Vang mãi tình khúc tri ân

0

Sr. Maria Đinh Thị Ngát, OP

Toàn Hội dòng đang tiến về cột mốc đặc biệt, kỷ niệm 75 năm hình thành và phát triển. Trong dòng thời gian 75 năm, dấu ấn tình yêu và sự bao bọc chở che của Thiên Chúa luôn đậm nét đưa Hội dòng vượt qua những biến đổi thăng trầm cuộc sống. Càng gian nan, tình yêu của Thiên Chúa càng được thể hiện như một minh chứng hùng hồn về sự can thiệp đầy yêu thương quan phòng của Ngài trong lịch sử Hội dòng.

Lịch sử của một Hội dòng được dệt nên bằng lịch sử của mỗi thành viên thuộc về. Vâng, trong ý nghĩa đó, tôi cũng muốn kể về hành trình ơn gọi đời tôi, như một dấu ấn vô cùng bé nhỏ, mong được chung nhịp trong bài ca cảm tạ, để ca ngợi tình yêu vô biên hải hà của Thiên Chúa trải dài suốt dòng lịch sử 75 năm Ân Phúc của Hội dòng và trong hành trình 44 năm ơn gọi đời tôi.

Ươm mầm ước mơ

Năm 1975, tôi mới là cô thiếu nữ 14 tuổi, lớn lên tại một vùng quê yên ả – Hưng Bình, nơi lưu giữ những kỷ niệm êm đềm tuổi thơ trong tình yêu thương gia đình với cha mẹ và anh chị em thân yêu, dù nghèo nhưng chứa chan hạnh phúc và tiếng cười. Cha mẹ tôi sinh được 12 người con, 6 trai – 6 gái. Tôi là con thứ tư, trước tôi là 3 anh trai. Anh cả giã từ trần thế ở tuổi 13 sau một cơn bạo bệnh. Trước năm tôi đi tu, anh thứ hai đi bộ đội và mất tích. Em trai thứ 8 qua đời bởi tai nạn giao thông. Còn lại 3 trai – 6 gái. Cuộc sống đạo hạnh của cha mẹ dẫn dắt tôi hòa mình vào những sinh hoạt của xứ đạo. Bầu khí sống đạo của giáo xứ thật tuyệt vời, đã dần hình thành trong tâm trí tôi lòng đạo đức bình dân. Chính bầu khí và lòng đạo ấy đã định hình ơn gọi dâng hiến của tôi. Nhưng mạnh mẽ hơn cả là tôi được Mẹ Maria chữa khỏi bệnh động kinh cho tôi từ thuở ấu thơ. Cảm nhận này lớn dần qua lời kể của Mẹ tôi với nhiều người. Cuối cùng điều duy nhất đọng lại trong tâm trí tôi là: “Đức Mẹ đã cứu chữa tôi, thì cuộc đời tôi phải thuộc trọn về Chúa, về Mẹ chứ không thuộc về ai khác”. Tôi âm thầm nuôi ước vọng đi tu. Tuy nhiên hoàn cảnh đất nước sau biến cố 1975, những vấn đề về tự do tôn giáo là một thách đố lớn lao cho tôi. Thời gian dần trôi. Đã đến lúc tôi phải lựa chọn cuộc sống tương lai cho riêng mình, tôi bắt đầu cảm thấy xốn xang, lo lắng nhiều về dự tính đi tu của tôi. Làm thế nào bây giờ, tôi khổ sở quay quắt và thốt lên với Chúa lời cảm thán của Thánh Augustinô “Lạy Chúa, lòng con thật khắc khoải không nguôi, cho đến khi được nghỉ yên bên Chúa”.

Chúa tiếp tục bắt tôi phải chờ đợi cho mong ước chín mùi. Tôi bị đặt trước sự lựa chọn giữa hai con đường nên tôi đành phải giao hẹn với Chúa “Lạy Chúa, con chờ Chúa ba năm nữa thôi, nếu con không tìm được dòng tu, con sẽ đi lấy chồng, Chúa phải lo liệu chuyện này Chúa nhé!. Yêu sách của tôi có lẽ làm Chúa xiêu lòng, nên Ngài đã sắp đặt cho tôi một cuộc gặp gỡ với một người bà con xa tên Lan, chị là thành viên trong ca đoàn Cécilia của giáo xứ do dì Maria Trần Thị Chỉ (Dì Nhiễu hay còn gọi là Dì Ba) phụ trách, chị cũng đang có nguyện vọng đi tu. Cùng với chị, tôi được Dì Ba dẫn lên Dốc Mơ và được giới thiệu với Mẹ Antônina Nguyễn Thị Phượng, lúc đó đang làm Bề trên cộng đoàn Dốc Mơ. Khi biết chúng tôi có ý định đi tu, Mẹ hỏi chúng tôi:
– Các em có bằng lòng làm đệ tử suốt đời không?
– Thưa Mẹ có. Tôi mau mắn trả lời
– Nếu các em muốn thì mỗi Chúa Nhật lên đây để tìm hiểu Nhà dòng nhé!
– Thưa Mẹ vâng.

Lời thưa vâng ấy được tôi thốt lên một cách mau mắn và đầy nhiệt huyết dù phía trước là viễn cảnh mịt mùng vô định. Chúng tôi ra về sau lời căn dặn của Mẹ Antônina, đó là một ngày Chúa Nhật, ngày thứ tám trong Tuần Bát Nhật Phục sinh năm 1980. Kể từ đó, cứ vào Chúa Nhật là hai chị em đạp xe lên Dốc Mơ tìm hiểu ơn gọi. Có ngày tôi đi một mình vì chị Lan bận việc. Một năm trời ròng rã, tôi trung thành với sinh hoạt ấy, không vắng ngày nào, cho dù trời mưa hay nắng. Sáng sớm tôi ăn qua loa, có ngày không kịp ăn sáng và đạp xe đi; buổi trưa, đạp xe về với cái bụng rỗng. Nhưng điều ấy không thành vấn đề đối với tôi vì niềm hạnh phúc được đón nhận để tìm hiểu Nhà Dòng lớn hơn gấp nhiều lần.

Giai đoạn tìm hiểu

Lớp tìm hiểu ơn gọi ngày ấy có khoảng 6 người, sinh hoạt tại Đức Huy do Dì Bernadetta Vũ Thị Bích Hải (Nụ) hướng dẫn. Dần dần, lớp đông thêm, đã có thời điểm con số lên đến gần 20. Các sinh hoạt trở nên đa dạng hơn và kéo dài sang buổi chiều. Để giải quyết vấn đề bao tử, chúng tôi được gợi ý đóng góp cho bữa ăn trưa. Mỗi người góp nửa chén gạo và chút tiền mua thức ăn rồi tự nấu bữa ăn cho mình. Đúng là sáng kiến trong thời “gạo châu củi quế”, nhưng vô cùng vui vẻ và hạnh phúc.

Chúa đã làm cho niềm hạnh phúc ấy của tôi trở nên tròn đầy hơn khi đúng một năm tìm hiểu, cuối tháng 4/1981, tôi được gọi vào sống trong cộng đoàn Đức Huy. Tuy rằng đi tu luôn là khát vọng cháy bỏng của tôi, nhưng giờ phút từ giã cha mẹ và anh chị em để bước theo tiếng gọi trời cao, tôi không tránh khỏi tâm trạng bồi hồi xao xuyến. Buổi chiều lên đường trời mưa rất to, cơn mưa tầm tã như cũng đồng cảm với tâm trạng của tôi. Đó là ngày cuối cùng của tôi tại gia đình, từ giây phút này, cuộc đời tôi đã sang trang mới, tôi đã thuộc về Chúa và tự hứa sẽ gắn bó với Hội Dòng suốt đời. Tôi bước đi với một quyết tâm sắt đá: không bao giờ thay đổi quyết định dù có gặp bất cứ khó khăn nào.

Giai đoạn đệ tử

Bước vào đời tu, công việc chính của tôi là làm ruộng, một công việc hoàn toàn mới mẻ vì khi ở nhà tôi làm rẫy, chưa bao giờ bước xuống ruộng nước. Tuy thế, tôi thích nghi rất nhanh với công việc. Những năm sau 1975 là thời điểm kinh tế khó khăn, các bữa ăn đều cầm chừng, thức ăn thì thanh đạm. Ở tuổi ăn tuổi ngủ, nhưng trong các bữa ăn, chúng tôi thường cảm thấy chưa đủ no, biết làm sao được, đó chính là nỗi khổ và một thử thách cho tôi. Có một điều tôi luôn tạ ơn Chúa vì Chúa ban cho tôi một sức khỏe rất tốt và dẻo dai, tôi chưa hề có khái niệm mệt và có thể cáng đáng những công việc nặng dành cho nam giới. Vì vấn đề an ninh, chúng tôi không ngủ tại nhà mà được lệnh di cư ra ngoài. Căn nhà chúng tôi được gởi gắm mỗi đêm là nhà bà Tư, người đàn bà lớn tuổi nhỏ nhắn, sống độc thân. Trong căn nhà ấy, người, chó và gà sống chung. Chiếc giường ngủ của chúng tôi đặt sát chuồng gà, ban đêm tiếng gà rúc rích ru chúng tôi vào giấc ngủ. Ấy thế mà chúng tôi ngủ rất ngon giấc. Tạ ơn Chúa.

Căn nhà cộng đoàn Đức Huy đang ở là căn nhà cất tạm, với nền đất và tường ghép bằng những thanh gỗ nhỏ bản. Việc nhận thêm 2 đệ tử chúng tôi và dự định sau đó là vài đệ tử khác nữa phát sinh nhu cầu chỗ ở; cũng do dự tính dùng nơi này cho sinh hoạt tìm hiểu ơn gọi nên Hội dòng quyết định xây một căn nhà cấp 4. Thế là tôi và chị Lan nghiễm nhiên trở thành thợ hồ, công việc mỗi ngày là: kín nước từ cái giếng sâu 30 mét (ngày ấy chưa có điện để sử dụng motor), rồi đánh hồ, chạy hồ cho thợ xây. Công việc ấy do chúng tôi cáng đáng vì không thuê thợ, chỉ thỉnh thoảng có một vài giáo dân vào phụ giúp. Vì biến động thời cuộc, khi ngôi nhà hoàn thành cũng là lúc chúng tôi phải ngậm ngùi rời xa chiếc nôi ơn gọi, nơi ghi dấu bao kỷ niệm buồn vui thuở chập chững đầu đời dâng hiến.

Ở Đức Huy được hơn 2 năm, vào tháng 12 năm 1983, tôi được chuyển lên sống tại cộng đoàn Ngọc Lâm. Tại đây, tôi cũng tham gia vào công việc làm ruộng, đến lứa thì hái dâu bán cho người nuôi tằm. Sáu tháng sau, tháng 6 năm 1984, tôi được gọi về Hưng Bình để học sơ cấp Sư phạm mầm non khóa 7. Tôi được biết, do sẵn có cơ hội thì học chứ chưa đến lúc phải dùng đến nó. Khóa học kéo dài 4 tháng rưỡi tại trường Sư phạm nằm gần Giáo xứ Bắc Hải, Hố Nai; trong suốt khóa học, tôi trọ tại lưu xá sinh viên của trường.

Kết thúc khóa học, tôi trở về cộng đoàn Hưng Bình, tiếp tục công việc đồng áng. Có một vấn đề tôi xin mở ngoặc ở đây đó là chương trình sống của cộng đoàn. Đây là chương trình đầu ngày sống: 3giờ: thức; 3g30: kinh Sáng; 4giờ: Thánh lễ; sau Thánh lễ: nguyện ngắm. Sở dĩ phải thức sớm như thế là để một số Dì kịp tham dự thánh lễ thứ hai lúc 5 giờ. Mà tại cộng đoàn Hưng Bình lúc đó, có duy mình tôi là đệ tử, đang ở tuổi ăn – tuổi ngủ, thế mà tôi vẫn vui vẻ hòa nhịp với chương trình cộng đoàn, không bỏ sót một giờ chung nào, ngoài giờ họp cộng đoàn không được phép tham dự. Đối với tôi mà nói, việc thức quá sớm như thế không phải là vấn đề quá khó, cho dù tôi vẫn thường xuyên ngủ gật trong giờ suy niệm. Giờ nghĩ lại, động lực giúp tôi vượt qua những khó khăn nho nhỏ ấy chính là tình yêu Chúa và niềm khao khát sống trong Nhà Chúa. Sau gần 2 năm sống tại Hưng Bình, vào tháng 3 năm 1986, tôi được gọi vào Nhà Thử, nay gọi là Tiền Tập. Thế là kết thúc giai đoạn đệ tử và tôi có quyền hy vọng rằng, mình không phải “làm đệ tử suốt đời” như lời cảnh báo của Mẹ Antônina vào ngày tôi đến xin tu. Tạ ơn Chúa!

Giai đoạn Nhà Thử – Nhà Tập.

Đời tu sau biến cố năm 1975 mang một hình thái hết sức đặc biệt, sự đặc biệt ấy được diễn tả bằng cụm từ ngắn gọn nhưng hết sức tượng hình “tu chui”. Cái chui ấy chi phối mọi sinh hoạt của những con người chấp nhận chui: ở chui, học chui, làm chui, ăn chui, ngủ chui. Từ đó hình thành một thế hệ “tu sĩ chui” với những giai đoạn huấn luyện chui: đệ tử chui, thử sinh chui, tập sinh chui, học viện chui. Cũng chính vì cái sự chui này mà chúng tôi vẫn thường nói đùa với nhau rằng : “Mình là những đứa con lưu lạc”. Mà quả thật như thế, suốt các giai đoạn đệ tử, nhà thử, nhà tập, rồi một năm học viện, chúng tôi không một ngày nào được diễm phúc sống dưới mái ấm Nhà Mẹ thân thương.

Sau giai đoạn đệ tử chui tại các cộng đoàn, chúng tôi được tập trung về cộng đoàn Bình Phước để bắt đầu giai đoạn Thử. Lớp Thử chúng tôi gồm 6 người, được qui tụ từ 5 cộng đoàn khác nhau. Đây là Lớp Thử thứ hai sau ngày đất nước giải phóng và là Lớp Thử đầu tiên dành cho những đệ tử tu sau giải phóng. Thời gian Thử theo quy định là 6 tháng, tuy nhiên, ngày chúng tôi được gọi tập trung đã là tháng 3, nên chỉ còn lại 5 tháng. Để khai sinh Lớp Thử của chúng tôi, Mẹ Bề trên Antônina đã gặp phải muôn vàn khó khăn trở ngại. Sau khi liều lĩnh bỏ sang một bên những ý kiến can ngăn, Mẹ bắt đầu đối mặt với nhiều nỗi lo toan khác: lo ăn, lo ở, lo học, lo an ninh cho những “đứa con chui”. Cùng với Lớp Tập 1983 trước chúng tôi 3 năm và Lớp Tập 1988 của 2 năm sau đó, chúng tôi làm nên một giai đoạn “Tập sinh chui chẳng giống ai” trong lịch sử Hội dòng.

Tại môi trường huấn luyện Bình Phước, chúng tôi được học 4 môn do Quý Cha và Quý Thầy Dòng Đa Minh hướng dẫn: môn Tu đức do Cha Cựu Giám Tỉnh Giuse Đoàn Thiệu, môn Kinh Thánh do Cha Inhaxiô Nguyễn Ngọc Rao, môn Giáo luật do Cha Gioan Baotixita Lã Ngọc Đẩu và môn Phụng vụ do thầy Giuse Nguyễn Cao Luật. Các giờ học ít ỏi, nhưng luôn trong trạng thái cảnh giác cao độ: trên lầu, chúng tôi ngồi chung bàn học với giáo sư, trong tư thế sẵn sàng gấp sách vở để “ chui”; dưới sân sẽ có người canh chừng và báo động khi có biến; ngồi bàn cơm trong tư thế co chân lên ghế để đề phòng bất trắc. Công việc thường ngày của chúng tôi là nuôi heo, làm vườn và ra – vào để phụ chở cói về đan chiếu và chở chiếu đi in. Các bữa ăn thường đạm bạc, món ăn mặn chính của bữa sáng là cùi dừa: bào nhỏ hoặc xắt miếng rồi ướp muối, sao chín; thỉnh thoảng được bữa thịt muối kho là sang chảnh lắm rồi. Ban đêm, chúng tôi cuốn khăn áo đi “ngủ chui”. Nhưng trong hoàn cảnh khó khăn ấy, chúng tôi cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc thật sự.

Năm tháng Thử qua đi bình an, Mẹ quyết định tiếp tục thiết lập Năm Tập của chúng tôi tại đây. Tuy nhiên, thử thách lại ập đến; hai tháng cuối của Năm Tập, cũng lại vì vấn đề an ninh, chúng tôi phải thu xếp chuyển về Gò Vấp làm tiếp Năm Tập. Lúc này, lớp Tập của chúng tôi còn lại 4 người. Điều này cho thấy mặc dù sau thời gian dài gián đoạn nhưng việc chọn lọc ơn gọi vẫn rất khắt khe: còn 2/3 và mất 1/3. Vì điều này, niềm vui tuyên khấn của chúng tôi không trọn vẹn; nhưng đó là Ý Chúa, xin cho chúng con vui lòng đón nhận.

Tuần tĩnh tâm Dọn Khấn không thể tổ chức tại Nhà Mẹ, chúng tôi dự tĩnh tâm ngay tại Gò Vấp. Kết thúc tuần phòng, chúng tôi đạp xe ra ga Hòa Hưng, đón xe lửa về Nhà Mẹ để sáng hôm sau đón nhận Hồng Ân Tiên Khấn. Thánh lễ khấn dự tính diễn ra âm thầm nên không mời bố mẹ tham dự. Nhưng vào chiều tối ngày hôm trước, Đức Cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật thông báo sẽ đến để chủ sự Lễ khấn cho chúng tôi. Thật là niềm vui bất ngờ vượt quá lòng mong ước của chúng tôi, niềm vui còn được nhân lên vì có sự tham dự của cha mẹ và anh chị em trong gia đình. Thì ra, khi hay tin Đức Cha về chủ sự Lễ khấn, các Dì Hưng Bình đã nhanh chóng báo tin cho gia đình tôi, nên bố mẹ và các anh chị em đã kịp có mặt để tham dự Lễ Khấn. Chính ngày hôm đó, nỗi lo “làm đệ tử suốt đời” đã được hoá giải. Tạ ơn Chúa.

Giai đoạn Học viện

Ngay sau buổi chiều ngày tuyên khấn, chúng tôi không dám lưu lại lâu tại Nhà Mẹ, liền trở lại Bình Phước để tham dự Thánh lễ tạ ơn. Sau Thánh lễ tạ ơn, chúng tôi được lệnh khăn gói lên đường đến ở cộng đoàn Kiến Thiết dưới sự coi sóc của Dì Têrêsa Đỗ Thị Cảnh. Dù đã khấn, chúng tôi không dám mặc áo Dòng (Học viện chui mà). Gọi đây là giai đoạn Học viện cho đủ thứ tự trong tiến trình huấn luyện, nhưng thực ra là thời gian chúng tôi tiếp tục ở ẩn, loay hoay việc nhà: phụ dạy một lớp học, nuôi heo, và học một vài môn thánh khoa trong hoàn cảnh “học được tới đâu hay tới đó”. Với thực tế này, chúng tôi được thụ giáo với Quý thầy Dòng Đa minh qua hai môn học: Kinh Thánh do thầy Giuse Nguyễn Tất Trung, Lịch sử Giáo hội (khoảng 4 tháng) với thầy Phanxicô Xaviê Đào Trung Hiệu; trong cả 2 môn học đó, chúng tôi đều là học trò đầu tay của các vị. Thôi thì, các vị có đất dụng võ, còn chúng tôi thì được tiếp thu kiến thức. Tạ ơn Chúa.

Hết năm gọi là Học viện, chúng tôi được sai đến các cộng đoàn và bắt đầu hành trình thi hành sứ vụ. Tôi được sai về Tu viện Truyền Tin để dạy mầm non, đây là nhóm trẻ Mẫu giáo đầu tiên của Hội dòng sau chủ trương xã hội hóa giáo dục của Nhà Nước, được thành hình do dì Têrêsa Nguyễn Thị Mừng thành lập với sự đồng ý và hỗ trợ của Dì Tổng Đại diện Rosa Vũ Thị Đài. Buổi đầu, có 3 lớp học, vì tại thời điểm đó, yêu cầu chăm sóc trẻ chưa cao, nên sĩ số lớp khá đông, thường là trên 50 cháu trong một lớp. Có 3 chị em được phân công dạy học gồm: chị Têrêsa Nguyễn Thị Thơm, chị Têrêsa Phạm Thị Oanh và tôi. Thế là tấm giấy chứng nhận Sơ cấp sư phạm Mầm non đang cất dành của tôi được đem ra trình nộp như một điều kiện cần và đủ cho sự hợp thức của nhóm trẻ mới phôi thai. Vì là người trẻ – khỏe, theo ý Bề trên cộng đoàn, tôi kiêm công tác thu ngân. Lệ phí tại thời điểm đó cho mỗi học sinh là 5kg gạo và hơn 10 ngàn đồng một tháng. Vậy nên công việc thu ngân có cả màn cân gạo; nghe có vẻ lạ quá so với ngày nay, nhưng là hình ảnh rất quen thuộc tại các trường Mầm non ngày ấy.

Năm 1990, khi cộng đoàn Bùi Hiệp được thành lập, đồng thời 2 lớp học cũng được mở tại đây, tôi là một trong số 3 chị em đầu tiên được sai đến cộng đoàn mới này và dĩ nhiên tôi phụ trách một lớp học. “Vạn sự khởi đầu nan”, nhưng tôi dễ dàng vượt qua những nan giải để ổn định sinh hoạt bước đầu cần nhiều cố gắng.

Ở Bùi Hiệp thời gian không lâu (6 tháng), tôi lại được sai đến cộng đoàn Mẹ Thiên Chúa -Tân Mai vì nơi đây chuẩn bị mở 3 lớp học Mầm non. Thế là trường Mẫu giáo Măng Non có 3 cơ sở, tôi đã có mặt tại cả 3 vào thời điểm ban đầu ấy.

Cũng như hầu hết thế hệ tu sĩ sống trong giai đoạn chuyển tiếp đầy khó khăn ấy, những năm tháng của giai đoạn Học viện, chúng tôi không có cơ hội học hành. Do vậy, khi có lớp thần học dành cho tất cả các tu sĩ trong các Hội dòng Nam – Nữ để bổ sung kiến thức thánh khoa, tổ chức tại Đại Chủng viện Thánh Giuse – Sài Gòn, tôi và một số chị em cùng thời, ghi danh tham gia khóa học. Khóa học được tổ chức vào tháng 7 mỗi năm và kéo dài trong vòng 5 năm; bắt đầu từ tháng 7 năm 1988 cho đến hết tháng 7 năm 1992.

Tháng 8 năm 1991, tôi cùng với chị em lớp khấn năm 1987 được Mẹ Hội Dòng gọi về chuẩn bị cho hiến lễ trọn đời. Vì ít nhân sự, nên dù là năm Dọn khấn, công tác của chúng tôi vẫn gắn với công tác mầm non. Mỗi người phụ trách chính một lớp học vào buổi sáng, buổi chiều có Tập sinh thay thế. Hết năm Dọn khấn, chúng tôi gồm: Cơ, Ngát, Tuyết, Loan hoàn tất giai đoạn huấn luyện, hân hoan tiến lên đọc lời tuyên thệ vĩnh viễn, phó dâng cuộc đời cho Chúa và phó thác đời mình cho Hội dòng qua Hồng Ân Vĩnh khấn.

Vang mãi tình khúc tri ân

Cũng như bao chị em đang sống trong Hội dòng, hành trình ơn gọi của tôi được đan xen bằng những biến cố vui buồn, sướng khổ với bao khó khăn cản đường, giăng lối ngay từ những bước chân chập chững đầu đời tu. Tuy nhiên, như Thánh Phaolô đã khẳng định: “mọi sự đều trở nên ích lợi cho những người có lòng yêu mến” (Rm 8,28). Chính những chướng ngại ấy đã giúp tôi sớm có một nhận thức trưởng thành, chủ động, đầy quyết tâm và ý thức rõ ràng: đời tu không phải là cuộc sống an nhàn, nhưng nhiều khó khăn thử thách và tôi sẵn sàng đón nhận hy sinh vì Chúa để cầu nguyện và sống cho tha nhân. Môi trường huấn luyện đầu đời tu đã cho tôi thêm xác tín về sự cần thiết phải bỏ mình, bỏ ý riêng, bỏ cá tính, bỏ qua sự ngỡ ngàng về những tiêu cực trong đời sống cộng đoàn. Cuộc sống lao tác vất vả, sự thiếu thốn về cơ sở vật chất, về cái ăn cái mặc đã tôi luyện tôi, giúp tôi kiên trì vác thánh giá mỗi ngày trong cuộc sống để theo sát Chúa Kitô.

Chọn lựa sống đời dâng hiến sẽ là chọn lựa duy nhất và cuối cùng, tôi sẽ không thay đổi quyết định này cho dù gặp bất cứ khó khăn, trở ngại nào. Chúa đã thương đón nhận tôi và từng bước dẫn tôi qua những khó khăn thử thách trên đường theo Chúa. Khi thời thế dần thay đổi, trở nên dễ dàng hơn, Hội dòng có kế hoạch thăng tiến; tôi chấp nhận quên mình, trở thành cầu nối để thế hệ đàn em hưởng những ưu đãi mà không một ý nghĩ tủi thân, phân bì, đòi hỏi. Và cho đến nay, tôi vẫn vui lòng chấp nhận sự thua thiệt, những giới hạn đến từ sự hy sinh, quên mình ấy. Tôi đã sống hết tình và hết mình cho Hội dòng mà tôi lựa chọn. Điều tôi hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại là những khả năng Chúa ban giúp tôi chu toàn nhiệm vụ Chúa trao qua Bề trên, qua chị em cách nhiệt thành. Lòng nhiệt thành ấy được chị em trong Hội dòng nhìn nhận, được Bề trên tin tưởng và được chứng minh qua việc làm, qua cách sống của tôi.

Viết lại hành trình ơn gọi, như một xác tín vào tình thương bao la của Chúa, Ngài luôn đồng hành với Hội dòng, với mọi chị em, với bản thân tôi trong từng ngày sống, trong từng biến cố để giúp tôi hoàn trọn đời dâng hiến. Hồng ân lớn lao tôi lãnh nhận nhắc nhở tôi trung thành trong ơn gọi hầu đáp trả món nợ tình yêu mà tôi mắc nợ với Chúa và sẽ không bao giờ đáp trả cân xứng.

Xin muôn đời cảm tạ Hồng Ân Thiên Chúa, cảm tạ sự nâng đỡ của Mẹ Maria.

Xin khắc cốt ghi tâm tình thương của Mẹ Hội dòng đã đón nhận, nuôi dưỡng tôi lớn lên trong đời thánh hiến.

Xin ghi ơn Quý Mẹ, Quý Chị đã dầy công xây dựng Hội dòng để tôi được thừa hưởng di sản và hoa trái thiêng liêng cũng như vật chất giúp tôi sống ơn gọi cách đủ đầy và hạnh phúc.

Xin được chung tâm tình cất lên tình khúc tri ân vang mãi trọn cuộc sống tôi và cho đến muôn đời.

Comments are closed.

phone-icon