Con Kiến cần cù

0

Hôm nay Mồng Ba tết Giáp Ngọ, Giáo hội Việt Nam muốn dành riêng để xin ơn thánh hóa công việc làm ăn trong năm mới, đồng thời xin Chúa chúc lành cho mọi công việc làm ăn chủa chúng ta trong suốt năm mới, biết lao động cho thích hợp để mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, cũng như góp phần vào việc làm sáng danh Chúa trong mỗi công việc của chúng ta.

Chúng ta có một gương đặc biệt về sự cần cù làm việc, đó là con kiến. Khi nói đến con kiến, tự nhiên trong đầu óc chúng ta nảy ra ý tưởng là sự cần cù làm việc, nhất là qua bài thơ ngụ ngôn “Con ve và con kiến” của thi sĩ La Fontaine.

Chúng ta cùng tìm hiểu về loài kiến với các nét đặc trưng của chúng và rút ra một bài học thực hành cho cuộc sống chúng ta.

I. TÌM HIỂU LOÀI KIẾN

1. Một loại côn trùng đặc biệt

Các nhà sinh học vừa khẳng định : kiến, loại côn trùng “cổ” nhất, thay đổi ít nhất trong quá trình tiến hóa và nhiều triệu năm sau vẫn tồn tại trên hành tinh này lại là một loài thường hay gặp nhất.

Kiến là loài con trùng sống hầu như ở khắp mọi nơi trên trái đất, trừ vùng băng giá và đại dương.

Kiến cũng có nhiều loại với nhiều mầu sắc khác nhau như kiến đen, kiến lửa, kiến càng, kiến gió… và mỗi loại có một lãnh thổ riêng, một phạm vi sinh sống riêng của mình.

Chúng sống thành bầy đàn, phân chia nhiệm vụ rõ ràng, có tôn tri trật tự, biết bảo vệ lẫn nhau và cũng đi xâm lăng, cướp bóc, bắt nô  lệ, chăn nuôi sâu bọ lấy “sữa”…

Số lượng loài kiến trong một tổ có thể từ vài chục cho đến hàng ngàn con… nhưng đứng đầu luôn là kiến chúa, còn lại hầu như là các nữ kiến thợ với những nhiệm vụ như tìm kiếm thức ăn, nuôi nấng kiến con và đánh nhau khi có chiến tranh. Có rất ít kiến đực và chúng chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn với phận sự duy nhất là giao phối với kiến Chúa để duy trì nòi giống, sau đó chết. Như vậy, có thể nói tổ kiến gồm toàn là các nữ kiến.

2. Cấu trúc xã hội loài kiến

Hầu hết mọi xã hội loài kiến được chia ra làm ba thành phần, đó là kiến chúa, kiến thợ và kiến đực. Sau khi giao phối với một trong những chàng kiến đực, kiến chúa bắt đầu làm tổ và chỉ đẻ trứng  trong suốt cuộc đời còn lại của mình… Kiến chúa không cai trị tổ kiến nhưng các kiến thợ  luôn mang thức ăn lại  nuôi  như chúng nuôi lẫn nhau. Có tổ chỉ có một kiến chúa nhưng có tổ lại có nhiều kiến chúa cùng lúc.

Ngoài nhiệm vụ chăm sóc và nuôi nấng kiến chúa, đàn kiến thợ còn có nhiệm vụ xây tổ, mở mang tổ rộng hơn, sửa chữa tổ khi bị hư hại, chăm sóc ấu trùng hay trứng kiến, tìm kiếm thức ăn và chiến đấu với kẻ thù. Một nữ kiến thợ có thể chỉ làm một công việc suốt đời, nhưng cũng có thể thay đổi từ việc này qua việc khác.

Trong tổ kiến, lười nhất là những chàng kiến đực, chẳng làm việc gì khác ngoài nhiệm vụ giao phối với nàng kiến chúa và có cuộc đời ngắn ngủi nhất. Nói cách khác, trong một bầy kiến, có tới 80% kiến tham gia  vào những việc như ta thường gọi là lao động công ích cho xã hội, chỉ có 20% còn lại là có thể tạm gọi là “lao động gián tiếp”, nói đúng ra chỉ rong chơi, ăn sẵn, chờ làm cái việc duy trì nòi giống.

Hình dáng kiến thợ to nhỏ khác nhau. Thường thì kiến lính to nhất, với đầu và hàm to nhất. Ở một số loài kiến, kiến lính chỉ có nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ. Nhưng ở số loài kiến khác, kiến lính chẳng có nhiệm vụ gì đặc biệt cả (theo Internet).

3. Đặc tính của loài kiến

Kiến là loài vật nhỏ bé, xinh xắn nhưng cần cù và chăm chỉ này có một cái gì đó rất giống với xã hội loài người của chúng ta, một xã hội chứa đựng trong đó biết bao nhiêu câu chuyện, biết bao nhiêu vấn đề phát sinh cần phải giải quyết. Có thể nói : xã hội loài kiến  chính là xã hội thu nhỏ của xã hội loài người. Chúng cũng có những ranh giới và những qui định riêng cần phải được tôn trong.

Nếu có dịp đọc tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài, một tác phẩm nổi tiếng và đầy chất nhân văn về xã hội loài vật : khi chú dế mèn với cương vị là sứ giả hòa bình đến thăm vương quốc loài kiến,  điều mà chú dễ dàng nhận thấy đó là loài kiến  cũng có những cấp bậc thứ tự khác nhau. Cao nhất là kiến chúa, rồi đến các loài kiến khác như kiến chỉ huy, kiến thợ…

Loài kiến muốn tồn tại và phát triển thì cần phải có sự đoàn kết và hợp tác bởi vì : “Hợp quần gây sức mạnh“.  Chúng ta hãy xem : một con sâu to thì một con kiến nhỏ bé như thế làm sao có thể khiêng về tổ được ? Vậy mà 100 con kiến có thể khiêng nổi con sâu mà đem về tổ đấy.

II. GƯƠNG LAO ĐỘNG CỦA LOÀI KIẾN

Những ngày ở bậc tiểu học, thập niên 50, mỗi học sinh đều phải thuộc lòng câu chuyện ngụ ngôn của La Fontaine về “Con ve và con kiến”. Chuyện kể là con ve chỉ thích ca hát suốt các ngày hè tươi đẹp, còn đàn kiến thì cần cù lo chuyên chở dự trữ lương thực và xây tổ đề phòng cho những ngày đông giá lạnh. Con ve thực sự tỉnh ngộ và cay đắng khi phải đến tổ kiến  để xin ăn và chỗ ở…

Chuyện này là một mô hình luân lý của tính khôn ngoan, ham làm việc và biết lo xa của đàn kiến so với những thói hư tật xấu của loài ve ham chơi.

Hoặc nếu có dịp đọc thơ ngụ ngôn của Esope, một thi sĩ cổ Hy Lạp, chúng ta cũng thấy có một bài thơ ngụ ngôn tương tự :

Vào một ngày mùa đông đẹp trời, vài con kiến đang bận việc sấy khô ngô đã bị uót  sau một trận mưa dài.  Lúc đó,  một con ve từ đâu bay tới xin kiến cho ít hạt ngô vì nó nói :

– Tôi sắp chết đói mất.

Lũ kiên ngưng làm việc một lúc mặc dù trái với qui định của chúng. Chúng nói :

– Chúng tôi có thể hỏi  : anh đã làm gì suốt cả mùa hè qua ? Tại sao anh không đi tìm thức ăn để dự trữ cho mùa đông ?

Ve trả lời :

– Tôi quá bận rộn với việc ca hát nên không có thời giờ nữa.

Lũ kiến trả lời :

– Nếu anh dùng mùa hè để hát thì không gì tốt hơn là hãy dùng mùa đông để nhảy múa.

Nói xong, chúng mỉm cười và lại tiếp tục công việc của mình.

Đọc xong hai câu truyện trên, bạn nghĩ gì về những chú kiến ? Chắc hẳn những từ ngữ  xuất hiện trong đầu bạn  là loài kiến luôn làm việc, siêng năng, cần mẫn. Đúng thế, kiến là biểu tượng cho sự làm việc không biết mỏi mệt, luôn làm hết sức mình. Như chúng ta biết, thân hình nhỏ bé là thế nhưng chú luôn cố gắng tha tất cả những gì kiếm được về tổ của mình, vì đó là công việc của chú, nhiều khi trọng lượng của con mồi gấp đến 50 lần cơ thể của chúng.

Còn một hình ảnh đẹp nữa của các chú kiến ấy : đó là đàn kiến. Chẳng bao giờ kiến đi làm việc riêng rẽ cả.  Chúng biết phân công rất tốt, cứ mỗi khi phát hiện ra con mồi, thức ăn, chúng sẽ cử ngay vài thành viên về báo tin, và sau đó, đàn đàn lũ lũ kiến  sẽ kéo đến cùng làm việc. Chính vì sự hợp tác làm việc rất tốt này  mà chúng ta sẽ thấy công việc của chúng hoàn thành thật mau lẹ.

Từ ngàn xưa các cụ đã có một lời khuyên rất khôn ngoan : “Tích cốc phòng cơ“, có nghĩa là  phải dự trữ lương thực phòng lúc đói kém, mất mùa.

Có người cho rằng :  người sống ở thành thị không có “cốc” thì lấy gì mà “tích” ?

Thực ra, câu này phải hiểu theo ý mở rộng một chút, không nên hiểu theo nghĩa hẹp là để dành lương thực khi có dư để gặp lúc giáp hạt như này xưa. “Tích cốc” ở đây nên hiểu là sự dành dụm tiền bạc để đầu tư cho tương lai, sự chuẩn bị về học vấn, nghề nghiệp để phòng lúc khó khăn, công ăn việc làm lúc thiếu thốn.

Câu tục ngữ này muốn cho hoàn chỉnh thì phải nói là : “Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn“, có nghĩa là tích trữ lương thực phòng khi đói kém, trữ quần áo phòng khi trời giá rét.

Con kiến là bài học cho chúng ta suy nghĩ để biết cách sống cho có hiệu quả tốt. Quá khứ đã qua đi, hiện tại còn đó, nhưng còn phải nghĩ đến tương lai vì tương lai lệ thuộc vào hiện tại theo nguyên lý nhân quả : “nguyên nhân tốt thì hậu quả tốt”.

Nếu con người không biết lo xa thì phải rước lấy hậu quả xấu như bài thơ ngụ ngôn “Con ve và con kiến”, đúng như lời các cụ xưa đã nói : “Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu” : người không biết lo xa, ắt phải buồn gần.

III. VÀI SUY NGHĨ  TỪ LOÀI KIẾN

1. Mọi người phải làm việc

Chúa Giêsu phán : “Cha Ta làm việc luôn, và Ta cũng làm như vậy” (Ga 5,17). Chính Chúa Giêsu đã khẳn định Ngài cũng phải làm việc như Cha Ngài.  Như vậy, lao động được coi như một việc thánh thiêng.

Do đó, chúng ta cũng phải khẳng định rằng lao động không phải là hình phạt của tội lỗi. Trước khi nguyên tổ loài người du nhập tội lỗi lịch sử vào thế giới, nhân loại đã có lao động rồi vì con người được Thiên Chúa dựng nên và đặt vào Vườn Đại đàng, không phải để ngồi chơi xơi nước, nhưng là để họ “trồng tỉa và coi sóc vườn” (St 2,15).

Trước sau, lao động đều có mục đích chính yếu là thăng hoa đời sống con người. Tuy nhiên, từ  giây phút con người đa mang tội lỗi, lao động vướng mắc và bao chứa  thêm hậu quả nặng nề của tội lỗi, đó là gian truân và đau khổ (x. St 3,16-19). Chính cái vướng mắc và bao chứa này khiến cho lao động chiếm đoạt thêm nhiều giá trị nhân bản và siêu nhiên.

Ta nhìn vào vũ trụ thì nhận thấy đây là bộ máy khổng lồ mà các bộ phận hoạt động không bao giờ ngừng, từ con người, thú vật, cây cối đến đất đá. Vì bao lâu các vật ngưng hoạt động thì lúc đó vũ trụ hết sức sống và không thể tồn tại được.

Loài kiến lao động thật cần cù, nhưng chỉ hành động theo bản năng, không làm theo ý thức và tự do. Ngược lại, con người được hành động trong ý thức và tự do, khiến cho lao động mang một ý nghĩa cao quí là theo gương Chúa và cộng tác với Chúa mà làm việc.

2. Lao động và nghỉ ngơi

Lao động phải có sự nghỉ ngơi. Theo sách Sáng thế, chúng ta thấy Thiên Chúa dụng nên trời đất trong sáu ngày và ngày thứ bảy Ngài nghỉ.  Sau này người Do thái đã giữ luật nghỉ ngày sabat rất ngặt (x. Xh 34,21). Sức con người có hạn, không thể làm việc kéo dài đến vô tận.  Một chiếc máy được dùng trong một thời gian cũng phải cho nghỉ  chứ không phải dùng mãi được. Chúng ta tưởng quả tim làm việc liên tục  ngày này qua ngày khác mà không nghỉ sao ?

Dale Carnegie cho biết : nhiều người tưởng quả tim làm việc không ngừng. Kỳ thực mỗi lúc bóp vào là nó nghỉ. Nếu đập đến 70 cái trong một phút thì trong 24 giờ, nó nghỉ đến 9 giờ, cộng chung các khoản nghỉ lại thì mỗi ngày nó nghỉ 15 giờ. Đó ! nhờ cách nghỉ lai rai như vậy  thì tim ít khi ngã lăn ra  đòi nghỉ dài hạn vì mệt ngất !

Sách Giảng viên cũng nói : “Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời : một thời để chào đời, một thời để lìa thế, một thời để trồng, một thời để nhổ cây” Gv 3,1-2)

Như vậy, con người chúng ta cũng có thời giờ để làm việc, cũng có thời giờ để nghỉ ngơi theo như chương trình Thiên Chúa đã an bài. Làm việc nhiều quá không tốt, nghỉ ngơi nhiều quá cũng không tốt, luôn phải ở mức trung bình, giờ nào việc ấy theo nguyên tắc thần học : “Virtus in medio stat” : nhân đức nằm ở chỗ trung dung, nghĩa là không thái quá, cũng không bất cập.

Mối tương quan giữa cầu nguyện và làm việc cũng vậy, phải ở mức trung dung, không phải cả ngày cứ cầu nguyện, cũng không phải cả ngày chỉ làm việc. Mỗi ngày phải có thời giờ làm việc, cũng phải có thời giờ nghỉ ngơi, thời giờ cầu nguyện. Nhưng trong thực tế, thời giờ làm việc nhiều khi lấn át thời giờ cầu nguyện, thậm chí có người cả một ngày không có lấy một phút để cầu nguyện.

3. Thần học về lao động

Nhiều người coi lao động là một hình phạt khổ sai, còn “thư nhàn” mới là đáng quí. Ngược lại, chúng ta chủ trương rằng : “Lao động là vinh quang”, sở dĩ chúng ta dám quả quyết như vậy là vì chúng ta được tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa.

Đọc chương đầu của sách Sáng thế, chúng thấy Thiên Chúa đã dựng nên con người “giống hình ảnh Ngài” (St 1,26). Các nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng loài người giống Thiên Chúa nhờ sự thông minh và tự do, giống Thiên Chúa ở điểm loài người có uy quyền bá chủ vạn vật : “Ta hãy dựng nên con người giống hình ảnh Ta để họ làm chủ cá biển, chim trời, muôn thú vật trên đất và mọi côn trùng sống động trên địa cầu”: (St 1,26). Như vậy, theo nghĩa chung, lao động tinh thần hay vật chất đều mang ý nghĩa trọng đại là “cộng tác vào việc sáng tạo của Thiên Chúa”.

E. Krebs đã không ngần ngại tuyên bố : “Khái niệm căn bản về giá trị tuyệt đối của tất cả hoạt động nhân sinh đã được phú ban cho loài người nhờ lòng tin vào Thiên Chúa sáng tạo.  Ngài là Đấng tự do và khôn ngoan, sau khi dựng nên loài người đã nghỉ ngơi ngày thứ bảy để giao phó cho họ tiếp tục thực hiện chương trình sáng tạo của Ngài có từ đời đời ” (Le Travail, Paris, 1933, tr 350).

Mọi sự trên thế gian này là của Chúa nhưng Ngài muốn cho con người quản trị, đổi mới và làm cho phong phú thêm. Chúng ta có thể nói Thiên Chúa là nguyên nhân đệ nhất, còn chúng ta là nguyên nhân đệ nhị của vũ trụ.  Ngay sự quan phòng hằng ngày cũng là một cuộc sáng tạo không ngừng. Chúng ta là nguyên nhân đệ nhị  và chỉ có thể góp phần vào với nguyên nhân đệ nhất.

Chính công đồngVatican2 cũng xác quyết : làm việc là góp phần vào việc sáng tạo và hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong lịch sử :

Thực vậy, trong khi mưu sinh cho mình và cho gia đình, tất cả những người nam cũng như nữ hoạt động để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu đều có lý do để tin rằng nhờ lao công của mình họ tiếp nối công trình của Tạo hóa, phụng sự anh em, đóng góp công lao mình vào việc hoàn thành ý định của Thiên Chúa trong lịch sử” (Gaudium et spes).

Chúng ta hãy phó thác mọi công việc cho Chúa trong năm mới này. Hãy nỗ lực làm việc không ngừng.  Nhưng muốn cho mọi công việc lao động của ta có ý nghĩa hơn, ta hãy làm với tinh thần vui tươi, với ý thức rằng ta làm việc  để cho Chúa hài lòng, để danh Chúa được cả sáng và Nước Chúa trị đến  nơi ta đang làm việc.

Truyện : Ba người thợ xây thánh đường

Một nhà văn Pháp có kể chuyện ba anh đẽo đá, đại khái như sau :

Hôm nọ, có người khách đến viếng ngôi thánh đường vừa khởi công. Ba người thợ đang làm đá. Người khách hỏi một người :

– Anh làm gì đó ?

Người thứ nhất trả lời với giọng uể oải :

– Tôi đang dũa đá, thật khốn cho cái đôi tay chai đít phỗng của tôi.

Người thứ hai lễ độ hơn, trả lời :

– Tôi đang kiếm tiền nuôi vợ con tôi.

Còn người thứ ba hiên ngang trả lời :

– Còn tôi, tôi đang xây ngôi thánh đường…

Và người ấy rang rang cất tiếng hát.

 Lm Giuse Đinh Lập Liễm

Comments are closed.