đạm bạc của người nữ tu thường được đo lường qua các nhu cầu căn bản và thiết yếu như ăn uống, may mặc, chữa bệnh. Nhìn lại đời sống ấy trải qua nhiều giai đoạn, chúng ta cũng sẽ thấy trong đó một sự uyển chuyển, thích nghi và nét nhân văn mà tu sĩ ngày nay vẫn có thể học hỏi.

3.1 Ăn uống và dinh dưỡng: Tiếp nối nếp sống đạm bạc của Hội dòng

Hiến pháp nguyên thủy nhấn mạnh đến tinh thần khó nghèo và đức trong sạch (sạch sẽ), tiết kiệm trong việc ăn uống, nhưng thức ăn vẫn phải đủ dùng, bổ dưỡng và an toàn:

“Dù trong việc ăn uống phải chú trọng đến đức Khó khăn và đức trong sạch của bậc tu trì, song Bề trên cũng phải liệu cho có của ăn ngon lành, nấu dọn hẳn hoi, đủ cần cho chị em. Tuy nhiên, phải tránh sự hoang phí xa xỉ, và đừng yến tiệc; nhất là trong dịp Đại Hội Đồng hay dịp mặc áo khấn Dòng” (Hiến pháp 1951, số 187).

Có lẽ trong thực tế không ít Bề trên sợ chị em hoang phí, thành ra chặt chẽ với việc ăn uống. Vì thế Đại Hội đồng Tam Hiệp lần thứ III năm 1966 nhắc nhở các ngài “không được riết róng chật hẹp đến nỗi gây bệnh nạn cho chị em – Phòng bệnh hơn chữa bệnh” (số 266). Đồng thời ấn định “tiền ăn hằng tháng của mỗi chị em tính từ 500$[VNĐ] trở lại (tùy theo thời giá)” (số 215). Khoản tiền này có giá trị như thế nào? Vào năm 1966, giá gạo tại miền Nam bị dao động trong khoảng 5,5 đồng đến 7,5 đồng/kg do có nạn lạm phát. Do đó, số tiền ăn 500đồng/tháng hoàn toàn đủ để đảm bảo lương thực gồm gạo và thức ăn (thịt, cá, rau). Đành rằng 500 đồng/tháng đối với một người dân đô thị bình thường là một khoản thấp hơn nhiều so với tổng chi phí sinh hoạt như ăn, ở, đi lại, y tế, may mặc[5]. Nhưng các nữ tu sống trong nhà dòng đã được lo liệu về nhà ở, điện nước, thuốc men, cho nên khoản tiền này phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng cơ bản, tập trung vào tinh thần đạm bạc, khổ chế và đời sống tu trì của chị em.

Ngay tại bàn ăn, chị em cũng có thể thực thi đức khiêm nhường, yêu thương và quan tâm đến nhau: “Khi đưa món ăn, bắt đầu từ đàn em, còn khi thu đồ thừa, bắt đầu từ đàn chị. Khi ăn cơm chung, không được dọn món gì riêng cho ai, trừ kẻ đau yếu khi có phép Bề trên. Chị nào thấy người ngồi bên cạnh thiếu thức gì, thì bảo người giúp bàn lấy cho…» (Hiến pháp 1951, số 185). 

Việc phục vụ bàn ăn từ người bé nhất này như muốn gợi nhớ về giai thoại hai thiên thần phân phát bánh ăn cho anh em và cha Đa Minh tại tu viện San Sisto (Rôma) trong một bữa ăn trưa lạ lùng. Nét đẹp nhân văn này đã đi vào truyền thống lâu đời của gia đình Đa Minh và ngày nay vẫn cần được phát huy.

3.2. Chữa bệnh: Nơi tỏa sáng của “Đức thương yêu”

Từ rất sớm, Hội dòng đã quan tâm đặc biệt đến các chị đau bệnh. Hiến pháp tiên khởi yêu cầu các Bề trên phải thăm viếng các chị, cắt đặt người chăm sóc, chuẩn chước kỷ luật cho các chị cách nhân hậu dù họ không xin. Thậm chí nếu chị quản lý ơ hờ trong việc cung cấp những điều cần thiết cho các chị thì sẽ bị cách chức! (x. Hiến pháp 1951, số 236; Hiến pháp 1969, số 233). Đại Hội đồng năm 1966 triển khai khoản luật này với nhiều tâm tình thật cảm động, chứa chan chất Tin Mừng: “Đức thương yêu ở nhà Dòng phải được hiển hiện rõ ràng khi có chị em bệnh; theo gương Chúa bỏ 99 con chiên trong đàn để đi tìm 1 con chiên lạc” (Quyết định Đại Hội đồng 1966, số 298).

Để các chị được an tâm đi khám chữa bệnh, Đại hội đồng năm 1966 quy định cho các Bề trên như sau: “Khi cho phép chị em đi đâu – nhất là đi khám bệnh – uống thuốc phải cho đầy đủ tiền đi về, tiền khám bệnh, tiền thuốc v.v. (cũng nên nhớ tiền cho kẻ khó). Bề trên phải lo về chị em bệnh hơn chị em khỏe – Đó là luật Đức Thương-yêu” (Quyết định Đại hội đồng 1966, số 264).

Điều này vẫn luôn được lặp lại qua các văn bản của Tổng hội, Nội quy, và đời sống của Hội dòng cho đến nay. Tại sao vậy? Có lẽ vì các vị hữu trách chưa lưu tâm đủ đến lời khuyên cho chị em đủ tiền chi phí khi đi khám bệnh và uống thuốc, hoặc đã cho đủ chi phí nhưng lại thiếu tế nhị và sự thấu cảm tâm lý của người bệnh, cho nên luật dòng không ngừng yêu cầu các Bề trên cần sẵn sàng đáp ứng cách tế nhị, vui vẻ những nhu cầu cần thiết cho sức khỏe của chị em, để chị em không ngần ngại và nghĩ ngợi (CVTH 2007, số 9.3; NQ 2007, số 15,1.2; CVTH 2015, số 9.2; NQ 2019, số 21.2). Phần chị em số tiền nhận được “cần thanh toán ngay với vị hữu trách hoặc người liên hệ khi xong việc” (NQ 2019,21.2).

Trong các quy định về sức khỏe này, chúng ta cũng thấy xuất hiện một nét đẹp nhân ái. Thật vậy, sau năm 2000 số người tham gia chương trình bảo hiểm y tế và xã hội tại Việt Nam rất còn thấp vì thiếu sự tin tưởng vào các chính sách. Nhưng vừa khi luật bảo hiểm y tế có hiệu lực năm 2009, lúc mà tỉ lệ tham gia nâng lên trên 60% dân số trong cả nước, Tổng hội 2011 đã đề nghị các Bề trên mua bảo hiểm y tế cho từng chị em, “đ giúp chị em đau yếu an tâm chữa bệnh, không phải tự xoay xở tìm cách xin tiền từ thân nhân hoặc ân nhân(CVTH 2011, số 11,1). Các Tổng hội kế tiếp đều thúc đẩy các Bề trên lo liệu cho chị em như vậy (CVTH 2015, số 10,1; CVTH 2019, số 13), cho đến khi việc mua bảo hiểm y tế không còn là một vấn đề cần bàn bạc thêm nữa. Điều này không có nghĩa là chị em đã đủ tin tưởng vào một hệ thống bảo hiểm y tế còn nhiều hạn chế, nhưng nó thể hiện sự chăm sóc thương yêu và trách nhiệm của chị em đối với nhau. Đồng thời diễn tả sự thích nghi lối sống nghèo trong hoàn cảnh hiện tại, với tinh thần phó thác cho bàn tay yêu thương quan phòng của Chúa. Đức thương yêu là phương thuốc đầu tiên cho mọi liệu trình điều trị!

3.3. Thành lập Ban Y tế: Mở rộng sự quan tâm và chuyên môn hóa

Theo tinh thần Tu luật thánh Augustinô, ngay từ rất sớm, Hội dòng đã quy định mỗi nhà cần cắt đặt một người có nhiệm vụ chăm sóc chị em bệnh. Thực tế, Bề trên cộng đoàn hay các vị hữu trách các nhóm đào tạo thường chỉ định một hoặc nhiều chị luân phiên phụ trách việc phục vụ chị em bệnh nhân, gọi là chị Khán hộ hoặc chị Y tế.

Tuy nhiên, khi số lượng chị em đau yếu tăng nhanh, với nhiều bệnh tình nan y cần điều trị lâu dài, Tổng hội 2015 đã đề nghị Hội đồng Hội dòng cần bổ nhiệm một chị phụ trách chung về y tế cho toàn Dòng để việc phục vụ được tốt hơn và có tổ chức hơn (CVTH 2015, số 20.3).

Sự quan tâm này được quy chế hóa khi Tổng hội 2023 chính thức thiết lập Ban Y tế trực thuộc Ủy ban Sứ vụ (CVTH 2023, số 59, 2.2). Việc này đánh dấu một bước triển nở nhân bản trong việc chăm sóc sức khỏe chung của chị em, đảm bảo sự phục vụ có hệ thống hơn.

Đồng thời, đây cũng là một định hướng quan trọng nhằm thống nhất đường lối làm việc giữa các phòng khám của Dòng, tăng cường liên đới và hỗ trợ chuyên môn giữa chị em, qua đó mở rộng hiệu quả sứ vụ bác ái – xã hội đối với người nghèo, giúp chị em chu toàn nhiệm vụ tốt đẹp và đem lại lợi ích cho bệnh nhân hơn.

4. Khó nghèo vì sứ mạng loan báo Tin Mừng

Lời khấn Khó nghèo đặt Đức Kitô làm khuôn mẫu và trung tâm của nếp sống, nhưng không quên đề cập đến con người, nhất là người nghèo: nghèo về vật chất, luân lý và thiêng liêng.

4.1. Khó nghèo như bản chất và dòng chảy phục vụ

Trở về nguồn, chúng ta thấy các chị rất quảng đại với người nghèo ngay từ thời Nhà Phước, Khi nghe biết trong làng có người đau bệnh, liệt lào, Bề trên cắt hai người đi thăm viếng, ủi an, dạy dỗ và giúp họ chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận các Bí tích và nghi thức cần thiết. Các chị phải hết sức giúp đỡ người bệnh nếu họ thiếu thốn về nhu cầu vật chất, hoặc bố thí cho họ một khoản nhất định (x. Luật Nhà Mụ, số 9).

Vào lúc Dòng được thành lập cũng vậy, chị em tham gia làm những công việc từ thiện bác ái theo mục tiêu của Dòng như coi sóc nhà thương, phòng phát thuốc, cô nhi viện, nhà giáo phụ nữ… Chị em tận dụng mọi dịp thuận tiện, để gieo rắc vào lòng người tinh thần và tư tưởng công giáo, nhất là lòng yêu mến và kính sợ Chúa, dùng cách cư xử nhã nhặn lịch thiệp, lời nói xứng hợp, để lôi kéo linh hồn người ta về cùng Chúa, chứ không phải để họ mến phục mình (x. Hiến pháp 1951, số 209).

Đáng chú ý, sau Đại hội đồng canh tân theo đường hướng của công đồng Vatican II, Hội dòng xác định ngay trong trang đầu tiên của Hiến pháp rằng việc phục vụ người nghèo thuộc về bản chất/ tính chất (natura) của chính Hội dòng[6]:

– Hiến pháp 1969 tuyên bố: “Tính chất: là Dòng Địa phận, khấn đơn tạm và vĩnh viễn – hoạt động Truyền giáo và Tông đồ, nhất là cho người nghèo (số 2).

– Hiến luật 1989 thêm vào bản chất ấy đặc sủng Đa Minh nhưng vẫn kèm theo việc phục vụ người nghèo: “Tính chất: Dòng Địa phận. Tuyên Khấn công khai 3 Lời Khấn đơn Tạm và Vĩnh viễn. Sống theo tinh thần Thánh Phụ Đa Minh: Chiêm niệm và Hiến thân lo việc cứu rỗi các linh hồn bằng việc phục vụ Chân lý Đức Tin, nhất là cho người nghèo(chương I).

Để dòng chảy ấy không ngừng tuôn đổ vào thực tế, Hội dòng đã cụ thể hóa bằng những chỉ thị thực hành. Điển hình là Tổng hội 1999 mời gọi: “Chị em hãy cảm thông thân phận của những người nghèo bằng cách: 1/ Bớt phần ăn trong những dịp lễ đặc biệt; 2/ Miễn giảm học phí cho các học sinh nghèo; 3/ Thăm viếng, an ủi những người đau khổ, bệnh tật, neo đơn, già lão…; 4/ Hưởng ứng việc cứu trợ” (số 11). Chỉ thị này được chị em tại các cộng đoàn hướng ứng thi hành, và được các tổng hội kế tiếp sẵn sàng ghi nhận (x. CVTH 2003, số 6; CVTH 2007, số 6).

4.2. Khó nghèo như một phương thế sư phạm trong giáo dục

Tiếp nối dòng chảy phục vụ đó, Hội dòng nhận ra lời khấn Khó nghèo còn mang một giá trị sâu sắc trong sứ mạng giáo dục trẻ em – vốn là nền tảng và phương thế để đạt tới mục đích của Dòng (x. Hiến Pháp 1951, số 205). Chị em không chỉ phục vụ người nghèo, mà còn được mời gọi trở nên người nghèo với người nghèo.

Trong môi trường giáo dục, đức khó nghèo trở thành một phương thế sư phạm đầy tình thân. Khi chọn lối sống giản dị, chị em rũ bỏ được vẻ uy quyền áp đặt để trở nên người đồng hành gần gũi với các em. Sự khó nghèo dạy chị em biết kiên nhẫn với những học sinh chậm tiến, biết dùng phương pháp giáo dục đơn sơ, dịu dàng để phục hồi phẩm giá cho những tâm hồn trẻ thơ. Nhờ ơn Chúa có biết bao học sinh đã được lớn lên và trưởng thành để cống hiến cho đời và làm con Chúa.

Như lời dạy của Đức Thánh cha Lêo XIV, chính những người nghèo này lại là “người thầy” giúp chị em ý thức về thói cao ngạo của mình để vươn tới tinh thần khiêm nhường đúng mực[7]. Dù thực tế vẫn còn nhiều giới hạn, chị em vẫn hằng ngày nỗ lực để việc giáo dục trong chân lý và tình yêu thực sự là sự dự phần vào sứ vụ của Hội Thánh[8].

4.3. Khó nghèo – dấu chỉ ngôn sứ và sự khiêm hạ trong giảng thuyết

Cha Thánh Đa Minh đã rao giảng Tin Mừng từ một đời sống nghèo khó với niềm tin rằng Chân lý cần những chứng tá vẹn toàn. Ngài và các anh em đã chọn lối sống hành khất để thanh thoát khỏi gánh nặng của cải, hầu dâng hiến đời mình tốt hơn cho công việc giảng thuyết. Qua việc sống giữa người nghèo, các ngài học biết được Chân lý “từ bên dưới”[9].

Tiếp nối linh đạo ấy, chị em Đa Minh Tam Hiệp ước mong sự hiện diện đơn sơ của mình tại các nhiệm sở cũng là một lời rao giảng âm thầm nhưng chân thực. Đặc biệt, với những chị em tham gia Ban giảng thuyết hay giảng dạy tại các học viện, đại học, đức khó nghèo được mời gọi sống qua sự khiêm hạ của trí tuệ. Chị em học theo gương Thánh Tiến sĩ Tôma Aquinô: dù sở hữu những kiến thức sâu rộng, nhưng trước nhan Chúa, Ngài vẫn nhận ra tất cả những gì mình viết ra chỉ như ‘rơm rác’ so với sự cao cả của Ngài.

Việc nỗ lực giữ gìn nếp sống giản dị, khiêm tốn ngay cả khi đảm nhận trọng trách chuyên môn chính là một “dấu chỉ ngôn sứ” mà Hội dòng đang vươn tới. Đó là sự chọn lựa đặt giá trị của Chúa Kitô lên trên mọi danh vọng học thuật. Dù thực tế vẫn còn đó những yếu đuối và khoảng cách giữa lý tưởng và đời sống, chị em vẫn kiên trì nhắc bảo nhau rằng: đời sống thánh thiện không tách rời khỏi việc chăm sóc và tôn trọng phẩm giá người nghèo bên vệ đường.

Kết luận

Trải qua 75 năm hiện diện, sống đoàn sủng và thi hành sứ mạng, nhờ sức mạnh của ân sủng Thánh Thần, nhờ sự thông ban sứ mạng từ Mẹ Hội Thánh, nhờ nối tiếp chứng tá nghèo khó Phúc Âm của Cha thánh Đa Minh và các vị tiền bối, Hội dòng Đa Minh Tam Hiệp mỗi ngày vừa trung thành với Đức khó nghèo đã thừa kế, vừa không ngừng canh tân thích nghi đời sống nghèo giữa dòng chảy đầy biến động của xã hội và Giáo hội.

Tuy nhiên, khi nhìn lại hành trình này, chúng ta không thể không nhắc đến những người chị em cùng nguồn cội Đa Minh Bùi Chu. Do bối cảnh lịch sử (sau năm 1954), Chị em Đa Minh Việt Nam đã phát triển thành hai hội dòng tự trị riêng biệt tại miền Nam (Tam Hiệp) và miền Bắc (Bùi Chu). Trong khi Hội dòng tại Tam Hiệp liên tục canh tân, thích nghi các khoản luật về Khó nghèo qua các Tổng hội theo hoàn cảnh miền Nam, thì chị em miền Bắc, sau thời gian thử thách, đã được tái thiết và không ngừng vươn lên mạnh mẽ. Tinh thần liên đới sâu sắc đã được thể hiện khi Hội dòng trong Nam hiệp thông chia sẻ và sẵn sàng gửi đến các chị ngoài Bắc các tài liệu canh tân (như Hiến pháp, Nội quy, Công vụ Tổng hội) để chị em cùng tham khảo và tuân giữ chung. Điều này minh chứng bản sắc khó nghèo Phúc Âm có thể vượt lên trên mọi rào cản địa lý và tổ chức.

Để rồi, càng gắn bó mật thiết với Đức Kitô rao giảng Chân lý cứu độ với lối sống nghèo, chị em càng nhận ra Ngài nơi người nghèo và đau khổ. Quả thật, đời sống thánh thiện không tách rời khỏi việc chăm sóc người nghèo bị bỏ rơi bên vệ đường của người Samaritano nhân hậu.

________________

[1]Tên đầy đủ: Constitutiones “Congregationis sororum Dominicanarum Vietnamiensium Sanctae Catharinae Senensis” (Hiến pháp Dòng Chị em Đa Minh Việt Nam Thánh Catarina Siena), với số hồ sơ được lưu trữ trong công hàm Thánh bộ Protocoll 1243/51. Hội dòng Đa Minh Tam Hiệp hiện nay đang giữ file ảnh tài liệu do thư viện Đại học Giáo hoàng Urbaniana (Roma) trực thuộc thẩm quyền của Bộ Truyền giáo cung cấp.

[2]Bản gốc Hiến pháp 1951, số 88 không có “khi không có phép Đấng Bản quyền”.

[3]Đại Hội đồng công nhận 31 văn thư của Mẹ cựu Bề trên Êmilia Nguyễn Thị Sê đã ra từ 12/8/1962 đến ngày 12/12/1965. Xem Quyết định của Đại Hội đồng Tam Hiệp III (1-16/I/1966), Phụng Sự, Nữ tu viện Đa Minh B.C (Tam Hiệp), Biên Hòa, Nam Việt 1966, tr. 85-89.

[4] Xem Thánh Bộ Tu sĩ, Instructio Renovationis Causam về canh tân việc đào tạo Tu sĩ, (6/1/1969), số 34-35 tại https://www.ewtn.com/catholicism/library/renovationis-causam-2231, Hiến pháp 1969 quy định: Hết năm Tập, các tập sinh sẽ hứa 2 năm, rồi khấn tạm 3 năm, sau đó khấn trọn đời (x. số 75). Khấn hứa tạm hay khấn trọn đời đều làm công khai theo lễ nghi Dòng ở nhà nguyện Tu viện (số 86). Hứa sinh và Khấn sinh đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau. Mẹ Bề trên có quyền tha lời hứa, còn khấn sinh phải đến với Đấng Bản quyền thì mới được tháo lời khấn (số 92).

[5]Lương của một công chức hạng trung bình khoảng 2000đồng/tháng. Xem Lê Nguyễn, Đôi điều về lương bổng, phụ cấp của quân nhân – công chức miền Nam trước tháng 4.1975 tại https://dongsongcu.wordpress.com/2022/11/11/luong-bong-phu-cap-cua-quan-nhan-cong-chuc-mien-nam-truoc-thang-4-1975-le-nguyen/

[6]Từ năm 2000, tính chất riêng của Hội dòng được trình bày trong các bản Nội quyCông vụ Tổng hội. Bởi vì năm 1997, Hội dòng cùng với ba Hội dòng nữ Đa Minh (Thánh Tâm, Rosa Lima, Lạng Sơn) đã hoàn thành việc soạn thảo Hiến pháp Chị em Đa Minh Việt Nam. Đến năm 2004, Hiến pháp này được Đức Giám mục giáo phận Xuân Lộc chính thức chuẩn y sau 7 sống Hiến pháp thử nghiệm.

[7] Xem ĐGH Lêo XIV, Tông huấn Dilexi Te về lòng yêu mến anh chị em nghèo, 2025, số 108-110.

[8] Xem Sđd., số 68.

[9] Xem Sđd., số 63. 66.

Comments are closed.

phone-icon