Những bước đi trong ân tình Chúa

0

buoc di trong an tinh chua

Giữa cảnh thanh bình của miền thôn dã, với cảnh sắc thiên nhiên thật hữu tình, bên con suối trong xanh uốn khúc, tôi vọng nghe từ nội tâm một lời mời gọi thật linh thiêng, nhưng cũng rất mạnh mẽ. Mạnh mẽ đến nỗi tôi đã cưỡng lại ba tôi với ý định: tôi sẽ bỏ học nếu không được đáp trả lời mời gọi đó. Thế là Chúa đã cho tôi thắng! Nhưng ơn gọi của tôi cũng thật diệu kỳ, vì chính Chúa chọn nơi để ươm trồng tôi cho mục đích của Ngài. Đúng vậy, ba Hội dòng tôi đã có ý hướng chọn từ ban đầu rất thuận tiện cho tôi vì có người hướng dẫn, Bề trên Dòng sẵn sàng đón nhận tôi; mặc dầu lúc ấy tôi mới mười ba tuổi, chưa đủ tiêu chuẩn. Nhưng tôi lại được Chúa thôi thúc đi tìm ơn gọi khác. Thực sự lúc đó tôi không biết dòng nào để chọn, chỉ biết dòng Thánh Vinh Sơn và dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán nơi chị Tư và chị Sáu tôi đang sống. Nhưng tôi không thích tu cùng dòng với các chị, sợ khi tôi sai lỗi bị phạt, các chị phải bận tâm vì thương tôi. Tự nhiên tôi đơn sơ nói với ba tôi: con thích dòng mặc áo trắng và có tràng hạt đeo ở chân. Ba tôi cười nói: tràng hạt người ta đeo ở cổ, cầm ở tay, chứ ai mà đeo tràng hạt ở chân. Tôi không hiểu hình ảnh đó đập vào mắt tôi lúc nào mà nó cứ ám ảnh và thu hút tôi. Bốn chị bạn cùng lớp với tôi đã vào dòng Mân Côi, tôi không theo họ vì nghĩ rằng: nhóm bạn thân nhau vào chung dòng sẽ hay lỗi luật ở lặng. (Nhưng đến lúc này tất cả các chị đã bỏ cuộc). Cuối cùng không thể làm gì hơn, tôi đành quyết định vào dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán với hai chị tôi. Nhưng trước ngày vào dòng, chiều hôm ấy tôi ở lại một mình lâu hơn trong nhà thờ; và chính buổi chiều tâm giao ấy Chúa đã thay đổi ý định của tôi. Sáng hôm sau, thánh lễ kết thúc, tôi lên gặp cha giải tội cũng là cha xứ của tôi và thưa ngài: “Con không vào dòng Mến thánh Giá Chợ Quán nữa, xin cha bỏ thư giới thiệu đi.”

Thời gian ấy gia đình tôi có tiệm buôn lớn và chị Năm tôi thay ba mẹ phụ trách cửa hàng. Tôi xin phép ba mẹ lên thay chị đứng bán để chị tôi  đi tìm dòng tu cho tôi. Tôi biết đây là một sự liều lĩnh vì ngoài bán hàng còn phải lo điểm tâm sáng cho trại lính gần đó. Sáng nào tôi cũng xoay như chong chóng để đáp ứng nhu cầu ẩm thực cho lính, tôi cũng kéo mấy cô bạn đồng tuổi đến ở với, vì cửa hàng xa nhà ba mẹ. Chị tôi đi và chẳng biết đi đâu, nhưng cũng cứ đi, tôi ở nhà cầu nguyện hết tuần ba đến tuần bảy, cuối cùng nhờ ơn Chúa cũng đạt tới đích: Chị Năm tôi được cơ hội rảnh rang đi chơi, sau một tuần chị tới chợ Bến Thành và thấy hai bà sơ mặc áo trắng. Chị đứng quan sát và cũng thấy có tràng hạt đeo ở thắt lưng, chị liều tới hỏi xem nhà dòng các sơ có nhận cô em gái của mình không? Được hai bà vui vẻ nhận, và hẹn ngày nhập dòng. Đó là Dòng Đa Minh Tam Hiệp, nơi Chúa gọi tôi. 

1- CÁNH CHIM LÌA TỔ     

Một buổi sáng sương còn rơi, gió trời còn yên giấc, hoa lá vẫn im lìm, tôi chỗi dậy, thấy ba tôi đã ngồi ở bàn từ bao giờ. Mẹ tôi đang chuẩn bị hành lý cho tôi, mặc dầu mọi sự đã xong chiều hôm trước, có lẽ mẹ tôi bỏ thêm một vật dụng gì đó. Tôi đến sát bên cạnh ba, xúc động mạnh vì tôi thấy những giọt nước mắt ba rơi. Tôi lấy hết sức can đảm và bình tĩnh nói: Thưa ba, con biết ba thương con út ba lắm, nhưng nếu con không đi tu, con cũng không thể ở nhà mãi với ba được, lâu lắm là tới 20 tuổi thôi. Im lặng hồi lâu, tiếng còi báo xe tới gần, ba tôi đứng lên xách vali và cùng tôi ra xe. Mẹ tôi thì khác, đến vuốt đầu tôi và khẽ nói bên tai: mỗi lần mẹ nhớ con, mẹ đọc cho con một Kinh Lạy Cha. Tôi cúi đầu chào ba mẹ lần cuối rồi với chị Năm lên xe. Xe chuyển bánh, xa dần bóng song thân kính yêu và ngôi nhà ấm cúng đan đầy kỷ niệm. Trời dần sáng, bầy chim chuyền cành hót líu lo và như nhỏ to với nhau điều chi đó. Đúng rồi, hôm nay tôi đi tu.

Sau 5 giờ đồng hồ chúng tôi đã tới cổng tu viện. Chị Năm xách vali, tôi hớn hở theo sau nhưng có chút rụt rè, e ngại. Cánh cửa nhà khách mở, sơ canh cổng ra tiếp và chỉ chỗ cho chúng tôi ngồi chờ. Tôi quan sát và nhìn vào phía trong. Nhà dòng lúc ấy sao mà đơn sơ và thanh bạch quá so với những dòng tôi biết khi tới thăm người thân ở đó. Đang miên man suy nghĩ, hai sơ bước vào và chúng tôi được biết đó là Mẹ Bề trên và sơ giáo Đệ Tử. Các sơ vui vẻ và thật đáng kính. Chúng tôi ngồi đối diện và lắng nghe các sơ thăm hỏi gia đình và đặt cho tôi nhiều câu hỏi. Một câu hỏi của sơ giáo khiến tôi nhớ mãi: Tại sao em đi tu? Không chút do dự, tôi đáp: Dạ, con muốn làm thánh. Sau ít phút tôi được dẫn vào ‘cung nội’, chị tôi nhìn theo với hai hàng nước mắt và nói với: Em rán tu nghe Út, chị về! Tôi được dẫn bước vào nhà nguyện, quì trước Thánh Thể hồi lâu, chắc Chúa còn nhớ rõ những gì tôi thưa Ngài thuở ban đầu ấy. Ra khỏi nhà nguyện tôi được hai chị Đệ tử đã chờ sẵn để dẫn tôi vào khu vực dành riêng cho Đệ tử. Đời thánh hiến của tôi bắt đầu từ đó. Để đáp ứng những đòi hỏi của đời tu, tôi ghi chép kỹ lưỡng những lời sơ giáo nhắc nhở, những bài tu đức hàng tuần của Cha linh hướng. Với tính năng động và nhiệt thành trong công việc, không bao lâu tôi được chị em quí mến bầu làm đoàn trưởng nhiều lần; rồi trưởng ban văn nghệ nữa. Trách nhiệm không có gì lớn lao, nhưng đó cũng là cơ hội giúp tôi lớn lên trong ơn gọi và ý thức hơn khi bước vào Năm Tập.

 2- BẾN ĐỖ CUỘC ĐỜI       

Sau khi tiên khấn, tôi được đi học ở Sài gòn và nội trú tại một Hội dòng nữ cùng với một số chị em khác. Việc học không mấy khó khăn, nhưng lúc này tôi như cánh chim non tung cánh giữa trời lộng gió, thấy gì tôi cũng sợ, cũng lo. Với thái độ chân thành đơn sơ, tôi tin tưởng trình bày với chị lớn có trách nhiệm những gì gặp phải. Có ngờ đâu đó là nguyên nhân gây cho tôi nhiều rắc rối. Nhưng nhìn lại: chính thời gian đó lại giúp tôi gắn bó với chúa Giêsu Thánh Thể và Lời Chúa nhiều hơn. Hai nguồn sống đó đã cho tôi sức mạnh để chấp nhận thử thách trong bình an và không oán hận. Thời gian đó, tôi đang thanh thản bước đi trong đức tin thì một biến cố lớn đến với ba mẹ tôi: chiến tranh cướp tất cả và cùng với đoàn người lánh nạn ba mẹ tôi về định cư ở Phạm Thế Hiển, Sài gòn. Vừa ổn định thì chiến tranh lại tiếp diễn, một lần nữa ba mẹ tôi  rơi vào cảnh sống thiếu thốn, ba tôi bị thương. Mặc dầu trải qua những tình huống khó khăn nhưng ba mẹ tôi không một lời ca thán và luôn nêu cho tôi tấm gương tuân theo ý Chúa. Thực sự vào thời điểm ấy nếu tôi nghe một tiếng thở dài của ba hay mẹ, chắc tôi không đủ nghị lực để tiếp tục đời tu. Ba mẹ tôi đã cho tôi bài học “tuân theo ý Chúa” trong mọi hoàn cảnh. Một hôm tôi được về thăm gia đình với bà Tổng cố Vấn I: Bà Anna Nguyễn Thị Ninh. Trong câu chuyện bà có nói như để thử ba tôi: Ông cố có muốn nhà Dòng cho con gái ở lại gia đình dạy học nuôi ông cố không? Ba tôi thẳng thắn thưa lại: Dạ, thưa bà của lễ con đã dâng, con không bao giờ lấy lại. Lúc này mẹ tôi đã qua đời sau một tai nạn. Tạ ơn Chúa dầu giữa thử thách trăm bề, ba mẹ tôi vẫn cầu nguyện và nâng đỡ để tôi trọn tình với Chúa. 

Phải chăng vì dư âm những chuyện trước đây ở nội trú mà Bề trên bảo tôi chuyển trường, chuyển môn? Đây là một thử thách lớn cho tôi vì chỉ còn mấy tháng nữa là tới ngày thi tốt nghiệp. Tôi không hy vọng vượt qua. Nhưng tôi luôn xác tín: “Đức vâng lời luôn thắng trận”. Vâng, chính nhờ tình thương và quyền năng của Chúa, tôi đã vượt qua kỳ thi một cách hết sức tốt đẹp. Việc học kết thúc, tôi được gọi về nhà mẹ để cộng tác với tờ nội san Ánh Sánh của Hội dòng. Tuy có gặp thử thách nhưng đời tu của tôi không bị gián đoạn, năm 1972 tôi khấn trọn đời và nhận sứ vụ giáo dục; đồng thời giúp các anh chị em tù binh tại trung tâm cải huấn Tân Hiệp Đồng Nai. Sau những giờ dạy học tôi đạp xe vào trại tù thăm họ và giúp họ đôi chút. Tôi nhận tiền các tù binh nữ để mua len rồi nhận áo len từ chị em ra ngoài bán để giúp họ có tiền tiêu. Tôi cũng giúp nấu ăn cho các tù binh được trả tự do và lo xe hoặc tàu cho họ lên đường về với gia đình. Công việc của tôi thuần bác ái nên không bị ai cấm cản chi cả. Giờ đây nhìn lại  tôi cảm nghiệm được bàn tay của Chúa đã dắt dìu và huấn luyện tôi thực hành sứ vụ đồng hành với những người nghèo khổ từ thủa đó.

Năm 1975 lịch sử đất nước sang trang, tôi cùng một số chị em về sinh sống tại Bình Giả, Châu Thành, Bà Rịa. Đúng 12 năm lam lũ vất vả với nghề đồng áng, nghề mà tôi chưa một lần biết đến. Bề trên của cộng đoàn mới đã lớn tuổi nên việc đối nội, đối ngoại tôi đều phải lo, là chị lớn trong cộng đoàn tôi bằng lòng lãnh nhận. Bầu khí cộng đoàn đầu tiên của tôi lúc ấy rất tuyệt vời, vui buồn, vất vả, cả nhà chung chia, tùy theo khả năng của mỗi người. Nhờ đó, bây giờ tuy mỗi chị em nhận một trách nhiệm khác, môi trường sống khác, nhưng khi gặp lại nhau, mối chân tình ngày nào như sống lại với nhiều kỷ niệm êm đềm. Giáo dân tại giáo xứ cũng dành cho tôi thiện cảm rất đặc biệt, dù họ ở tại quê hương hay đã ra hải ngoại. Những lời thăm hỏi, sự giúp đỡ của họ đã khích lệ tôi rất nhiều trong sứ vụ sau này; và tôi cũng rất vui khi có dịp gặp lại họ. Trong bước đầu của đời sứ vụ tông đồ, tôi được Thánh Thần hướng dẫn đáp ứng được phần nào cơn khát tinh thần của những con người sống đời lam lũ, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời trong thời cuộc lúc bấy giờ. Phải chăng chính điều đó mà họ đã dành cho tôi sự quí mến lâu dài?

3 – CON NGƯỜI VÀ TRÁCH NHIỆM

Năm 1987 tôi rời miền đất đỏ Bình Giã với bao lưu luyến, trở về nhà Mẹ Tam Hiệp chung tay, chung sức với các Bề trên trong trách nhiệm sứ vụ Tông đồ Truyền giáo của Hội Dòng, tôi có dịp tới những vùng sâu vùng xa, chạm đến những hoàn cảnh sống cùng cực của bao người, họ đói vật chất, đói tinh thần, đói lẽ sống. Tôi băn khoăn trăn trở và thao thức thật nhiều trước nhu cầu bao la của họ, tôi triền miên khắc khoải vì cảm thấy mình bất lực. Những cố gắng để đáp ứng thì chẳng khác chi hạt muối rơi xuống đại dương. Rồi trong bốn năm với trách nhiệm Phụ tá của Bề trên Tổng Quyền, tôi cũng có cơ hội tiếp cận với đời sống văn minh, giàu sang của xứ người, lại càng làm cho tim tôi đau nhói hơn về tất cả sự thật đau thương nơi quê hương mình sau bao năm nội chiến. Phần lớn dân chúng nghèo, dốt, sống thiếu nhân bản, thiếu trung thực, thiếu ý thức trách nhiệm, thiếu lương tâm. Tôi rất tâm đắc câu nói của Đức cha Nicola Huỳnh Văn Nghi, Giám mục Giáo phận Phan thiết: “Một xã hội nghèo có thể làm nên giàu, dốt có thể làm nên giỏi. Nhưng một xã hội lương tâm bị băng hoại thì không làm chi được”. Nhận định của ngài sao cứ mãi để lại trong tôi một nỗi lo âu khắc khoải cho thế hệ trẻ hôm nay.

Năm 1995, qua Tổng Hội IX của Hội dòng, tôi được chọn làm người phục vụ Hội dòng với trách nhiệm Bề trên Tổng Quyền. Vừa nghe lời tuyên bố của Đức Giám Mục chủ tọa, tôi toát mồ hôi và cảm thấy sợ hãi trước gánh quá nặng nề đó. Tôi hoàn toàn muốn thoái thác vì cảm thấy mình quá trẻ, giới hạn và bất lực. Trong im lặng căng thẳng, Lời Chúa đã đến trấn an và củng cố đức tin của tôi: Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2 Cr 12,9). Vâng, Hội dòng là của Chúa, nơi đây Chúa qui tụ những con người Chúa muốn. Vì thế, tôi ý thức việc lãnh đạo Hội Dòng là của Chúa, tôi chỉ là dụng cụ. Đó là những ý tưởng Chúa ban đã cho tôi nghị lực để tuân phục ý Chúa.

Tổng Hội kết thúc, theo luật Dòng, tôi đi tĩnh tâm một tuần trước khi lãnh trách nhiệm. Tôi tĩnh tâm riêng, không có cha hướng dẫn. Tôi tự lấy chủ đề cho tuần tĩnh tâm: Tìm hiểu CHÂN DUNG NGƯỜI MỤC TỬ NHÂN LÀNH ĐỂ THEO NGÀI PHỤC VỤ TRONG YÊU THƯƠNG. Suốt tuần tĩnh tâm, tôi say sưa chiêm ngắm vai trò Mục tử của Đức Kitô trong Tin Mừng. Chúa thật là nhà lãnh đạo tuyệt vời, thật vô cùng đáng kính và dễ mến làm sao trong cung cách đối xử của Ngài. Càng nghĩ tới Chúa và chiêm ngắm Ngài, càng tăng lòng kính yêu Ngài trong tôi. Nhưng tôi vẫn cảm thấy sợ hãi và bất xứng quá! Tôi nhìn ngắm Chúa với những dòng nước mắt. Lúc này, Lời Chúa lại vang vọng trấn an tôi: “Thầy đây, đừng sợ!” (Ga 6,20). Thực sự, tôi cảm thấy an tâm hơn khi suy niệm lời thánh Phaolô nói: “Sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (2Cr 12,9). Lúc ấy tôi đã thưa: ‘Lạy Chúa, Chúa đã biết con rồi mà Chúa còn trao trách nhiệm cho con thì xin Chúa hãy giúp con. Chúa không giúp con, Chúa thiệt rán chịu.’ Quả thật Chúa đã ra tay. Chúa nâng đỡ, hướng dẫn tôi trong trách nhiệm và đồng hành với tôi trên mọi nẻo đường.

Trong thời gian đó tôi phải đi ra hải ngoại nhiều lần và tới nhiều nước. Ngoài những cuộc họp Các Bề trên Thượng cấp hay Gia Đình Đa Minh Thế giới, tôi còn phải tìm sự giúp đỡ cho Hội dòng. Trên các cuộc hành trình đã nhiều lần tôi gặp khó khăn, nhưng tôi luôn cảm thấy rõ bàn tay vô hình của Chúa ở với tôi. Lần thứ nhất tại Boston, Hoa kỳ. Hôm ấy một người Việt chở tôi ra trạm xe lửa mua vé đi New Jersy, anh không chịu để tôi vào mua, anh bảo tôi ở lại trên xe với vợ anh để anh đi mua. Trở lại anh đưa tôi vào phòng vé và cũng đến lúc xe lửa khởi hành. Tôi chia tay họ, vào chỗ ngồi, ung dung thả hồn theo gió, ngắm cảnh, ngắm người xứ lạ. Đúng 3 giờ chiều tới nơi, mọi người xuống xe, tôi cũng vui vẻ bước xuống. Nhưng rồi tôi cảm thấy ớn lạnh vì không thấy một người quen nào đón tôi như đã hẹn. Lạy Chúa, đây là New Jork. Đứng bên hai vali to, tôi cảm thấy sợ hãi như lạc vào rừng sâu. Bỗng một người cảnh sát tới, rất lịch thiệp, ông mỉm cười và hỏi han tôi. Tôi cảm thấy an tâm và nói với ông sự việc. Ông nói tôi đã đi sai đường, ông đưa tôi tới phòng vé, mua vé cho tôi và dẫn tôi lên xe lửa cùng với hành lý kồng kềnh. Trên xe lửa, ngồi đối diện với tôi là một ông Mỹ đen to như thùng phi, vui vẻ, cười nói nhiều. Tôi mừng, hy vọng khi xuống xe sẽ có thiên thần phù hộ, nhưng xe vừa khởi hành ông ta bắt đầu ngủ và ngáy to, tôi thất vọng quá! Tôi thầm thưa với Chúa: Chúa ơi, con hy vọng khi xuống xe sẽ nhờ ông giúp con, thế mà bây giờ ông ngủ say sưa thế này thì làm sao đây! Thôi kệ, tôi bắt đầu lần hạt, không thả hồn theo gió như trước nữa. Sau hai giờ tới nơi. May quá, ông Mỹ đã thức và tôi không cần nói, ông vui vẻ xách hai tay hai vali to của tôi xuống, tôi chỉ còn một xách nhỏ trên tay theo ông tới bến xe buýt, ông chỉ cho tôi mua vé rồi chào tạm biệt. Lên xe tôi thấy toàn người Mỹ đen, tôi lại sợ vì nghe nói đi vào vùng người Mỹ đen nguy hiểm lắm. Trời về chiều mà đường còn dài hun hút, không biết đến bao giờ mới tới đường 36, nơi tôi sẽ tới? Cuối cùng có một cô Mỹ trắng lên xe, ngồi bên cạnh tôi, rất thân thiện, có lẽ người Công Giáo, thấy tôi mặc tu phục nên tỏ vẻ kính trọng và hỏi chuyện nhiều. Cô cho mượn điện thoại để gọi về nhà người quen, được biết là người nhà tới đón tôi nhưng chờ không được họ đi chơi chỗ khác. Cô gọi taxi cho tôi và tôi đã về nhà người quen bằng an. Bà chủ nhà trước đây là cô nhi của Hội dòng đã mời tôi tới thăm gia đình.

Một lần nữa, vào năm 2000. Tôi đi xe buýt từ Arizona về California. Tới nơi trời đã tối, khoảng 9 giờ đêm. Tôi phải chuyển sang xe về Santa Anna để thăm bà giáo cũ. Lúc này tôi đã có điện thoại bỏ túi, lấy số điện thoại ra gọi để khi tôi đến đó bà sẽ ra đón tôi. Nhưng gọi mãi không ai trả lời. Ở lại đó không được, tôi phải lên xe tới Santa Anna. Tới nơi đã khuya lắm. Tôi không biết làm sao, lúc này trạm xe buýt chỉ thấy có vài người đàn ông trực. Cùng xuống xe với tôi có một cô, không phải người Mỹ và tôi cũng chẳng biết cô thuộc nước nào. Lúc này tôi thực sự cảm thấy lo và không biết làm sao. Cô bạn có người ra đón. Trước khi lên xe, cô quay lại hỏi tôi bằng tiếng Anh. Tôi mừng quá và kể cho cô biết về hoàn cảnh của tôi lúc này. Cô mời tôi lên xe về nhà cô. Tôi liều đi theo cô rồi ngày mai sẽ tính. Về nhà cô không xa, chừng 15 phút đường dài. Ngôi nhà nhỏ. Cô nói: chúng tôi 5 người thuê phòng sống chung, không còn phòng cho sơ nữa. Rồi cô chỉ cho tôi một chiếc sofa dài bảo tôi ngủ tạm ở đó. Thú thật đêm hôm đó tôi không biết số phận mình sẽ ra sao vì tôi đã từng nghe ở Mỹ hay có vụ người mất tích. Nếu họ nghĩ tôi có tiền, họ có thể giết và thủ tiêu mà không ai biết. Tôi bắt đầu cầu nguyện và phó thác cho Chúa. Tôi mặc cả tu phục nằm ngủ. Vì tôi nghĩ nếu có chết, tôi chết trong bộ tu phục. Tay tôi cầm tràng hạt và thiếp ngủ lúc nào không hay. Thức dậy, mở mắt thấy trời đã sáng. Tạ ơn Chúa tôi còn sống! Cô bạn hôm qua mời tôi điểm tâm và sẵn sàng đưa tôi tới địa chỉ tôi muốn. Quả thực, trên mọi nẻo đường Chúa luôn đồng hành với tôi; đặc biệt khi gặp khó khăn tôi cảm nhận được tình thương và quyền năng Chúa luôn tỏ hiện. Tôi xác tín mạnh mẽ về điều này trong cuộc đời như Lời Chúa nói với tôi: Thầy đây. Con đừng sợ!

4- CUỘC ĐỜI SỨ VỤ

Năm 2003, sau khi kết thúc nhiệm kỳ II, tôi đã thưa với Chúa: thời gian còn lại trong đời của con, xin Chúa hãy dành con cho người nghèo. Nhưng sứ vụ đầu tiên của tôi là được Tân Bề Trên Tổng Quyền sai qua Mỹ. Sau 7 tháng ổn định nơi ở cho chị em bên Fort Smith, tôi lại được gọi về Việt Nam. Khi trở về quê hương tôi xin Bề Trên cho tôi được tới phục vụ tại Viện Dưỡng Lão, Cây Gáo; lúc đó chị Catarina Lê thị Mai Toàn đang điều hành viện. Điều thỉnh cầu của tôi không được chấp thuận. Bề trên nói với tôi: đó không phải là mục đích của Dòng. Tôi âm thầm chờ lệnh mới. Kỳ hè năm 2004, tôi được sai tới cộng đoàn Các Thánh Tử Đạo, Dốc Mơ để giúp các em Thỉnh sinh đã tốt nghiệp Đại học. Lúc ấy một công trình lớn đang dở dang, vườn tược thì ngổn ngang, đòi chúng tôi rất nhiều cố gắng để hoàn tất. Ngôi nhà mới xây xong khá khang trang, đẹp mắt, nhưng tôi thầm nghĩ: nếu huấn luyện những nữ tu tương lai mà cứ ở trong một ngôi nhà đủ tiện nghi như thế này, liệu khi trở thành tu sĩ các em có cảm thông được với người nghèo không? Sáng hôm sau, tôi cùng mấy em men theo đường đất đỏ gồ ghề đi sâu vào trong làng xem cuộc sống dân thế nào. Lạy Chúa! Giáp mặt với một sự thật của một số gia đình từ miền Bắc vào, Campuchia về, miền Tây trốn lụt lên, không nhà, không đất. Tôi tìm thăm từng gia đình và được biết: lều tranh họ đang ở là cắm tạm trên đất người khác, đến mùa sẽ không còn nữa vì chủ đất lấy lại để trồng hoa màu. Họ sống rất thiếu thốn; có nhà chặt lá kè đan vào cành tre để trải chiếu nằm dưới đất. Trở về, đêm hôm đó tôi không sao ngủ được. Tôi thầm thưa với Chúa: Lạy Chúa, con sống thế này mà anh em con sống thế kia sao? Tôi nghe dội lại từ nội tâm, không phải một lần mà nhiều lần: ‘Con phải liệu cho họ’. Hình như lúc đó tôi ngồi dậy và thưa: Lạy Chúa, Chúa nói như thế với các Tông đồ đang khi các ông còn có năm chiếc bánh và hai con cá, còn con đây, lúc này không có chi cả, lấy gì mà liệu cho họ đây. Tôi trằn trọc mãi cho tới sáng và sau khi đi lễ về, tôi vẫn bị thôi thúc như vậy. Lúc ấy tôi tự bảo mình: thôi cứ liều rồi phó mặc cho Chúa. Thánh kinh cũng nói: Thiên Chúa làm chủ lòng người mà. Tôi xin ý Bề trên và bắt đầu viết thư cho bạn bè, học trò và người thân ở hải ngoại. Quả thật, Chúa làm chủ lòng người, sau khi nhận được thư của tôi, họ đã gởi tiền về, tôi mua được đất, xây nhà và cho những người ở ven bờ hồ Trị An lên bắt thăm, trúng đâu ở đó và họ đã qui tụ thành làng, sống rất vui và nhiều gia đình đã trở lại đạo.

Sáng ngày 20 tháng 1 năm 2006 được tin chị Mai Toàn chết, tôi và các em vội vàng tới viện dưỡng lão kính viếng và cùng với Hội dòng chuẩn bị hậu sự cho chị. Cái chết đột ngột của chị Toàn để lại sự lo lắng không ít cho Bề trên Dòng: Ai sẽ là người thế chị???  Đọc được tâm trạng của Bề trên lúc này, nên tôi xin tình nguyện thế chỗ chị Toàn lo cho những mảnh đời neo đơn, nghèo khổ. Được Bề trên chấp thuận. Tôi sẵn sàng hành trang bước vào sứ vụ mới. Ôi! Đường lối Chúa thật nhiệm mầu cho người nữ tỳ hèn mọn của Người.

Nt. Isabella Trần Thị Kim Hường

Comments are closed.