Có thể “cùng nhau xây dựng một tương lai hòa giải”

0

Bài giảng Lễ của Đức Thánh Cha ở Nam Sudan

Nguồn: exaudi
Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 

© Vatican Media

Sáng nay, sau khi chào tạm biệt các nhân viên và ân nhân của Tòa Khâm sứ tại thủ đô Juba, Đức Thánh Cha Phanxicô đi xe hơi đến Lăng “John Garang” để cử hành Thánh lễ.

Khi đến nơi, sau khi đổi sang xe giáo hoàng, xe đưa Đức Thánh Cha chạy vài vòng giữa các tín hữu cùng với Đức ông Stephen Ameyu Martin Mulla, Tổng Giám mục Juba. Và, lúc 8:30 sáng giờ địa phương (7:30 sáng giờ Roma) ngài chủ tế Thánh lễ Chúa Nhật V Thường Niên bằng tiếng Anh.

Trong Thánh lễ, sau phần công bố Tin Mừng, Đức Thánh Cha giảng lễ.

Cuối cùng, sau phát biểu bày tỏ lòng kính trọng của Đức Tổng Giám mục Juba và trước phép lành cuối lễ, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ngỏ lời chào cuối và cảm ơn hơn 100.000 tín hữu và khách hành hương có mặt tại Lăng tham dự Thánh lễ.

Sau đó, Đức Thánh Cha di chuyển bằng hơi đến Sân bay Quốc tế Juba để chia tay Nam Sudan.

Dưới đây là bài giảng và lời chào cuối của Đức Thánh Cha trong Thánh Lễ:

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Hôm nay tôi muốn lấy những lời mà Thánh Tông đồ Phaolô đã nói với cộng đoàn Côrintô trong bài đọc thứ hai và lặp lại những lời đó trước anh chị em: “Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá” (1 Cr 2:1-2). Vâng, mối quan tâm của Thánh Phaolô cũng là của tôi, khi tôi ở đây với anh chị em nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa của tình yêu, Thiên Chúa đã giành được sự bình an qua thập tự giá của Ngài; Chúa Giêsu, Thiên Chúa chịu đóng đinh vì tất cả chúng ta; Chúa Giêsu chịu đóng đinh nơi những người đau khổ; Chúa Giêsu, bị đóng đinh trong cuộc sống của rất nhiều người trong anh chị em, trong rất nhiều người ở đất nước này; Chúa Giêsu, Thiên Chúa phục sinh, Đấng chiến thắng sự dữ và sự chết. Tôi đến đây để loan báo về Ngài và để củng cố anh chị em trong Chúa, vì sứ điệp của Chúa Kitô là sứ điệp của niềm hy vọng. Chúa Giêsu biết nỗi thống khổ và niềm hy vọng anh chị em mang trong lòng, những niềm vui và những phấn đấu đánh dấu cuộc đời anh chị em, bóng tối đang tấn công anh chị em và niềm tin mà anh chị em dâng lên thiên đàng như một bài ca trong đêm. Chúa Giêsu biết anh chị em và yêu thương anh chị em. Nếu chúng ta ở lại trong Ngài, chúng ta không bao giờ phải sợ hãi, vì đối với chúng ta, mọi thập giá sẽ biến thành phục sinh, mọi nỗi buồn sẽ trở thành hy vọng, và mọi lời than thở sẽ trở thành vũ điệu nhảy mừng.

Vì vậy, tôi muốn suy niệm về những lời sự sống mà Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Tin Mừng hôm nay: “Chính anh em là muối cho đời … Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5:13-14). Những hình ảnh này nói gì với chúng ta, là những môn đệ của Chúa Kitô?

Trước hết, chúng ta là muối cho đất. Muối được dùng để nêm thức ăn. Nó là thành phần vô hình mang lại hương vị cho mọi thứ. Chính vì lẽ đó mà từ xa xưa, muối đã là biểu tượng của sự khôn ngoan, một đức tính không thể nhìn thấy nhưng làm tăng thêm hương vị cho cuộc sống, mà thiếu nó thì trở nên nhạt nhẽo, vô vị. Nhưng, Chúa Giêsu muốn nói đến sự khôn ngoan nào? Ngài dùng hình ảnh của muối ngay sau khi dạy các môn đệ về Các Mối Phúc. Như vậy, chúng ta thấy rằng các Mối phúc là muối của đời sống người Kitô hữu, vì chúng mang sự khôn ngoan từ trời xuống thế gian. Chúng cách mạng hóa các tiêu chuẩn của thế giới này và cách suy nghĩ thông thường của chúng ta. Và những mối phúc đó nói gì? Tóm lại, các mối phúc nói với chúng ta rằng để được chúc phúc, được hạnh phúc và viên mãn, chúng ta không được nhắm đến sức mạnh, sự giàu có và quyền lực, nhưng phải khiêm nhường, hiền lành, thương xót; không làm điều ác cho ai, nhưng là người kiến tạo hòa bình cho mọi người. Chúa Giêsu nói, đây là sự khôn ngoan của một người môn đệ; nó là thứ mang lại hương vị cho thế giới xung quanh chúng ta. Chúng ta hãy ghi nhớ điều này: nếu chúng ta thực hành các Mối phúc, nếu chúng ta thể hiện sự khôn ngoan của Chúa Kitô, chúng ta sẽ mang lại hương vị không chỉ cho cuộc sống của chúng ta, mà còn cho cuộc sống của xã hội và của đất nước chúng ta đang sống.

Muối không chỉ mang lại hương vị; nó còn có một chức năng khác vô cùng cần thiết vào thời Chúa Kitô: nó bảo quản thức ăn để thức ăn không bị hư hỏng. Kinh Thánh đã nói rằng có một loại “thức ăn”, một sự tốt lành thiết yếu cần được bảo quản hơn tất cả những điều khác, và đó là giao ước với Thiên Chúa. Vì vậy, trong những ngày đó, bất cứ khi nào một của lễ được dâng lên Chúa, người ta sẽ thêm một ít muối vào đó. Chúng ta hãy nghe Kinh thánh nói gì về điều này: “(Các) ngươi không được để lễ phẩm (các) ngươi thiếu muối của giao ước của Thiên Chúa (các) ngươi; (các) ngươi phải dâng muối cùng với mọi lễ tiến của (các) ngươi” (Lv 2:13). Do đó, muối được sử dụng như một lời nhắc nhở về sự cần thiết căn bản của chúng ta là phải duy trì mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, bởi vì Ngài trung tín với chúng ta, và giao ước của Ngài với chúng ta là không thể hư mất, bất khả xâm phạm và tồn tại lâu dài (x. Ds 18:19; 2Sb 13:5). Như vậy mỗi người môn đệ của Chúa Giêsu, như muối của đất, là chứng nhân cho giao ước mà Thiên Chúa đã lập mà chúng ta cử hành trong mỗi Thánh Lễ: một giao ước mới, vĩnh cửu và không thể phá vỡ (x. 1 Cr 11:25; Dt 9), và một tình yêu dành cho chúng ta không thể lay chuyển cho dù chúng ta không trung thành.

Thưa anh chị em, chúng ta là chứng nhân cho điều kỳ diệu này. Vào thời xa xưa, khi con người hoặc các dân tộc thiết lập một hiệp ước hữu nghị với nhau, họ thường niêm phong nó bằng cách trao đổi một ít muối. Là muối của đất, chúng ta được mời gọi để làm chứng cho giao ước với Thiên Chúa bằng niềm vui và lòng biết ơn, và từ đó chứng tỏ rằng chúng ta là những người có khả năng tạo ra các mối dây bằng hữu và đời sống huynh đệ. Những người có khả năng xây dựng các mối tương quan tốt đẹp giữa con người với nhau như là một cách để kiềm chế sự xấu xa của cái ác, căn bệnh chia rẽ, sự bẩn thỉu của những thương vụ kinh doanh phi pháp và căn bệnh dịch của sự bất công.

Hôm nay tôi xin cảm ơn anh chị em, bởi vì anh chị em là muối cho đất ở đất nước này. Tuy nhiên, khi anh chị em nghĩ đến nhiều vết thương của nó, bạo lực làm gia tăng nọc độc hận thù, và sự bất công gây ra nỗi thống khổ và nghèo đói, anh chị em có thể cảm thấy mình nhỏ bé và bất lực. Bất cứ khi nào sự cám dỗ đó tấn công, anh chị em hãy nhìn vào muối và những hạt tinh thể nhỏ xíu của nó. Muối là một thành phần nhỏ bé, và khi được cho vào thức ăn, nó sẽ tan biến, nó sẽ hòa tan; nhưng chính theo cách như vậy mà nó thêm gia vị cho toàn bộ món ăn. Cũng vậy, cho dù chúng ta nhỏ bé và yếu đuối, cho dù khi sức lực của chúng ta có vẻ không đáng kể trước mức độ to lớn của các vấn đề và cơn thịnh nộ mù quáng của bạo lực, người  Kitô hữu chúng ta vẫn có khả năng đưa ra đóng góp mang tính quyết định vào việc thay đổi lịch sử. Chúa Giêsu muốn chúng ta giống như muối: chỉ một lượng nhỏ hòa tan liền mang lại một hương vị khác cho mọi thứ. Vì thế, chúng ta không thể lùi bước, bởi nếu không có lượng nhỏ bé đó, không có sự đóng góp nhỏ bé của chúng ta, thì mọi thứ trở nên vô vị. Vì vậy, chúng ta hãy bắt đầu từ những điều nhỏ bé, những điều thiết yếu, không phải từ những gì có thể xuất hiện trong sử sách, mà từ những việc làm thay đổi lịch sử. Nhân danh Chúa Giêsu và các Mối phúc của Người, chúng ta hãy hạ bỏ những vũ khí của hận thù và trả thù, để cầm lấy những vũ khí là cầu nguyện và bác ái. Chúng ta hãy chiến thắng những điều không thích và những ác cảm mà theo thời gian đã trở thành kinh niên và có nguy cơ khiến các bộ lạc và các nhóm sắc tộc chống lại nhau. Chúng ta hãy học cách rắc lớp muối tha thứ lên vết thương của chúng ta; muối làm xót nhưng nó chữa lành. Ngay cả khi trái tim của chúng ta rỉ máu vì những điều sai trái mà chúng ta đã phải chịu đựng, chúng ta hãy từ chối lấy ác trả ác, một lần và mãi mãi, và chúng ta sẽ phát triển khỏe mạnh bên trong. Chúng ta hãy đón nhận nhau và yêu thương nhau cách chân thành và quảng đại, như Chúa yêu thương chúng ta. Chúng ta hãy trân trọng sự tốt đẹp là chính chúng ta, và không cho phép mình trở nên bại hoại bởi cái ác!

Bây giờ chúng ta hãy chuyển sang hình ảnh thứ hai được Chúa Giêsu sử dụng, đó là ánh sáng: Anh em là ánh sáng cho trần gian. Một lời tiên tri vĩ đại nói về dân Israel: “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49:6). Giờ đây lời tiên báo đó đã được ứng nghiệm, vì Thiên Chúa Cha đã sai Con của Người là ánh sáng cho trần gian (x. Ga 8:12), ánh sáng thật chiếu soi mọi người và mọi dân tộc, ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và xua tan mọi đám mây u ám (x. Ga 1:5.9). Chúa Giêsu, ánh sáng của trần gian, nói với các môn đệ rằng họ cũng là ánh sáng cho thế gian. Điều này có nghĩa là, khi chúng ta đón nhận ánh sáng của Chúa Kitô, ánh sáng  đó là Chúa Kitô, chúng ta trở nên “sáng láng”; chúng ta tỏa ra ánh sáng của Chúa!

Chúa Giêsu nói tiếp: “Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà” (Mt 5:15). Một lần nữa, đây là một hình ảnh quen thuộc trong thời đó. Nhiều ngôi làng ở Galilê được xây dựng trên sườn đồi và có thể nhìn thấy từ rất xa. Đèn trong nhà được đặt trên cao để có thể chiếu sáng mọi ngóc ngách của căn phòng. Khi tắt một ngọn đèn thì người ta lấy một miếng đất nung gọi là “cái giá” chụp lên nó, cái chụp này sẽ hút hết oxy của ngọn lửa và do đó làm tắt ánh sáng.

Thưa anh chị em, Chúa Giêsu muốn nói gì khi yêu cầu chúng ta trở thành ánh sáng thế gian là quá rõ ràng: chúng ta, những môn đệ của Chúa, được mời gọi tỏa sáng như một thành phố xây trên đồi, như một ngọn đèn không bao giờ tắt. Nói cách khác, trước khi chúng ta lo lắng về bóng tối bao quanh mình, trước khi chúng ta hy vọng rằng những bóng tối xung quanh chúng ta sẽ sáng lên, thì chúng ta được kêu gọi hãy tỏa ánh sáng, mang ánh sáng đến cho thành phố, làng mạc và nhà cửa, những người quen biết và mọi hoạt động hàng ngày của chúng ta qua đời sống của chúng ta và các việc tốt lành. Chúa sẽ ban cho chúng ta sức mạnh, sức mạnh để trở thành ánh sáng trong Người, để mọi người nhìn thấy những việc lành của chúng ta, và khi thấy những việc lành đó, như Chúa Giêsu đã nhắc nhở chúng ta, thì họ sẽ vui mừng trong Chúa và tôn vinh Người. Nếu chúng ta sống như những người con cái, như anh chị em trên trái đất, mọi người sẽ biết rằng tất cả chúng ta đều có một Cha trên trời. Do đó, chúng ta được yêu cầu hãy bừng cháy tình yêu, đừng bao giờ để ánh sáng của chúng ta bị dập tắt, đừng bao giờ để dưỡng khí bác ái phai nhạt khỏi cuộc sống của chúng ta để những việc làm xấu xa có thể lấy đi bầu không khí trong sáng của chứng tá của chúng ta. Đất nước này, rất đẹp nhưng bị tàn phá bởi bạo lực, cần ánh sáng mà mỗi người trong anh chị em có, hay tốt hơn nữa chính là ánh sáng của mỗi người trong anh chị em.

Anh chị em thân mến, tôi cầu nguyện để anh chị em trở thành muối rắc ra, tan biến và làm tăng hương vị huynh đệ của Tin Mừng cho Nam Sudan. Nguyện xin cho các cộng đoàn Kitô hữu của anh chị em tỏa sáng rạng rỡ, để giống như những thành phố được xây dựng trên đồi, họ sẽ chiếu tỏa ánh sáng của sự tốt lành cho mọi người và cho thấy rằng thật đẹp biết bao và có thể sống lòng quảng đại và cho đi, để có niềm hy vọng và cùng nhau xây dựng một tương lai hòa giải. Anh chị em thân mến, tôi sát cánh với anh chị em và tôi cầu nguyện để anh chị em sẽ cảm nghiệm được niềm vui của Tin Mừng, hương vị và ánh sáng mà Chúa, “Thiên Chúa bình an” (Pl 4:9), “Thiên Chúa của mọi niềm an ủi” (2 Cr 1:3), mong muốn được tuôn đổ trên mỗi người trong anh chị em.

Comments are closed.

phone-icon