Canh tân tinh thần Tu trì

0

CANH TÂN TINH THẦN TU TRÌ

Nhìn lại bàn tay Chúa qua 4 năm số 4

(Bài giảng khai mạc tuần tĩnh tâm của Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam năm 2014)

Chắc là khỏi cần giải thích dài dòng tựa đề của bài suy niệm về “canh tân tinh thần tu trì”. Canh tân có nghĩa là đổi mới; nhưng “đổi mới” như thế nào là một chuyện khác. Chắc hẳn khi nêu lên đề tài này, ban tổ chức tuần tĩnh tâm nghĩ đến lời kêu gọi của Bề trên tổng quyền chuẩn bị kỷ niệm 800 châu phê hiến pháp Dòng vào năm 2016. Thiết tưởng chúng ta cũng đừng quên “Năm Đời sống thánh hiến” mà Đức Thánh cha Phanxicô sắp khai mạc vào tháng 11 năm nay,  nhân dịp kỷ niệm 50 năm bế mạc công đồng Vaticanô II. Chưa hết, năm tới chúng ta sẽ có tỉnh hội. Toàn là những cơ hội tốt để chúng ta kiểm điểm đời sống, đối chiếu giữa lý tưởng và thực tại, để rồi từ đó sửa chữa những sai sót và cố gắng cải thiện và đổi mới. Vài câu hỏi đương nhiên được đặt ra:

Lấy gì làm tiêu chuẩn để kiểm điểm? Câu hỏi này không khó trả lời: có bản hiến pháp đó, có các công vụ tổng hội và tỉnh hội đó, có các văn kiện Toà Thánh đó (đặc biệt là tông huấn Evangelii gaudium).

– Câu hỏi tiếp theo có lẽ khó trả lời hơn: canh tân như thế nào? Biết bao lần, chúng ta đề ra chương trình, nghị quyết, nhưng rồi đâu vẫn hoàn đấy! Điều này đã quá rõ, chẳng cần phải giấu diếm gì hết. Thế nhưng phải chăng vì thế đừng nói đến canh tân nữa để khỏi hổ thẹn với lương tâm?

Đó là những câu hỏi nảy ra trong đầu, khi tôi được cha Phụ tá Giám tỉnh mời dọn bài thuyết trình. May thay, nhờ Chúa soi sáng, tôi thấy cần tìm câu trả lời một cách khác, đó là hãy nghĩ đến tác nhân của sự đổi mới: ai sẽ đổi mới? Thường thì chúng ta nghĩ rằng chính chúng ta – cá nhân cũng như cộng đoàn- phải canh tân đổi mới cuộc sống. Tuy nhiên, thực tế đã chứng tỏ cho thấy sự bất lực của chúng ta, có thể vì yếu đuối có thể vì cố chấp, nhưng tựu trung tại vì chúng ta tưởng rằng tất cả tuỳ thuộc vào khả năng của mình, và quên rằng chính Thần khí Chúa mới có sức đổi mới, như phụng vụ vẫn cầu xin: “Lạy Chúa, xin cử Thần khí tác tạo vạn vật, và Người sẽ đổi mới mặt đất này” (Emitte Spiritum tuum et creabuntur, et renovabis faciem terrae).

Vì thế, thay vì bực bội vì những thiếu sót kinh niên của chúng ta, bài thuyết trình này muốn đổi hướng: chúng ta hãy chúc tụng Thiên Chúa vì những điều mới lạ mà Ngài đã thực hiện cho chúng ta. Chúng ta hãy nhìn về phía Chúa hơn là về phía chúng ta. Hôm lễ an táng anh Hanh, chúng ta đã được nghe đọc câu thánh vịnh “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại”. Tôi muốn cùng anh em nhìn lại biết bao điều vĩ đại mà Chúa đã làm cho tỉnh dòng Đa Minh Việt Nam, những việc canh tân ngoài sức tưởng tượng của chúng ta, thậm chí trái ngược với sự tính toán của chúng ta. Tôi muốn cùng với anh em đọc lại bốn biến cố xảy ra vào những năm mang số 4 trong thế kỷ vừa rồi: một, 1954 (cuộc di cư); hai, 1964 (chiến tranh leo thang); ba, 1974 (sát với cuộc giải phóng 1975): bốn, 1994 (bãi bỏ lệnh cấm vận). Lẽ ra phải thêm năm 1934 nữa, năm mở tập viện tại Quần phương, khởi đầu một giai đoạn mới trong lịch sử dòng Đa Minh VN, nhưng xin miễn đi sâu vào vấn đề.

Chúng ta bắt đầu với biến cố 1954, cách đây 60 năm

I. 20/7/1954: hiệp định Geneve

Hồi đầu tháng 5 vừa rồi, nhiều cuộc mít tinh được tổ chức để kỷ niệm 60 năm Điện Biên Phủ. Cuộc chiến thắng này đã đưa đến hiệp định Geneve ký ngày 20/7, chia đôi đất nước thành hai miền Bắc Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới (mới kỷ niệm 60 năm ngày hôm qua).  Đây là một biến cố đau xót vì đất nước bị phân đôi Nam và Bắc dẫn dến những nội chiến sau này. Tuy nhiên, dưới một lăng kính khác, đây là một cuộc đổi mới rất quan trọng trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam (như tôi đã có dịp trình bày trong một bài thuyết trình cách đây hai năm về việc loan báo tin mừng cách mới mẻ). Chúng ta hãy đọc lại biến cố này về phía Giáo hội Việt Nam nói chung và về phía dòng Đa Minh nói riêng.

A. Năm 1954: một cuộc loan báo Tin mừng mới mẻ ở Việt Nam

Vào năm 1954, Giáo hội VN có 16 giáo phận với số giáo dân khỏang 1.900.000. Dựa theo sách Việt Nam giáo sử của cha Bùi đức Sinh [1], trước cuộc di cư, từ vĩ tuyến 17 ra Bắc, số giáo dân Công giáo  khỏang 1.380.000 người; từ vĩ tuyến 17 trở vào khỏang 520.000 người. Sau cuộc di cư, số giáo dân miền Bắc chỉ còn khỏang 730.000, ở miền Nam tăng lên khỏang 1.170.000. Như vậy, cuộc di cư đã làm đảo lộn tỷ lệ dân số công giáo: trước di cư thì 71,4% ở Bắc, sau di cư  thì 77,7% ở Nam. Dĩ nhiên là nếu con số giáo dân ở miền Nam tăng, thì miền Bắc bị giảm. Cũng như tất cả mọi biến cố trên đời này, cuộc di cư năm 1954 có những mặt phải và mặt trái của nó. Chúng ta hãy thử nêu ra vài điểm của mặt phải thôi.

1. Tại miền Bắc, các thừa sai ngoại quốc bị trục xuất. Vì thế Tòa thánh bắt đầu phải “Việt Nam hóa” hàng giáo phẩm. Nên biết là cho đến năm 1954, các giáo phận Thái Bình, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Hưng Hóa vẫn do các giám mục Pháp và Tây-ban-nha điều khiển (Đi lùi lại một chút: Hà Nội và Bắc Ninh mãi đến năm 1950, Vinh năm 1951, Hải Phòng cho đến năm 1953 mới có giám mục người Việt). Đến năm 1960 thì toàn thể giáo tỉnh Hà-nội đều do các giám mục VN cai quản.

2. Tại miền Nam, sự hình thành các giáo phận: Long xuyên, Đà-lạt, Mỹ Tho, Xuân Lộc, Phú Cường, Phan Thiết, Bà Rịa,  đa số gồm bởi những giáo xứ di cư. Nên biết là cho đến năm 1954, tòan thể Nam kỳ (Cochinchine, bao trùm địa bàn của giáo tỉnh Saigon hiện nay) chỉ có 2 giáo phận rưỡi: Sai \gon (chạy tới Đà Lạt, Tây Ninh, xuống Bà-rịa Vũng Tàu), Vĩnh Long, Nam Vang bao gồm một phần đất của Cao-miên (Vì thế mà nói rằng “rưỡi”, bởi vì mãi đến năm 1955, phần lãnh thổ Việt Nam mới được tách ra làm địa phận Cần Thơ).

B. Dòng Đa Minh

Nếu cuộc di cư 1954 đã được Chúa an bài để trở thành một cuộc “loan báo Tin mừng mới mẻ” của Hội thánh Việt Nam, thì nhận định này cần phải nhân đôi lên khi bàn về Dòng Đa Minh.

Như  mọi người đã biết, suốt gần ba thế kỷ, địa bàn hoạt động của dòng là các địa phận Đông Đàng ngoài. Năm 1954, khi các dòng tu phải bỏ hết các cơ sở ở miền Bắc để xuống miền Nam, thì dòng Đa Minh cần được liệt vào những đơn vị bết nhất, theo nghĩa là các dòng khác (Phansinh, Chúa Cứu thế, Lasan) đã có cơ sở ở miền Nam, nên khi các anh em từ miền Bắc vào thì đã có nơi dừng chân. Dòng Đa Minh tuyệt nhiên không có một cơ sở nào ở miền Nam hết. Cuộc di cư được coi như một cuộc xuất hành, đi về miền đất hoàn toàn xa lạ, với hai bàn tay trắng.

Thế nhưng, “việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại”: thật là một cuộc đổi mới đối với Dòng Đa Minh. Trong tông huấn Evangelii gaudium (số 20), ĐTC Phanxicô đã định nghĩa một đặc điểm của Hội thánh là “ra đi”, là “lên đường”. Nhiều bản công vụ của Dòng hoặc tỉnh dòng cũng nói đến “đi đến những biên cương mới”, “để cho Lời Chúa được vang xa”, nhưng đó thường chỉ là các khẩu hiệu tuyên truyền, bởi vì trên thực tế ai cũng muốn dậm chân tại chỗ.

Cuộc di cư năm 1954 đã tạo cơ hội cho Dòng Đa Minh “lên đường”, tiến về phương trời xa lạ, để cho Lời Chúa vang xa. Sáu mươi năm sau, chúng ta thử nhìn lại vài hệ luận của nó.

1/ Dòng Đa Minh được Việt-nam-hoá.

Tính đến năm 1954, các tu sĩ Việt Nam lớp đầu tiên chỉ mới lãnh áo dòng được 20 năm (năm 1934), và không có gì khó hiểu nếu người Việt chưa được trao chức vụ lãnh đạo.  Thời ấy, người Việt giữ chức vụ cao nhất là bề trên tu viện thánh Tôma Nam Định (cha Hoàng Mạnh Hiền) và giám đốc trường đệ tử Nam Định (cha Bùi Hiền Triết).

Thế nhưng, từ sau cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ, các cha Tây Ban Nha đã nhận được lệnh rút khỏi Việt Nam, và bắt buộc các cha người Việt phải đảm nhận trách nhiệm. Thực ra, ở đây “đảm nhận  trách nhiệm” không hiểu là đứng đầu các tu viện nữa (bởi vì đã phải bỏ lại để đi vào Nam), nhưng là lãnh đạo các đoàn giáo dân di cư. Chúng ta phải khâm phục các bậc đàn anh của chúng ta. Như vừa nói, lúc ấy lớp niên trưởng chỉ mới được 19 tuổi khấn dòng, 11 tuổi linh mục, tuổi đời xấp xỉ 40 (đó là lớp niên trưởng, còn các lớp đàn em thì còn trẻ hơn nữa). Thế mà họ đã đưa cả đoàn dân đi vào Nam, chia sẻ nếp sống bấp bênh với các bổn đạo, giúp cho họ được an cư lạc nghiệp. Thật là đáng phục!

2/ Dòng Đa Minh bắt đầu sống đời Đa Minh

Câu nói xem ra nghịch lý. Nhưng nếu nhìn lại lịch sử 300 năm hiện diện tại đất Bắc, phải nói rằng anh em không có kinh nghiệm gì về nếp sống cộng đoàn. Các cha dòng thời ấy đều sống tại các giáo xứ. Phải chờ đến khi mở nhà Tập tại Quần Phương năm 1934, người ta mới biết thế nào là tu viện. Nhưng  tu viện này chỉ là nơi đào tạo. Sau khi ra trường, anh em tiếp tục được gửi đi phục vụ các giáo xứ.

Tình hình thay đổi từ khi di cư vào Nam. Như vừa nói, một số lớn các cha đã dẫn giáo xứ vào miền Nam và tiếp tục giúp tổ chức lại đời sống. Nhưng đồng thời, một số tu xá và tu viện lần lần được thiết lập tại Đà Lạt, Vũng Tàu, Gò Vấp, Phú Nhuận, vv. Đây là những bước chuẩn bị tiến tới việc thành lập tỉnh dòng Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo. Thật lạ lùng! Trong vòng hơn 300 năm ở miền Bắc, không ai nghĩ đến việc lập tỉnh dòng. Khi vào miền Nam, một vùng đất mới mẻ xa lạ, tỉnh dòng dần dần được thành hình.

Tuy nhiên, thiết tưởng cũng nên nêu lên vài giới hạn của giai đoạn này. Tiếp nối truyền thống đã có từ miền Bắc, hầu hết các cha hướng về hoạt động tại các nhà xứ, gây ra nhiều thành kiến bất lợi. Cho đến gần đây, nhiều người mới gặp tôi, sau khi được nghe giới thiệu là thuộc dòng Đa Minh, họ liền hỏi lập tức: Đa Minh Phi Luật Tân hay Đa Minh Lyon vậy? Đa Minh Phi Luật Tân có nghĩa là Đa Minh coi xứ, còn Đa Minh Lyon mới là trí thức. Để củng cố thêm cho thành kiến vừa nói, tôi xin trưng ra một sự kiện. Ở ngoài Bắc, các cha dòng Đa Minh đã điều khiển Giáo hoàng chủng viện thánh Albertô Nam Định, nơi đào tạo linh mục cho tất cả các chủng sinh thuộc các địa phận dòng. Năm 1954, chủng viện di cư sang Hong Kong, rồi năm 1958, trở về Phú Nhuận, và bị giải tán năm 1962, khi các chủng sinh được lệnh gia nhập vào các địa phận miền Nam, chứ không còn nhập tịch vào các địa phận ở Bắc nữa. Điều trớ trêu là cũng vào thời điểm ấy, các giám mục Việt Nam thiết lập giáo hoàng chủng viện Piô X và giao cho Dòng Tên điều khiển, chứ không giao cho dòng Đa Minh, có lẽ bởi vì không tin tưởng lắm vào trình độ trí thức của anh em ta.

Tôi sợ rằng bài học ấy sẽ còn tái diễn. Tuần trước, tôi mới đi họp khoá thường huấn các giáo sư chủng viện tại Đà lạt. Tôi thấy các chủng viện và học viện có nhiều cha trẻ mới du học về, và giữ chức vụ giảng huấn. Còn tình hình ban giảng huấn của dòng Đa Minh không có gì lạc quan cho lắm, trong khi các giám mục và các dòng tu đặt nhiều kỳ vọng nơi chúng ta. Tôi chuyển qua dấu mốc thứ hai: 1964.

II.  Năm 1964. Chiến tranh Việt Nam leo thang

Nhiều người cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam đã bắt đầu từ năm 1960 với việc thành lập Mặt trận giải phóng miền Nam. Nhưng tôi xin lấy mốc là năm 1964, bởi vì đánh dấu việc Hoa kỳ đưa quân ồ ạt vào Việt Nam, tiếp theo cuộc tấn công của Bắc Việt vào chiến hạm Hoa Kỳ vào những ngày 2 và 4 tháng 8 năm 1964. (Xin mở dấu ngoặc: sau này, nhiều nguồn tin nói rằng cuộc tấn công của Bắc Việt vào chiến hạm Hoa kỳ là chuyện bịa đặt. Xin đóng dấu ngoặc).

Thế nhưng giai đoạn này đã để lại dấu ấn quan trọng nhất trong lịch sử của dòng Đa Minh Việt Nam, với việc thành lập tỉnh dòng vào ngày 18 tháng 3 năm 1967.

Chúng ta hãy bắt đầu từ tháng 8 năm 1964, nghĩa là chuyện cách đây 50 năm. Trong khi cuộc chiến tại Việt Nam bắt đầu leo thang, thì một giai đoạn mới của dòng được khai trương. Vào ngày 14 tháng 8, cha Nguyễn Văn Liêm tuyên thệ nhậm chức bề trên phụ tỉnh (kế tiếp cha Nguyễn Tri An, mãn hai nhiệm kỳ). Cha Liêm sẽ là người đẩy mạnh tiến trình thành lập tỉnh dòng.

Ngày 15 tháng 8, Tập viện mở cửa lại ở Vũng Tàu, sau 3 năm gián đoạn, với lễ trao áo dòng cho lớp đệ tử đầu tiên vào dòng ở miền Nam. Từ đó, số người khấn dòng được duy trì liên tục.

Đây cũng là thời kỳ bế mạc công đồng Vaticanô II. Tuy nhiên, do những điều kiện chính trị ở miền Nam thời ấy, chúng ta ít để ý đến biến cố của công đồng. Nói đến tình hình chính trị, chúng ta không chỉ nghĩ đến chiến tranh như sẽ nói sau đây, nhưng còn bao gồm những cuộc biểu tình và đảo chính liên miên, tiếp thêo cuộc đảo chính ngày 1-11-1963, lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, một chính phủ Công giáo, đưa đến những cuộc đụng độ giữa Công giáo và Phật giáo, kéo dài nhiều năm.

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam (1964-1975) đã có ảnh hưởng gì đến đời sống tu trì của anh em? Theo tôi nghĩ, một hậu quả còn kéo dài đến ngày hôm nay là tính bất ổn. Chúng ta không quen thảo ra những kế hoạch dài hạn (5 năm hoặc 10 năm), bởi vì nếu  chưa biết được ngày mai sẽ ra sao, thì làm thế nào lường được chuyện gì sẽ xảy ra vào năm tới hay 5 năm nữa? Chúng ta không chỉ sợ rằng các cơ sở sẽ bị phá huỷ vì bom đạn do những cuộc giao tranh (như đã xảy ra ở Đồng Xoài) mà còn sợ rằng nhân sự của chúng ta sẽ bị tan rã (các sinh viên sống nơm nớp vì có thể bị kêu gọi nhập ngũ bất cứ lúc nào).

Bất chấp những hạn chế ấy, tỉnh dòng Nữ vương các thánh tử đạo đã được thành lập, tỉnh dòng đầu tiên ở châu Á, trước cả tỉnh dòng Philippin (năm 1971). “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại

III. Biến cố 1975

Năm tới sẽ đánh dấu 40 năm ngày đất nước thống nhất. Nó tận cùng bằng số 5, nhưng xin phép trừ 1 để ăn khớp với những  năm mang số 4 trong chuỗi những việc canh tân đời sống Đa Minh.

Cũng tương tự như ngày 20-7-1954, ngày 30-4-1975 được nhiều người theo Việt Nam Cộng hòa coi là ngày mất nước.  Nhưng chúng ta hãy cố gắng khám phá ra bàn tay của Thiên Chúa, vì những biên cương mới được mở ra cho tỉnh dòng.

A. Những biên cương mới

1/ Biến cố 30-4 đã làm giảm sụt sĩ số của tỉnh dòng: một đàng bởi vì khó thâu nhận ơn gọi mới, đàng khác bởi vì một số ra đi. Ở đây, “ra đi” không chỉ hiểu là hồi tục mà còn  là rời bỏ quê hương. Thế nhưng, cuộc “di cư” (hay là “vượt biên”) lần này đã tạo ra một vùng hoạt động mới cho tỉnh dòng, đó là phụ tỉnh ở Calgary bên Canada. Tại sao lại chọn vùng đất xa xôi lạnh lẽo ấy? Nói được là ngẫu nhiên. Cha Phạm Văn Bảo rời Philippin sang Canada, tại đây cha quen giám mục Calgary, và vị giám mục này đã giao cho cha Bảo phụ trách một giáo xứ: cha Bảo giới thiệu anh em mình sang giáo phận Calgary. Có thế thôi.

Thiết tưởng đừng nên quên rằng hầu hết những anh em vượt biên đều được tiếp đón vào Hoa Kỳ. Năm 1975, Bề trên Tổng quyền Vincent de Couesnongle muốn cho anh em trở về hoạt động ở châu Á, nhưng anh em không chấp nhận. Anh em muốn thiết lập cơ sở tại Hoa Kỳ, để gần gũi với đồng bào của mình. Tương quan giữa anh em với Trung ương Dòng khá căng thẳng, mặc dù lúc ấy cha Nguyên Công Lý đang làm phụ tá miền châu Á-Thái bình dương. Sau nhiều năm “tranh đấu” (từ ngữ này không phải là quá đáng), phụ tỉnh Việt Nam được thành lập tại Calgary, với một sắc thái riêng, đó là dành cho những anh em Việt Nam tị nạn. Anh em nói tiếng Việt, ăn cơm Việt trên miền đất khách quê người, chứ chưa nghĩ đến việc hội nhập vào văn hoá địa phương, để xây dựng Dòng cho người địa phương. Tình trạng này vẫn kéo dài cho tới hôm nay. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này ngay dưới đây.

2/ Một đợt sóng ra đi tương tự cũng diễn ra ở Việt Nam, hầu như bất đắc di, khi Nhà Nước tịch thu các tu viện Thủ Đức, Vũng Tàu. Anh em ta có dịp phân tán mỏng vào những cộng đoàn nhỏ, và đi về những vùng kinh tế mới (tựa như ở Suối Bí). Chúng ta cũng bó buộc dấn thân vào nhiều hình thức tông đồ mới mà có lẽ trước đó ít nghĩ đến. Đừng kể các chuyện trồng trọt chăn nuôi, tôi nghĩ đây là thời gian mà anh em dịch thuật viết lách nhiều hơn cả, khi mà việc đi lại bị hạn chế.

B. Sự cô lập

Chúng ta vừa nói đến việc mở rộng biên cương, tới những chân trời mới. Bây giờ chúng ta theo dõi một chuyển động ngược lại, nghĩa là khép kín. Sau ngày 30-4-1975, Việt Nam bị cô lập khỏi thế giới, một phần do lệnh cấm vận từ bên ngoài, một phần cũng do chủ trương đóng cửa biên giới từ bên trong. Cụ thể, về phía tôn giáo, liên lạc giữa Việt Nam với Toà thánh bị cắt đứt. Toà Thánh đã uỷ cho Đức Tổng giám mục Saigon rất nhiều quyền, tương đương với một Bộ trưởng ở giáo triều. Bề trên tổng quyền cũng đặt Giám tỉnh làm Đại diện tổng quyền với mọi quyền hành tương đương, chỉ trừ việc phê chuẩn Giám tỉnh mới. Dù sao, do tình hình bế quan toả cảng này, tỉnh dòng không cảm thấy liên đới với sinh hoạt của Dòng. Mình lo bảo vệ tỉnh dòng của mình, chứ không nghĩ tới tương lai của Dòng trên khắp thế giới. Một phần vì kém sinh ngữ, một phần vì ít giao dịch, cho nên mặc dù hiện nay chúng ta có nhiều ơn gọi, nhưng ít người muốn rời quê cha đất tổ để phục vụ ở các nơi khác. Người ta gọi là não trạng cố thủ khép kín, thay vì cởi mở dấn thân.

C. Lối tu mới

Vừa rồi, tôi nói sơ qua ảnh hưởng của biến cố 30-4-75 đối với tương quan đối ngoại của tỉnh dòng, bây giờ chúng ta thử kể vài ảnh hưởng đến nếp sống tu trì.

Khỏi nói ai cũng đã biết những  hạn chế của chế độ này đối với quyền tự do thực hành tôn giáo. Nhưng có lẽ còn nhiều ảnh hưởng tiêu cực khác đối với đời sống tu trì và chúng ta không nên bỏ qua.

1. Áo dòng không còn là biểu hiệu của đời sống tận hiến nữa. Trước đây, chúng ta mặc áo dòng không những khi vào nhà nguyện mà còn khi đi học và đi ăn. Mỗi khi ra ngoài đường, ít nhất là chúng ta mặc áo chùng thâm (Ai đi ra ngoài mà không mặc áo dòng thì dễ bị nghi ngờ là người ấy muốn đi tới chỗ không nên đặt chân đến). Ngày nay, mặc áo dòng là luật trừ, còn luật chung là không mặc áo dòng, (kể cả khi chúng ta tham dự một bài giảng tĩnh tâm như hôm nay). Nói cách khác, những biểu hiệu tôn giáo giảm bớt, dễ dẫn đến não trạng tục hoá.

2. Dòng Đa Minh lấy khẩu hiệu là chân lý. Nhưng dưới chế độ mới, chân lý là điều khó thực hiện hơn cả. Nhiều việc phải làm chui, chứ không thể làm công khai (tu chui, chịu chức chui, in sách chui). Nếu ai có bị  điều tra, thì cứ nói quanh co ỡm ờ chứ chẳng dại gì mà  khai hết sự thật. Về lâu về dài, sinh ra tật nói quanh nói co, chứ ít khi nói thẳng nói thật.

3. Xã hội chủ nghĩa đã phát sinh một hệ quả trái ngược, đó là phát triển cá nhân chủ nghĩa. Xin phép lý giải như thế này. Trong xã hội chủ nghĩa, mọi chính sách đã được quyết định từ trên cao, không có sự tham gia của nhân dân. Nhân dân chỉ có nghĩa vụ tuân hành mà thôi, chứ không được phép góp ý, lại càng không được phép nghĩ ngược lại. Từ đó, nảy sinh ra thái độ bất hợp tác (vì người ta đâu có cho mình tham gia hợp tác), thụ động (việc Nhà Nước thì để cho Đảng lo). Để yên thân, mỗi người lo công việc riêng của mình, với hệ quả là “cha chung không ai khóc”. Từ đó, chúng ta không tham gia với chính quyền đã vậy, mà vô tình chúng ta cũng thờ ơ đối với các công việc chung ở trong Giáo hội hay trong Dòng. Văn hoá Việt Nam đã quen với đường lối gia trưởng, bây giờ được tăng cường thêm với đường lối bao cấp, khiến cho ít người hứng thú đảm nhận công việc chung. Khái niệm “ích chung” (công ích) không được quý trọng lắm. Chúng ta thích làm việc riêng, hoặc nhận lời mời cộng tác của ai đó, chứ chưa có một công việc mục vụ nào là chung của dòng Đa Minh.

Nếu xét 3 lần khấn dòng, thì có lẽ chế độ xã hội giúp chúng ta thực hành tốt đức vâng lời (vì đã quen tuân hành chỉ thị cấp trên), đức khiết tịnh (bởi vì đi đâu cũng có người theo dõi), nhưng có nguy cơ thúc đẩy chúng ta lỗi lời khấn khó nghèo: chúng ta nhiệt tình lo cho  túi riêng hơn là quỹ chung.

IV. 1994 : Thời mở cửa

Chính sách đổi mới đã bắt đầu từ Đại hội đảng 1986, nhưng xin được chuyển mốc sang năm 1994, cho tiện việc tưởng nhớ 20 năm. Ngày 3-2-1994 Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận. Việc thông thương với nước ngoài trở nên dễ dãi hơn.

A. Những biên cương mới

Trong bối cảnh mới, tôi muốn anh em hãy cùng nhau dâng lời chúc tụng Chúa vì hai việc vĩ đại Thiên Chúa làm cho tỉnh dòng.

1/ Điều thứ nhất là con số ơn gọi tăng lên từ từ, nếu chưa nói là tăng vọt. Để hiểu rõ vấn đề, thiết tưởng không nên chỉ đối chiếu với các nơi khác trên thế giới đang gặp khủng hoảng ơn gọi, nhưng cũng nên nghĩ lại dân số của tỉnh dòng vào thập niên 80. Ở Rôma cũng như ở Canada, người ta nghĩ rằng tỉnh dòng sắp tàn vì không có ai vào tập viện nữa (từ năm 1976 đến 1989 chỉ có 13 anh khấn dòng, trung bình mỗi năm 1 người; trên thực tế, không có ai khấn dòng vào những năm 77; 78; 81; 85; 87). Thế nhưng thế cờ đã lật ngược kể từ năm 1993 trở đi. Con số ơn gọi gia tăng về số lượng cũng như về địa lý, theo nghĩa là chúng ta có những ơn gọi đến từ những miền ở bên trên vĩ tuyến 17: Nghệ An, Phát Diệm, Bùi Chu, Bắc Ninh, vv…

2/ Điều thứ hai là địa bàn hoạt động cũng được mở rộng. Trong sắc lệnh thành lập tỉnh dòng Nữ vương các thánh tử đạo ngày 18-3-1967, điều 2 nói rằng: lãnh thổ của tỉnh dòng bao trùm toàn thể nước Việt Nam. Trên thực tế, hoạt động của tỉnh dòng bị giới hạn cho đến vĩ tuyến 17, nếu không nói là thấp hơn nữa (nghĩa là từ Đà Lạt trở xuống). Vào năm 1975, tuy nước nhà đã thống nhất nhưng biên cương hoạt động cũng chẳng mở rộng thêm. Phải chờ thêm 20 năm nữa, thì mới thêm sự hiện diện ở miền Trung và miền Bắc. “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại”, bởi vì chính Chúa mở cửa cho ta.

B. Thời hậu cộng sản

Chúng ta không muốn tìm hiểu vì lý do gì mà chính quyền chủ trương đổi mới. Dù sao đi nữa, chủ nghĩa cộng sản tinh ròng không còn nữa. Bên châu Âu, chế độ cộng sản đã sụp. Ở một số nước khác, nhãn hiệu cộng sản chỉ còn là cái vỏ, chứ không còn duy trì lý tưởng tranh đấu như xưa. Còn đâu lý tưởng phục vụ dân nghèo, thành phần bần cố nông? Còn ai mơ thiết lập nền chuyên chính vô sản? Mục tiêu bây giờ là kiếm tiền thôi, thật nhiều tiền.

Thời mở cửa “hậu cộng sản” ra thế giới bên ngoài trùng với thời điểm “toàn cầu hoá”, hoặc “hậu hiện đại” , cũng như  với thời đại bùng nổ công nghệ thông tin. Những từ ngữ này muốn lên điều gì? Đại khái có thể mô tả vài nét như sau

1. Thời hiện đại được coi là thời của lý trí và khoa học thực nghiệm. Người ta tin rằng khoa học sẽ mang lại hạnh phúc cho con người. Nhưng những cuộc chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh giữa các ý thức hệ, nạn ô nhiễm môi trường khiến người ta đâm ra nghi ngờ các học thuyết và các lời hứa hẹn tuyên truyền của các đảng phái. Vì thế họ quay về với  cảm nghiệm cá nhân, tìm cái gì mang lại sự thoả mãn hiện tại. Con người “hậu hiện đại” ưa cái gì thực dụng, kết quả ngay trước mắt, chứ không thích những lý luận trừu tượng xa vời. Người ta không quan tâm đến câu hỏi: điều này đúng hay sai? chân lý ở đâu? Họ muốn biết: cái này có ích lợi gì không? Điều này giải thích lý do vì sao các linh mục và tu sĩ thích lao vào các hoạt động, hơn là trụ một chỗ để chiêm niệm và học hành. Mặt khác chúng ta đang sống trong thời buổi mà mọi sự thay đổi nhanh chóng, khiến cho người ta muốn chạy theo thời trang, tìm cái gì nổi nang, hơn là kiên trì đi tìm cái gì lâu bền.

2. Dù nói gì đi nữa, ngày nay đời sống kinh tế đã tăng trưởng rất nhiều, so với 20 năm trước đây. Hình như để bù lại thời kỳ khó khăn, bây giờ người ta tìm cách hưởng thụ. Trong bối cảnh ấy, các lễ hội tiệc tùng được tổ chức khá thường xuyên. Các từ ngữ “hy sinh, hãm mình, khổ chế” xem ra đã bị loại bỏ ra khỏi ngôn ngữ hằng ngày. Người ta không còn sợ bệnh suy dinh dưỡng nữa, nhưng chỉ lo bệnh béo phì, áp huyết cao.

3. Tôi vừa mới đi dự khoá bồi dưỡng các giáo sư chủng viện về hiện tượng “thế tục hoá” ở Đà Lạt. Thuật ngữ này mang nhiều nghĩa lắm. Trong tông huấn “Niềm vui Tin mừng”, ĐTC đã mô tả nó như là não trạng tương đối, chiều theo sở thích cá nhân hơn là quy hướng về những tiêu chuẩn khách quan của luân lý (số 64). Mặt khác ngài cũng nói tới sự “tục hoá thiêng liêng”, khi người ta coi Giáo hội như một tổ chức trần thế chứ không còn chiều kích siêu việt, khi đi tìm kiếm vinh danh và thoả mãn bản thân chứ không phải là vinh quang Thiên Chúa, khi thích phô trương dưới vẻ hào nhoáng của lợi lộc xã hội, háo danh, tìm thành tích hoạt động (số 93-97). Những thực tại ấy hẳn không còn xa lạ gì đối với chúng ta nữa.

Kết luận

Đã đến lúc phải kết luận bài nói chuyện. Như anh em đã thấy, tôi áp dụng phương pháp quy nạp thay vì phương pháp diễn dịch. Thay vì phân tích những bản văn của Toà thánh và của Dòng về việc canh tân đời tu, rồi tìm cách áp dụng vào hoàn cảnh hiện tại, thì tôi đi ngược lại. Tôi đã phân tích bốn biến cố xảy ra vào những năm tận cùng bằng con số 4 (trừ năm 1975, phải lùi lại), để khám phá ra sự đổi mới trong tỉnh dòng. Các biến cố này diễn ra ngoài ý muốn của chúng ta, thậm chí ngược lại với sự tính toán của chúng ta. Thoạt tiên, xem ra là những xui xẻo, mất mát, nhưng ngẫm nghĩ lại thì thấy có bàn tay Chúa trong đó: “việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại”.

Thật vậy, nếu đọc lại văn kiện Evangelii gaudium của đức thánh cha Phanxicô, chúng ta thấy rằng sứ mạng của Giáo hội là chiếu toả niềm vui của Tin mừng. Sứ mạng của Giáo hội là ra khỏi chính mình, đến với người nghèo (số 198). Bình thường mà nói, những câu nói ấy dễ thành khẩu hiệu tuyên truyền, nghĩa là sáo ngữ! Nhưng chúng ta thấy rằng nhờ có biến cố 1954 mà dòng Đa Minh mới dám ra khỏi chính mình, bỏ hết tất cả vùng đất hoạt động non 3 thế kỷ để đi về vùng đất mới. Nhờ biến cố 1975 mà chúng ta học sống nghèo, bình dị.

Trong một bài này tôi chỉ chọn lọc vài dữ kiện để suy nghĩ. Sự lựa chọn này chắc hẳn là chủ quan và thiếu sót,  cách riêng khi cô đọng vào bốn năm tận cùng với con số 4. Mục tiêu chỉ là cố gắng tìm ra vài dấu hiệu tích cực trong các biến cố ấy, để nêu bật rằng sự đổi mới triệt để không do chúng ta khởi xướng nhưng là do một nhân tố mạnh mẽ hơn nhiều, đó là bàn tay của Chúa Quan phòng, của Thần khí tác tạo. Dĩ nhiên, trên đời này, cái gì cũng có hai mặt. Tôi đã cố gắng cho thấy mặt trái của các biến cố vừa kể, phần nào cũng muốn tìm hiểu nguyên nhân của vài yếu tố tiêu cực trong sinh hoạt của tỉnh dòng: tại sao anh em ta thích đi ra xứ hơn là ở nhà dòng? Tại sao anh em ta coi nhẹ việc học hành? Tại sao anh em ta ít quan tâm đến sứ mạng phổ quát của dòng? Tại sao anh em ít có sáng kiến, ít chủ động trong hoạt động tông đồ? Tại sao anh em thích làm việc riêng, chứ chưa có một kế hoạch làm việc chung lâu dài? vv. Hẳn là những điều kiện xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến não trạng ấy. Dù muốn dù không, chúng ta là con đẻ của thời đại.

Chính vì thế tiến trình canh tân đòi hỏi thái độ phân định, thanh tẩy và cải tổ, như tông huấn Evangelii gaudium số 30 đã nhắc nhở. Bài này chỉ muốn nhấn mạnh một điều đó là: bàn tay quyết định cho cuộc cải tổ là Chúa Thánh Thần. Bổn phận của chúng ta là tỉnh thức để nhận ra Ngài. Ngài cũng có thể dùng những đối thủ của Giáo hội để dạy dỗ chúng ta (x. GS 44c). Vì thế chúng ta cần biết lắng nghe tiếng của Ngài, cách riêng bằng việc cầu nguyện, cũng như ngoan ngoãn để cho Ngài hướng dẫn. Nếu chúng ta biết lắng nghe Chúa, thì chúng ta cũng biết lắng nghe nhau. Tôi xin kết thúc với lời kinh đã xướng ở nhập đề: Lạy Chúa, xin sai Thần khí tác tạo vạn vật, và Người sẽ canh tân mặt đất này. Amen.

Lm Giuse Phan Tấn Thành O.P.

—————-

[1] Bùi đức Sinh, Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, in lần hai, quyển Ba, Calgary 1998, tr.214

Comments are closed.