Thánh hiến và Sứ vụ của Tu sĩ hôm nay

0

Đây là một đề tài quá lớn so với sự hiểu biết và kinh nghiệm ít ỏi của con. Vì thế, phần chia sẻ này không mang tính nghiên cứu cũng chẳng thể là những đánh giá xác đáng về đời sống tu trì hôm nay. Con chỉ xin chia sẻ những nhận định mang tính lượm lặt, chủ quan và hẳn là cũng rất giới hạn về thánh hiến và sứ vụ của tu sĩ hôm nay tại Việt Nam.

Trong một lần bàn về nếp sống tu trì trong dòng, một anh em đã nhận định rằng: Thánh hiến làm sao thì sứ vụ làm vậy. Ông bà ta cũng đã nói: Người làm sao, chiêm bao làm vậy. Điều này cũng có thể áp dụng cho thánh hiến và sứ vụ của người tu sĩ.

I. SEQUELA CHRISTI et IMITATIO CHRISTI

Thánh Augustinô nói: “Theo Chúa Kitô nói lên điều gì nếu không phải là bắt chước Chúa Kitô?”

Thần học tu đức đã diễn tả đời tu qua hai hành vi của người môn đệ, đó là dõi bước theo Thầy và họa lại đời sống của Thầy.

Đời sống thánh hiến là theo Chúa Kitô (Sequela Christi) để làm môn đệ của Người, như các môn đệ ngày xưa, để ở với Người. Đời sống ấy cũng là bắt chước Đức Kitô (Imitatio Christi) khi diễn tả hay làm sống động hình ảnh của Đức Giêsu qua sứ vụ của người tu sĩ. Như vậy, có thể nói sự thánh hiến của tu sĩ là theo Chúa Kitô và sứ vụ của tu sĩ là bắt chước Chúa Kitô.

Sắc lệnh Perfectae Caritatis từ những dòng đầu tiên đã viết: “Ngay từ thời sơ khai của Giáo Hội, đã có những người, nam cũng như nữ, qua việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm, quyết tự nguyện theo Chúa Kitô với một tinh thần tự do thanh thoát hơn, bắt chước Người cách trung thành hơn, và mỗi người một cách, tất cả đều sống tận hiến cho Thiên Chúa.” (PC 1)

Trong thư thứ nhất Côrintô, thánh Phaolô đã so sánh các đặc sủng trong nhiệm thể là Giáo hội như sau: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung.

Thật vậy, thân thể gồm nhiều bộ phận, chứ không phải chỉ có một mà thôi… Giả như toàn thân chỉ là mắt, thì lấy gì mà nghe? Giả như toàn thân chỉ là tai, thì lấy gì mà ngửi?

Nhưng Thiên Chúa đã đặt mỗi bộ phận vào một chỗ trong thân thể như ý Người muốn. Giả như tất cả chỉ là một thứ bộ phận, thì làm sao mà thành thân thể được? Vậy mắt không có thể bảo tay: ‘Tao không cần đến mày’; đầu cũng không thể bảo hai chân: ‘Tao không cần chúng mày.’” (1 Cr 12,4-7.12-21)

Thánh hiến là căn cốt và là động lực của sứ vụ, như thể là nền móng để xây nên ngôi nhà của đời tu sĩ và của hội dòng.

Sứ vụ cho biết người tu sĩ có đang theo Chúa Kitô hay không và đang theo Chúa Kitô nào (nét đặc thù nào trong đời sống của Người), ví dụ như Chúa Kitô cầu nguyện hay Chúa Kitô khó nghèo, Chúa Kitô rao giảng hay Chúa Kitô chữa lành, hay Chúa Kitô chúc lành cho trẻ em…

Do tác động của Chúa Thánh Thần mà xuất hiện nhiều hội dòng khác nhau. Do hứng khởi ban đầu của đấng sáng lập mà mỗi hội dòng trở thành một đặc sủng cho Giáo Hội.

II. CHỈ DẪN CỦA HUẤN QUYỀN

1. Tông huấn Đời sống Thánh hiến (Vita Consecrata)

Tông huấn Đời sống Thánh hiến (VC) đã đề cập đến mối liên hệ chặt chẽ giữa thánh hiến và sứ vụ của đời sống tu trì.

VC 18: Là con đường dẫn đến Chúa Cha (x. Ga 14,6), Chúa Con kêu gọi tất cả những ai Chúa Cha ban cho Người (x. Ga 17,9) hãy lấy việc đi theo Người làm mục tiêu của cuộc đời. Nhưng đối với một số người, cụ thể là những người được thánh hiến, Người yêu cầu một cuộc dấn thân trọn vẹn gồm việc từ bỏ mọi sự (x. Mt 19,27) để sống thân tình với Người và theo Người đến bất cứ nơi nào Người đi (x. Kh 14,4)… Thực thi các lời khuyên Phúc Âm là một cách thức thông dự sâu đậm và phong phú đặc biệt vào sứ mạng của Đức Kitô, theo gương Đức Maria Nadarét, người môn đệ đầu tiên chấp nhận hiến mình phục vụ chương trình của Thiên Chúa bằng việc dâng hiến trọn vẹn bản thân. Bất cứ sứ mạng nào cũng khởi đầu với chính thái độ của Đức Maria vào dịp truyền tin: “Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói!” (Lc 1,38)

VC 22: Nhờ Thánh Thần thúc đẩy, đời thánh hiến “hoạ lại cách chính xác và thực hiện liên tục trong Giáo Hội” lối sống mà Đức Giêsu, Đấng đầu tiên được Chúa Cha thánh hiến và sai đi phục vụ Nước Thiên Chúa. Đức Giêsu mời các môn đệ đi theo Người cũng sống như Người đã sống (x. Mt 4,18-22; Mc 1,16-20; Lc 5,10-11; Ga 15,16).

Quả thế, chính Đức Giêsu là Đấng “Thiên Chúa thánh hiến bằng Thánh Thần và quyền năng” (Cv 10,38), là “Đấng Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian” (Ga 10,36). Một khi đón nhận ơn thánh hiến của Chúa Cha, Chúa Con lại hiến dâng bản thân cho Chúa Cha để phục vụ nhân loại (x. Ga 17,19): đời sống khiết tịnh, nghèo khó và vâng phục của Người diễn tả lòng gắn bó thảo hiếu và trọn vẹn của Người với chương trình của Chúa Cha (x. Ga 10,30; 14,11). Chính vì cuộc hiến dâng hoàn hảo của Đức Kitô mà hết mọi biến cố trong cuộc đời tại thế của Người đều được thánh hiến.

VC 25: Có thể nói rằng ý nghĩa truyền giáo (missio) nằm ngay trong lòng mọi hình thức đời tận hiến. Những người tận hiến sẽ trở thành những nhà truyền giáo trước tiên bằng việc thường xuyên ý thức sâu xa rằng họ đã được Thiên Chúa kêu gọi và chọn lựa, nên phải quy hướng và dâng hiến cho Người toàn thể cuộc đời của họ và tất cả những gì họ có, bằng cách tự giải thoát khỏi những trở ngại làm trì trệ việc đáp trả trọn vẹn trong tình yêu. Như thế họ sẽ trở thành một dấu chỉ trung thực về Đức Kitô trong thế giới. Lối sống của họ phải phản ánh lý tưởng họ tuyên xưng, khi xuất hiện như là những dấu chỉ sống động của Thiên Chúa và là những nhà rao giảng Tin Mừng đầy sức thuyết phục, cho dù họ thường im hơi lặng tiếng.

VC 27: Đời thánh hiến có nhiệm vụ chiếu toả mãi mãi vinh quang Thiên Chúa, khi mọi phàm nhân được thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa (x. Lc 3,6; Is 40,5). Kitô giáo Đông Phương nhấn mạnh khía cạnh này, khi gọi các đan sĩ là những thiên thần của Thiên Chúa trên mặt đất, loan báo cuộc canh tân thế giới trong Đức Kitô.

VC 72: Theo hình ảnh Đức Giêsu, Con yêu dấu “mà Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian” (Ga 10,36), những người Thiên Chúa gọi theo Người, cũng được thánh hiến và sai đến thế gian để bắt chước gương Người và tiếp tục sứ mạng của Người. Điều này được áp dụng cho mọi môn đệ nói chung. Tuy nhiên, nó được áp dụng cách riêng cho những ai được mời gọi theo Chúa Kitô “sát hơn” trong hình thức đặc thù là đời thánh hiến và lấy Người làm “tất cả” của đời mình. Như vậy, lời mời gọi, đối với họ, bao hàm cam kết dâng hiến toàn thân cho sứ mạng; hơn nữa, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, nguồn gốc mọi ơn gọi và mọi đoàn sủng, chính đời thánh hiến trở thành một sứ mạng, như cả cuộc đời Đức Giêsu đã là một sứ mạng. Nhìn từ góc độ đó, chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng của việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm, giúp cho con người hoàn toàn tự do để phục vụ Tin Mừng. Vì vậy, phải khẳng định rằng sứ mạng là thiết yếu cho mọi tu hội, không những cho những tu hội hoạt động tông đồ mà còn cho cả những tu hội chiêm niệm nữa. Thật vậy, trước khi được thể hiện bằng những công việc bề ngoài, sứ mạng cốt ở việc làm cho chính Đức Kitô hiện diện bằng chứng tá bản thân. Đó là thách đố, đó là mục đích đầu tiên của đời thánh hiến! Càng để cho mình đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, người tận hiến càng làm cho Người hiện diện và hành động trong thế giới, để cứu độ nhân loại.

Do đó, có thể nói rằng người tận hiến “được sai đi” do chính sự thánh hiến của mình, người ấy làm chứng cho sứ mạng theo lý tưởng của tu hội mình. Khi đoàn sủng sáng lập tiên liệu có những hoạt động mục vụ, thì hiển nhiên là chứng tá đời sống và chứng tá hoạt động tông đồ hay thăng tiến con người là cần thiết như nhau: cả hai đều nhằm làm cho Đức Kitô hiện diện, Người là Đấng vừa được thánh hiến cho vinh quang của Chúa Cha, vừa được sai đến với thế gian nhằm cứu độ anh chị em mình.

Hơn nữa, đời tu lại còn tham gia vào sứ mạng của Đức Kitô bằng một yếu tố khác, riêng của mình, đó là đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, hướng về sứ vụ. Như vậy, việc hiến dâng cho Chúa Giêsu càng đi vào nội tâm, cách sống cộng đoàn càng đậm tình huynh đệ, sự dấn thân vào sứ mạng đặc thù của tu hội càng hăng say, thì đời tu càng có giá trị tông đồ.

Tông huấn cũng nhắc đến đoàn sủng của đời tu trì nói chung và của mỗi hội dòng qua tinh thần của đấng sáng lập.

VC 19: Thánh Thần không hề rút ra ngoài lịch sử nhân loại những kẻ được Chúa Cha kêu gọi, nhưng lại khiến họ hiến thân phục vụ anh em thể theo những cách thức riêng của bậc sống họ. Người thúc đẩy họ chu toàn những sứ mạng riêng hầu đáp ứng những nhu cầu của Giáo Hội và thế giới, qua những đoàn sủng riêng của các tu hội khác nhau. Đây là nguồn gốc của nhiều lối sống đời thánh hiến, nhờ đó Giáo Hội được “con cái tô thắm bằng những ân huệ khác nhau như một hiền thê trang điểm xinh xắn ra mắt lang quân mình” (x. Kh 21,2) và có vô số phương tiện để hoàn tất sứ mạng trong thế giới.

VC 32: Đã có những nẻo đường khác nhau nhưng bổ túc cho nhau. Các tu sĩ nam nữ hoàn toàn hiến mình cho đời sống chiêm niệm là những hình ảnh đặc biệt của Đức Kitô cầu nguyện trên núi. Những người tận hiến sống đời hoạt động diễn lại nếp sống của Người “loan báo Nước Thiên Chúa cho dân chúng, hoặc chữa lành những kẻ đau yếu tàn tật, hay hoán cải các tội nhân trở lại đời sống lương thiện, hoặc đang chúc phúc cho trẻ em và ban ơn lành cho mọi người”. Những người tận hiến trong các tu hội đời đóng góp theo cách thức riêng vào công cuộc làm cho Nước Thiên Chúa đến; họ tổng hợp một cách đặc biệt những giá trị của sự thánh hiến và những giá trị của trần thế.

VC 36: Trong việc đi theo làm môn đệ Đức Kitô, sequela Christi, và trong tình yêu dành cho bản thân Người, cần nêu lên một số điểm liên quan đến việc phải nên thánh trong đời thánh hiến vào ngày hôm nay.

Trước tiên trong mỗi tu hội, cần phải trung thành với đoàn sủng sáng lập và với gia sản thiêng liêng được gầy dựng lên tiếp theo sau. Việc trung thành với linh ứng của các đấng sáng lập, một ân huệ của Chúa Thánh Thần, giúp tìm lại và sống nhiệt thành những yếu tố cốt yếu của đời thánh hiến.

Quả thế, cho dù các kiểu sống khác nhau có những đường nét riêng đi nữa, nhưng các đoàn sủng nào cũng “nổi bật lên ước muốn sâu xa của tâm hồn là được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, dầu làm chứng về một nét nào đó thuộc mầu nhiệm của Người”; nét độc đáo đó được cụ thể hoá và triển khai trong truyền thống trung thực nhất của tu hội, sao cho phù hợp với các quy luật, hiến chương và quy chế.

2. Giáo huấn của Đức thánh cha Phanxicô

Tông huấn Niềm vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium)

EG 78: Hôm nay chúng ta đang thấy nơi nhiều người hoạt động mục vụ, gồm cả những người thánh hiến nam cũng như nữ, một sự quan tâm quá mức về tự do và sự thoải mái của bản thân, khiến họ coi công việc của mình như chỉ là một cái gì phụ thuộc chứ không phải một thành phần thuộc căn tính của họ. Đồng thời, đời sống thiêng liêng trở nên bị đồng hoá với một ít việc thực hành tôn giáo có thể đem lại một sự an ủi nào đó chứ không khuyến khích việc gặp gỡ người khác, dấn thân vào thế giới hay một niềm say mê loan báo Tin Mừng. Hậu quả là chúng ta thấy nhiều người hoạt động rao giảng Tin Mừng, tuy họ vẫn cầu nguyện, nhưng có một lối sống rất cá nhân chủ nghĩa, một sự khủng hoảng căn tính và sự nhiệt tâm trở nên nguội lạnh. Cả ba điều xấu này tác động lẫn nhau.

EG 100: Tôi rất đau lòng khi thấy một số cộng đoàn Kitô hữu, thậm chí cả những người thánh hiến, có thể dung dưỡng những hình thức thù nghịch, chia rẽ, vu khống, nói xấu, oán thù, đố kỵ và ước muốn áp đặt một số ý tưởng bằng bất cứ giá nào, thậm chí bằng các hành động bách hại giống như những cuộc săn lùng phù thuỷ thực sự. Chúng ta sẽ rao giảng Tin Mừng cho ai nếu chúng ta hành động theo cách này?

EG 107: Ở đâu có sự sống, nhiệt tình và ước muốn đem Đức Kitô đến cho người khác, ở đó sẽ xuất hiện các ơn gọi đích thực… Các chủng viện (cũng có thể hiểu về các hội dòng) không thể tiếp nhận các ứng sinh căn cứ vào bất cứ động cơ nào, đặc biệt nếu các động cơ ấy liên quan tới sự bấp bênh về tình cảm, theo đuổi quyền lực, danh vọng hay của cải.

Huấn từ của Đức thánh cha dành cho các tu sĩ

Trong bài nói chuyện với các tu sĩ Hàn quốc nhân dịp đại hội giới trẻ Á châu hồi tháng 8 vừa qua, Đức thánh cha Phanxicô nói:

Trong đời sống thánh hiến, đức khó nghèo vừa là một “bức tường” vừa là một “người mẹ” bởi vì nó giúp đời sống thánh hiến lớn lên và dẫn đưa nó đi trong con đường chính trực. Tính giả hình của những người nam và người nữ thánh hiến đã tuyên khấn lời khấn khó nghèo nhưng lại sống như người giầu đã làm tổn thương tâm hồn các tín hữu và làm hại Giáo hội. Anh chị em cũng hãy nghĩ tới nguy hiểm lớn lao của cơn cám dỗ chấp nhận một tâm thức hoàn toàn có tính chức năng và thế tục, là điều dẫn tới việc đặt niềm hy vọng vào các phương tiện con người, phá hủy chứng tá về sự khó nghèo mà Chúa chúng ta Đức Giêsu Kitô đã sống và đã dạy chúng ta.

Hãy để niềm vui của anh chị em tiếp tục tìm được biểu thức trong các cố gắng của anh chị em nhằm lôi cuốn và nuôi dưỡng các ơn gọi, và thừa nhận rằng mọi người anh chị em đều có phần trong việc đào tạo các người nam nữ tận hiến của ngày mai… Bất kể anh chị em hiến thân cho chiêm niệm nhiều hơn hay cho đời sống tông đồ nhiều hơn, anh chị em hãy nhiệt thành trong tình yêu đối với Giáo Hội và ước nguyện được đem các đặc sủng riêng của anh chị em đóng góp vào sứ mệnh công bố Tin Mừng và xây dựng Dân Thiên Chúa trong hợp nhất, thánh thiện và yêu thương.

Trong huấn từ dành cho các tu sĩ ở Albania vào tháng 9 vừa qua, Đức thánh cha Phanxicô nhắn nhủ rằng:

Có rất nhiều vấn đề anh chị em phải đối diện hằng ngày. Những vấn đề này buộc anh chị em phải làm mục vụ tông đồ với lòng nhiệt thành và quảng đại. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng tự sức mình, chúng ta không thể làm được gì: “Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 127,1). Nhận thức này mời gọi chúng ta dành khoảng không gian mỗi ngày cho Chúa, dành thời gian cho Ngài, mở rộng lòng mình với Ngài, để Ngài có thể làm việc trong cuộc sống và sứ vụ của chúng ta. Điều mà Chúa hứa sẽ thực hiện nhờ lời cầu nguyện thì vượt xa những gì chúng ta dám ước mong (x. Lc 11,11-12). Chiều kích chiêm niệm cầu nguyện không thể thiếu trong đời sống hằng ngày ngay cả trong những lúc bận rộn và khó khăn nhất. Sứ vụ mời gọi chúng ta đi ra ngoài đến những vùng ngoại vi của cuộc sống, thì càng cần hơn nữa những tâm hồm cảm thấy phải kết hợp mật thiết với Chúa Kitô, Đấng giàu lòng thương xót và yêu thương.

III. MỘT VÀI CẢM NHẬN

Có lẽ nhận định chung về đời tu tại Việt Nam hiện nay là vẫn đang khởi sắc: số ơn gọi vẫn luôn dồi dào, các hội dòng, tu hội thì ngày càng nhiều và phong phú nhờ có thêm các hội dòng từ ngoại quốc đến, chương trình đào tạo thì quy củ bài bản hơn, sứ vụ thì ngày càng gia tăng về hình thức hoạt động và nhất là về số lượng, và trong những năm gần đây lại có cả việc chia sẻ ơn gọi hay nói nôm na là “xuất khẩu” ơn gọi ra nước ngoài nữa.

Sở dĩ như thế, có lẽ đó là nhờ có sự nương tay hơn từ phía chính quyền và sự hội nhập ngày càng nhiều hơn của Giáo hội Việt Nam vào đời sống của Giáo hội toàn cầu.

1. Từ sông nhỏ ra biển lớn

Nhiều dòng tu tại Việt Nam có thể ví như người đi từ trong con sông nhỏ ra biển lớn vậy. Trước mắt là cả một khung trời rộng mở đầy hứa hẹn, nhưng con thuyền thì mỏng manh nhỏ bé, và kinh nghiệm cũng như tập quán đi trong sông không đủ để có thể vươn khơi cưỡi sóng.

Thời khó khăn thì lén lút, chui rúc, tản mác, manh mún; thời hiện tại thì chưa thể định hướng và thấy quá lớn nhu cầu hội nhập quốc tế; trong khi vẫn vướng cái nếp cũ, còn nếp mới thì chưa thành hình được, lúng túng tựa như chính sách “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” vậy.

Đã quá lâu rồi, tập quán đi trong sông nhỏ là cần thiết để tồn tại, nhưng nay nó dễ biến thành trở ngại cho sự canh tân. Thời trước, nhiều hội dòng phải tạm gác lại nét đặc sủng của mình để thi hành các sứ vụ chung theo nghĩa chung chung, dòng nào cũng làm. Như đó chỉ là một giải pháp thời cuộc mà hôm nay cần phải bị đặt lại nếu muốn trung thành với đặc sủng hứng khởi của đấng sáng lập.

Bối cảnh trên đây đặt ra nhiều thách đố cho thánh hiến và sứ vụ của tu sĩ hôm nay tại Việt Nam.

Một trăn trở lớn của các hội dòng hiện nay là vấn đề đào tạo, đào tạo các nhà đào tạo và chương trình đào tạo.

Nhân sự phụ trách đào thì mỏng về cả lượng và phẩm. Một người đào tạo lo cho hàng bốn năm chục huấn sinh là một công việc quá tải và sẽ kém hiệu quả. Chương trình đào tạo thì còn nhiều bất cập và khiếm khuyết.

Một thực tế là các hội dòng gửi người đi đào tạo chuyên môn ở ngoại quốc, hầu hết là do xin được học bổng. Chúng ta chờ đợi lòng quảng đại của người khác mà không dám đầu tư bằng chính nội lực của mình. Nhà dòng đang cần người chuyên môn này nhưng nơi cấp học bổng lại không đào tạo chuyên môn ấy nên người được gửi đi phải gượng ép mà học một chuyên môn trên trời dưới đất nào đó.

Không dám bỏ tiền ra đào tạo nhân sự cần thiết nhưng sẵn sàng xây những cơ sở đồ sộ.

Về phía người thụ huấn thì ý thức tự đào tạo còn yếu. Tâm thức chung của học sinh sinh viên Việt Nam là thụ động và chờ đợi nhiều nơi thầy cô giáo. Huấn sinh cũng thế, chờ đợi nơi các nhà đào tạo, các cha giáo, sơ giáo… chỉ một thiểu số biết tự thân vận động để hoàn thiện quá trình đào tạo chính mình.

Trước kia, các ứng sinh vào nhà dòng rất sớm. Các em còn nhỏ và được cho ăn học, dạy dỗ để dần dần trưởng thành về tri thức, nhân cách, đạo đức, và đời tu.

Ngày nay, các ứng sinh đã là một công dân trưởng thành ở bên ngoài. Khi vào nhà dòng, họ dường như phải làm lại từ đầu hay là một cuộc giật lùi vì họ bị xem là như trẻ con và gây ra một sự ấu trĩ về nhân cách.

Đó là hậu quả của lối giáo dục lạc hậu, biến người thuộc quyền thành những kẻ ấu trĩ, chỉ biết khúm núm, vâng vâng dạ dạ.

2. Thánh hiến – Chērem

Để diễn tả sự thánh hiến, Cựu Ước dùng hạn từ chērem với hai ý nghĩa: biệt hiến và tru hiến. Biệt hiến là được thánh hiến dành riêng cho Thiên Chúa, thuộc riêng về Chúa. Còn tru hiến là sự hủy diệt đi những gì là ngoại đạo, có nguy cơ trở thành căn cớ cho sự bất trung của Israel.

Có thể hiểu về sự thánh hiến trong đời tu cũng như thế. Sự biệt hiến của đời tu là một ơn ban, là tác động thánh hiến của Chúa dành cho người tu sĩ để họ thuộc trọn về Người. Đó là ơn ban nhưng cũng là thách đố đối với người được thánh hiến để sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian.

Còn sự tru hiến có thể nói là một nỗ lực liên lỉ để nên hoàn thiện của người tu sĩ. Đó là tinh thần từ bỏ mọi sự, những gì gây cản trở người tu sĩ tận hiến cho Thiên Chúa. Sách Thánh ghi nhận rằng sự tru hiến này đã là cám dỗ không thể vượt qua của một số người, ví dụ như trường hợp vua Saul trong 1 Sm 15,10-23 khi vua tiếc xót những chiên dê béo tốt trong số các chiến lợi phẩm phải bị tru hiến.

Luôn có những lý do đầy thuyết phục để biện minh cho tính vụ lợi ngay cả trong đời tu, nhất là trong thời buổi mà tính hiệu năng được đề cao như ngày nay.

Ví dụ, một nữ ứng sinh hay quanh co, gian dối… nhưng vì có bằng sư phạm mầm non mà nhà dòng lại đang cần để mở một nhà trẻ. Thế là bề trên cứ cho khấn bất chấp lời cảnh báo của người phụ trách đào tạo.

Câu chuyện ơn gọi của thánh Gioan Maria Vianney là một nhắc nhớ: Cha giám đốc chủng viện trình Đức giám mục rằng: “Nếu Đức cha muốn có những linh mục giỏi về kiến thức trong giáo phận, thì phải loại thầy Vianney. Nhưng nếu Đức cha muốn có các linh mục nói về Thiên Chúa một cách đơn sơ, biết thế nào là sám hối và cầu nguyện, là mẫu gương của lòng yêu mến Chúa, thì chúng ta sẽ giữ thầy ấy lại”.

Có người nhận định rằng: từ khi Đức giáo hoàng Phanxicô xuất hiện đến nay, cả thế giới ngưỡng mộ tinh thần và đời sống của ngài. Nhưng xem ra cái “tinh thần Phanxicô” ấy chưa thấm được bao nhiêu vào đời sống Giáo hội tại Việt Nam. Có thể đó là một nhận xét khắt khe nhưng cũng đáng để tự vấn.

Thật vậy, không khó để gặp thấy một lễ hội thánh hiến trong đời tu. Lễ khấn, lễ tạ ơn, lễ kỷ niệm 5, 10, 15, 20…được tổ chức ngày càng nhiều, những cuộc hội họp, tĩnh tâm, hành hương lấy ngoại quốc làm điểm đến cũng không ít.

3. Sứ vụ – missio

Có hai quyển sách của Lm Quirico Pedregosa, OP mang tựa đề “Tình yêu chính là sứ vụ” và “Lãnh đạo vì sứ vụ”, cả hai đều lấy sứ vụ làm đích điểm.

Các đề tài thuyết trình trong hội nghị năm nay cũng đều nhắc đến hạn từ “sứ vụ”. Như vậy, sứ vụ là điểm nhắm và là sự hoàn tất của sự thánh hiến. Hay nói cách khác: thánh hiến là vì sứ vụ. Đó là một tương quan nhân quả, một quan hệ hỗ tương, điều này là ý nghĩa cho điều kia.

Sứ vụ chung của mọi Kitô hữu là Phúc Âm hóa, nhưng tùy vào ơn gọi của mỗi người mà sứ vụ ấy lại khác biệt nhau. Cũng thế, sứ vụ của mọi hội dòng là Phúc Âm hóa thế giới, nhưng tùy vào đặc sủng của mỗi dòng mà việc Phúc Âm mang những nét riêng biệt.

Trong buổi hội thảo gần đây tại Học viện Đa Minh về Nguồn gốc đời tu tại Việt Nam và về Lịch sử Dòng Mến Thánh Giá tại Việt Nam, Lm Phan Tấn Thành và nữ tu Hồ Thị Quyết đã cho thấy việc thiết lập Hội Thầy Giảng và Dòng Mến Thánh Giá là một sáng kiến quý báu, đáp ứng thiết thực cho nhu cầu của Giáo hội Việt Nam thời bấy giờ. Nhưng ngày nay, hậu thân của Hội Thầy Giảng gần như chấm hết, còn các Dòng Mến Thánh Giá thì rất phát triển, tuy nhiên về đặc sủng sáng lập như một hội dòng phục vụ đời sống giáo hội địa phương (giáo phận) thì cần được xem xét một cách nghiêm túc.

Một bề trên hội dòng giáo phận phát biểu rằng: chúng con nhất quyết không làm bếp cho các cha! Nếu một hội dòng được lập ra là để trợ giúp đời sống mục vụ của giáo phận thì thiết tưởng việc làm bếp cho các cha xứ trong giáo phận còn gần với đặc sủng sáng lập hơn là mở một nhà trẻ ở thành phố bên ngoài giáo phận mình.

Hình như nhiều hội dòng ở Việt Nam hiện nay, tương quan giữa đặc sủng sáng lập với sứ vụ hiện tại có thể ví như một thứ cây ghép vậy, gốc rễ này mà cành lá kia.

Trong những năm gần đây lại thấy có hiện tượng nhà tu đua nở ở nước ta. Các cơ sở dòng tu mọc lên khá nhiều. Ta xây nhiều nên quen mắt và cho đó là chuyện bình thường. Nhưng một cái nhìn khách quan thì sao?

Tháng Mười vừa qua, cha tổng quyền dòng Đa Minh đến kinh lý tỉnh dòng Việt Nam, ngài hỏi con rằng: các anh đang xây dựng một số công trình để làm gì vậy?

Hẳn là phải có lý do sứ vụ biện chính cho những công trình xây dựng ấy, nhưng tính trong sáng về sứ vụ của nó nhất là theo đặc sủng sáng lập có còn được bảo đảm không?

Kết luận

Thánh hiến làm sao thì sứ vụ làm vậy. Ấy là nhân quả.

Thánh hiến làm vậy thì sứ vụ làm sao? Ấy là bất cập.

Sứ vụ làm sao thì thánh hiến làm vậy. Ấy là căn tính.

Sứ vụ làm vậy thì thánh hiến làm sao? Ấy là thách đố.

Linh mục Vinh sơn Phạm Xuân Hưng, OP

(Bài phát biểu tại Hội nghị Thường niên 2014 Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam năm 2014)

 

Comments are closed.