Ðức Kitô là Chiên Thiên Chúa – Chúa Nhật II Thường Niên A

0

Lm. Giuse Vũ Thái Hòa

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan (1,29-34)

Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói: “Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài: Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi. Và tôi, tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ mình ra với Israel, nên tôi đã đến làm phép rửa trong nước”. Và Gioan đã làm chứng rằng: “Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Về phần tôi, tôi đã không biết Ngài. Nhưng Ðấng sai tôi làm phép rửa trong nước phán bảo tôi: “Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần”. Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa”.

***

“Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian.” Chúng ta thấy từ “chiên” không thông dụng trong ngôn ngữ Việt Nam, ngoại trừ thành ngữ “hiền như con cừu non.” Thịt chiên hoặc cừu non cũng ít sử dụng trong các món ăn Việt.

Tuy thế, từ “chiên” rất quan trọng trong Kinh Thánh, vì nó được dùng 162 lần. Dân Do-thái, vốn là dân du mục, thường dùng những hình ảnh quen thuộc của sinh hoạt mục đồng để diễn tả đức tin của mình: mục tử nhân lành, con chiên, chó sói, con chiên lạc, chuồng chiên, v.v…

Từ “chiên” gợi đến những lễ tế của dân Do-thái, trong đó, con chiên thường được dùng trong các nghi thức hiệp thông với Thiên Chúa cũng như trong các nghi thức hòa giải. Con chiên cũng được dùng trong hy lễ hằng ngày tại Ðền Thờ.

Ngày nay, trong thánh lễ, trong khi linh mục bẻ bánh thánh, cộng đoàn hát kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa.” Khi giơ Bánh Thánh lên cao, linh mục nhắc lại lời của ông Gio-an Tẩy Giả: “Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian.” Chiên ở đây chính là Ðức Kitô.

Thành ngữ “Chiên Thiên Chúa” cũng ám chỉ đến một thời kỳ quan trọng trong lịch sử thánh, đó là biến cố vượt qua Biển Ðỏ. Trước khi thoát khỏi nơi bị áp bức để đến miền đất tự do, mỗi gia đình con cái Ít-ra-en giết một con chiên, lấy máu chiên bôi lên khung cửa, rồi ăn thịt chiên. Nhờ đó, họ được thoát nạn: khi thấy máu chiên trên khung cửa, Chúa sẽ không để cho Thần Tru Diệt đánh phạt. Từ lễ Vượt Qua đầu tiên này, và cho đến hôm nay, người Do-thái luôn cử hành lễ Vượt Qua bằng việc ăn “chiên vượt qua”.

Khi nói về “Chiên Thiên Chúa”, các Kitô hữu tiên khởi thường quy chiếu về sách ngôn sứ I-sai-a, chương 53, loan báo người tôi trung của Chúa sẽ đến. Ðó là người bị ngược đãi, gánh chịu những đau khổ của chúng ta, là đấng gánh tội lỗi của muôn dân. Ngôn sứ I-sai-a so sánh người tôi trung của Chúa với con chiên bị đem đi làm thịt (Is 53,7). Các Kitô tiên khởi hiểu ngay rằng đó là hình ảnh của Ðức Kitô chết trên thập giá.

Thánh sử Lu-ca nhấn mạnh việc Chúa Giêsu muốn mừng lễ Vượt Qua: “Các anh hãy đi dọn cho chúng ta ăn lễ Vượt Qua” (Lc 22,8). Lu-ca miêu tả Chúa Giêsu ăn lễ Vượt Qua với các Tông Ðồ chỉ có bánh và rượu, mà không nói gì tới thịt chiên. Ai cũng đoán được tại sao. Chúa Giêsu không cần chiên nữa vì Người chính là Con Chiên! Bằng cuộc khổ nạn và cái chết vì tình yêu của Người, Người đã trở thành Con Chiên cứu độ muôn người.

Ông Gio-an Tẩy Giả không nói Chúa Giêsu là Ðấng xóa bỏ những tội trần gian mà là “Ðấng xóa bỏ tội trần gian.” Chiên Thiên Chúa đã đến không chỉ để xóa bỏ những tội cá nhân, mà còn tận diệt thế lực của Tội Lỗi. Bởi vì tội lỗi đến từ con người, ơn cứu độ không thể đến từ một người tội lỗi, mà phải từ một nhân vật hoàn toàn tự do, một Đấng cứu thế hoàn vũ. Ðấng cứu tinh đó hiện hữu và đã được ông Gio-an Tẩy Giả giới thiệu: “Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian.”

Ông Gio-an là chứng nhân đầu tiên của Ðức Kitô, Chiên Thiên Chúa. Ông đã thấy Người. Từ cuộc gặp gỡ đến sự cảm phục. Từ cảm phục đến tin yêu. Từ tin yêu đến tuyên xưng đức tin. Sau khi gặp Ðức Kitô, ông chẳng làm chuyện gì khác ngoài việc làm chứng cho Người.

Đến lượt chúng ta, mỗi người mỗi cách, dù ngôn từ vụng về, chúng ta hãy cố gắng nói với người chung quanh về Chúa Giêsu Kitô là ai. Thần Khí Chúa Kitô được trao ban cho chúng ta khi chúng ta lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Từ đó, chúng ta trở thành “Kitô hữu”, nghĩa là chi thể của Chúa Kitô. Nhưng danh xưng “Kitô hữu” không là gì nếu đó không phải là một nhiệm vụ phải hoàn thành, một sứ mệnh phải được thực hiện, một chứng từ phải làm.

Qua lời nói và hành động, mỗi người chúng ta có thể làm chứng và nói như ông Gio-an Tẩy Giả: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Con Thiên Chúa.”

Comments are closed.

phone-icon