Tính hợp lý của đức tin

0

Chuyển ngữ: Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương
Theo Word Among Us

The Reasonableness of Faith

St. Thomas Aquinas, maverick for his time

Many people today view science -particularly the hard sciences, such as physics, chemistry, and biology – as the arbiters of what is real and what is true.

Catholics, especially Catholic young people, are not immune to this trend. The Catholic Church, of course, views science as a great good and encourages and participates in scientific exploration and research. But science offers only one avenue toward understanding and explaining our universe.

While science and reason play critical roles in human progress, for the disciple of Christ, they are only part of the picture. Faith is important as well. The Catholic Church teaches that faith and reason are, in fact, complementary:

Though faith is above reason, there can never be any real discrepancy between faith and reason. Since the same God who reveals mysteries and infuses faith has bestowed the light of reason on the human mind, God cannot deny himself, nor can truth ever contradict truth. Consequently, methodical research in all branches of knowledge, provided it is carried out in a truly scientific manner and does not override moral laws, can never conflict with the faith, because the things of the world and the things of faith derive from the same God. The humble and persevering investigator of the secrets of nature is being led, as it were, by the hand of God in spite of himself, for it is God, the conserver of all things, who made them what they are. (159)

We don’t have to choose between faith and reason. We need both. No one understood this better than St. Thomas Aquinas. A maverick for his time, Aquinas was not afraid to engage science and reason, because he saw the reasonability of faith. For God is the source of human reason. But God also transcends human reason, making faith – and therefore theology – necessary for understanding both God and his creation.

Discovering Truth. Born sometime between 1225 and 1227 near the town of Aquino, Italy, Aquinas was on the path to religious life from the time he was five years old. His parents enrolled him in the Benedictine Abbey of Monte Casino, where he completed a classical education before enrolling at the age of fourteen or fifteen at the University of Naples. There he encountered the metaphysics of Aristotle for the first time.

Metaphysics, in Aristotle’s day, was the study of the causes and principles of being: how something came to be and why it is what it is and not something else. Metaphysics (literally, “after” or “beyond” physics) also left room for the study of eternal beings, which Aristotle described as theology. Throughout Thomas’ education, he reflected on and debated the metaphysics of Aristotle, always trying to convince others of the goodness of the created order and the need to apply human reason to divine faith.

Eventually Aquinas joined the Order of Preachers, commonly referred to as the Dominicans. He completed his education under the tutelage of St. Albert the Great, a renowned scientist and fellow devotee of Aristotle. Aquinas went on to become a prolific writer, a noted theologian, a famed but controversial university professor, and a theological advisor to Popes Alexander IV and Urban IV.

The controversy surrounding Aquinas had to do, in part, with his appreciation for the Muslim philosophers Avicenna and Averroes – two contemporaries who had found uses for Aristotle’s metaphysics within Islamic theology. At the time, the Church was still embroiled in the Crusades. Christians looked upon Middle Eastern theology and philosophy with suspicion, even hatred. Aquinas put his own reputation into question and his future in jeopardy simply because he appreciated the teachings of these two Muslim scholars. Aquinas argued that the truth was the truth no matter where it was found. God can use everyone and everything – from the physical laws of the universe to the flourishing of human relationships, to the challenges of coping with one’s perceived enemies – to communicate his truth.

During this period, there was a great deal of theological controversy about the Eucharist. Was it merely a symbol, or was it literally the Real Presence of Jesus Christ under the appearance of bread and wine? Straying too far in the direction of symbol would make the bread and wine used in the celebration of the Mass almost meaningless. Going too far in a literal direction, which many theologians of the time were doing, raised concerns about receiving Communion.

For example, some people said that by chewing the consecrated bread, the faithful were literally chewing the body of the risen and ascended Jesus and therefore causing him harm. This misunderstanding led to stringent Communion practices, such as letting the host dissolve on the tongue instead of chewing it.

Using Aristotle’s metaphysics – his categories of matter and form in particular – Aquinas concluded that upon consecration, the essence or substance of the bread and wine were changed. Yet their matter, or accidents – that is, the properties of bread and wine – remained. Aquinas effectively integrated human reason with divine faith. His proposition, known as transubstantiation, later became an official teaching of the Catholic Church.

In his great work, the Summa Theologica, Aquinas not only welcomed reason but also used the physical world to explain his understanding of the faith. For example, in his proofs for the existence of God, he used categories like cause, motion, and order to explain God’s existence.

In Aquinas’ second proof of the existence of God, he argues that in nature, we observe with our physical senses and deduce with our reason that something cannot cause itself to be. For example, a baby requires conception, and a table does not make itself. The universe, and everything in it, did not cause itself. In order to be, the universe required an uncaused cause: that is, a cause that was independent of what it caused and not dependent on anything else in order to be.

In other words, the universe did not cause itself to be. Something outside of it caused it to be, and that something was not dependent on anything else for its existence. Therefore this something is eternal, and this something is God.

Aquinas’ Summa provides a model for doing theology that inspires Catholic theologians to this day. Because Aquinas was willing to see human reason as a gift from God that can help us understand our faith better, he indicates that faith is reasonable, and that theology should always be about faith seeking understanding. Therefore we should not be afraid to engage science and human reason from a faith perspective, and we should welcome truth wherever we find it.

When we pit faith and reason against each other, we end up shortchanging not only ourselves but also God. God wants us to see the reasonableness of our faith, because when we do, we experience not only his transcendence but also his closeness to us. As the psalm says,

All the earth falls in worship before you;
they sing of you, sing of your name! (Psalm 66:4)

Human reason proposes that creation testifies to God’s existence, and our faith confirms that faith and reason are complementary gifts from God.

Fr. Spitzer’s work can be found at crediblecatholic.com. There you will also see countless testimonies from young people of how his resources have reinspired their faith and changed their lives.

When the Lord created humanity, he gave us the gift of reason; and throughout the ages, he has invited us to receive the gift of faith. May he help us to see that faith and reason are gifts to use together to glorify him. And may we always strive for a faith that seeks understanding.

___________

This is a selection from They Saw Through God’s Eyes by Deacon Matthew Halbach (The Word Among Us Press, 2022).

Tính hợp lý của đức tin

Thánh Tôma Aquinô, người tiên phong – đi trước thời đại

Ngày nay nhiều người xem khoa học – đặc biệt là những khoa học tự nhiên, chẳng hạn như vật lý, hoá học và sinh học – là tiêu chuẩn, là trọng tài phán quyết những gì là thực và những gì là đúng, là chân lý.

Những người Công Giáo, đặc biệt là giới trẻ Công Giáo, cũng không tránh khỏi khuynh hướng này. Dĩ nhiên, Giáo Hội Công Giáo xem khoa học là một điều tốt đẹp lớn lao, nên khuyến khích và tham gia vào việc khám phá và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khoa học chỉ là một trong những con đường giúp  hiểu và giải thích vũ trụ của chúng ta.

Cho dẫu khoa học và lý trí đóng vai trò quan trọng, thiết yếu trong sự tiến bộ của con người, nhưng đối với người môn đệ của Chúa Kitô, khoa học chỉ là một phần của bức tranh toàn cảnh. Đức tin cũng quan trọng. Giáo Hội Công Giáo dạy rằng đức tin và lý trí thực ra đều bổ sung cho nhau:

Mặc dù đức tin cao hơn, vượt trên lý trí, nhưng không bao giờ có thể có bất cứ sự tương phản, mâu thuẫn giữa đức tin và lý trí. Bởi vì chính Thiên Chúa, Đấng mạc khải các mầu nhiệm và ban đức tin, cũng đã ban ánh sáng của lý trí cho tâm trí con người, Thiên Chúa không thể chối bỏ, mâu thuẫn với chính mình, chân lý cũng không bao giờ mâu thuẫn với chân lý. Vì thế, việc nghiên cứu có phương pháp về tất cả các lĩnh vực về tri thức, miễn là được thực hiện theo đúng phương pháp khoa học thực sự và không vi phạm các luật lệ đạo đức, có thể không bao giờ mâu thuẫn, đối nghịch với đức tin, bởi vì những thực tại của thế gian và thực tại của đức tin đều đến từ cùng một Thiên Chúa. Người nghiên cứu khiêm tốn và kiên trì đang tìm kiếm, khám phá những bí ẩn của tự nhiên đang được dẫn dắt bởi bàn tay của Thiên Chúa dù chính họ không nhận ra điều này, vì chính Thiên Chúa, Đấng bảo tồn tất cả, cũng chính là Đấng đã làm ra tất cả như chúng là (159).

Chúng ta không phải lựa chọn giữa đức tin và lý trí. Chúng ta cần cả hai. Không ai hiểu điều này hơn Thánh Tôma Aquinô. Là một người tiên phong, đi trước thời đại của mình, Aquinô không ngần ngại đối thoại với khoa học và lý trí, bởi vì ngài đã nhận ra tính hợp lý của đức tin. Vì Thiên Chúa là nguồn gốc của lý trí con người. Nhưng Thiên Chúa cũng siêu vượt trên lý trí con người, làm cho đức tin và vì thế thần học – cần thiết để hiểu Thiên Chúa và công cuộc sáng tạo của Người.

Khám Phá Chân Lý. Được sinh ra khoảng giữa năm 1225 và 1227 gần thị trấn Aquinô, nước Ý, Tôma Aquinô đã được hướng tới đời sống tu trì từ lúc mới năm tuổi. Cha mẹ ngài đã gửi ngài vào Tu viện Thánh Biển Đức ở Monte Casino, nơi ngài đã hoàn thành chương trình giáo dục cổ điển trước khi đăng ký học đại học ở Napoli ở tuổi mười bốn hay mười lăm. Ở đó lần đầu tiên ngài tiếp xúc với siêu hình học của Aristotle.

Vào thời của Aristotle, siêu hình học là việc nghiên cứu về những nguyên nhân và những nguyên tắc của hữu thể, của sự tồn tại: một vật xuất hiện như thế nào và tại sao nó như thế và không phải như cái khác. Siêu hình học (theo nghĩa đen là “sau khi” hay “vượt quá” vật lý) cũng được dùng cho việc nghiên cứu những hữu thể vĩnh cửu, điều mà Aristotle mô tả là thần học. Trong suốt quá trình học tập, Tôma Aquinô đã suy gẫm và tranh luận về siêu hình học của Aristotle, ngài luôn luôn cố gắng thuyết phục những người khác về sự tốt lành của trật tự đã được tạo dựng và sự cần thiết phải áp dụng lý trí con người vào đức tin thánh thiêng.

Cuối cùng, Tôma Aquinô đã gia nhập Dòng Giảng Thuyết, thường được biết đến là Dòng Đa Minh. Ngài đã hoàn tất việc học của mình dưới sự hướng dẫn của Albetô Cả, một nhà khoa học nổi tiếng và là người rất ủng hộ tư tưởng của Aristotle. Tôma Aquinô sau đó đã trở thành một nhà văn để lại rất nhiều tác phẩm, một nhà thần học nổi tiếng danh giá, một giáo sư nổi tiếng nhưng gây tranh cãi, và một nhà cố vấn thần học cho các Đức Giáo hoàng Alexander IV và Urban IV.

Cuộc tranh luận xoay quanh Aquinô một phần vì ngài đánh giá cao các triết gia Hồi Giáo là Avicenna và Averroes – hai người đồng thời đã tìm ra việc ứng dụng các siêu hình học của Aristotle vào trong thần học Hồi Giáo. Thời đó, Giáo Hội còn đang bị cuốn vào các Cuộc Thập Tự Chinh. Các Kitô hữu nhìn thần học và triết học của Trung Đông với sự nghi ngờ, thậm chí với sự thù nghịch. Aquinô đã đặt danh tiếng của mình vào sự nghi ngờ và tương lai của mình vào thế nguy hiểm chỉ vì ngài đánh giá cao những học thuyết của hai học giả Hồi Giáo này. Aquinô lập luận rằng chân lý vẫn là chân lý cho dù nó được tìm thấy ở đâu. Thiên Chúa có thể dùng mọi người và mọi thứ – từ những định luật vật lý của vũ trụ đến sự phát triển của các mối tương quan con người, đến những thách đố mình phải đối đầu với những người mình cho là kẻ thù – để thông truyền chân lý của Người.

Trong suốt giai đoạn này, có nhiều cuộc tranh luận thần học về Bí tích Thánh Thể. Có phải đó chỉ đơn thuần là một biểu tượng hay đó đúng là Sự Hiện Diện Thật Sự của Chúa Giêsu Kitô dưới hình bánh và rượu? Nếu đi quá xa trong chiều hướng của biểu tượng sẽ làm cho bánh và rượu được sử dụng trong việc cử hành Thánh Lễ gần như vô nghĩa. Còn nếu đi quá xa trong chiều hướng nghĩa đen, điều mà nhiều nhà thần học thời đó đang làm, lại khiến nảy sinh những lo ngại về việc rước Mình Thánh Chúa.

Chẳng hạn, một số người nói rằng bằng việc nhai bánh đã được truyền phép, người tín hữu thực sự đang nhai thân thể của Chúa Giêsu đã sống lại và đã lên trời và vì thế gây hại cho Người. Sự hiểu lầm này dẫn đến những quy định về việc Rước Lễ nghiêm ngặt, chẳng hạn như để bánh thánh tan ra trên lưỡi thay vì nhai bánh ấy.

Dựa vào các siêu hình của Aristotle – đặc biệt các phạm trù về chất thể và mô thể – Tôma Aquinô kết luận rằng vào lúc thánh hiến, truyền phép, thực thể hoặc bản chất của bánh và rượu đã được biến đổi. Tuy nhiên, chất thể hoặc các tuỳ thể của chúng – nghĩa là, các đặc tính của bánh và rượu vẫn giữ nguyên, không thay đổi. Aquinô đã liên kết cách hiệu quả lý trí con người với đức tin thần linh. Đề xuất, lập luạn của ngài, được gọi là biến thể luận, sau đó đã trở thành một giáo lý chính thức của Giáo Hội Công Giáo.

Trong tác phẩm vĩ đại của mình, Summa Theologica – Tổng luận Thần Học, Aquinô không chỉ đón nhận lý trí mà còn sử dụng thế giới vật lý để giải thích sự hiểu biết của ngài về đức tin. Chẳng hạn, trong các bằng chứng, minh chứng của ngài về sự hiện hữu của Thiên Chúa, ngài đã sử dụng các phạm trù như nguyên nhân, chuyển động và trật tự để giải thích sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Trong minh chứng thứ hai của mình về sự hiện hữu của Thiên Chúa, Aquinô lập luận rằng trong tự nhiên, chúng ta quan sát, nhận xét bằng những giác quan vật lý và suy luận bằng lý trí của mình rằng một vật không thể tự gây ra hay tự tạo ra chính nó. Chẳng hạn, một đứa trẻ cần phải có sự thụ thai, và một cái bàn không thể tự làm ra nó. Vũ trụ và mọi thứ trong đó, không tự làm ra chính mình. Để hiện hữu, vũ trụ đã cần phải có một nguyên nhân không do nguyên nhân nào khác: nghĩa là, một nguyên nhân độc lập với những gì nó gây ra hay làm nên và không lệ thuộc vào bất cứ thứ gì khác để hiện hữu.

Nói cách khác, vũ trụ đã không tự làm cho nó hiện hữu. Một điều gì đó bên ngoài nó đã làm cho nó hiện hữu và thứ đó không lệ thuộc vào bất cứ vật nào khác để hiện hữu và tồn tại. Vì thế thực tại này là vĩnh cửu và thực tại này là chính Thiên Chúa.

Tổng luận Thần học Summa Theologica của Aquinô cung cấp một mẫu thức cho việc làm thần học, vẫn còn truyền cảm hứng cho các nhà thần học Công Giáo cho đến ngày nay. Bởi vì Aquinô đã sẵn sàng nhìn nhận lý trí con người là một quà tặng từ Thiên Chúa có thể giúp chúng ta hiểu đức tin của mình cách tốt hơn, ngài chỉ ra rằng đức tin là hợp lý và rằng thần học luôn luôn nên hướng về đức tin, dựa vào đức tin để tìm kiếm sự hiểu biết. Do đó, chúng ta không nên sợ tiếp cận với khoa học và lý trí con người từ góc nhìn đức tin và chúng ta nên chấp nhận chân lý ở bất cứ nơi nào chúng ta tìm thấy.

Khi chúng ta đặt đức tin và lý trí vào vị thế đối nghịch nhau, cuối cùng chúng ta không chỉ bất công, không chỉ làm thiệt thòi cho chính mình mà còn cho cả Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn chúng ta nhìn nhận sự hợp lý của đức tin, bởi vì khi chúng ta làm như thế, chúng ta cảm nghiệm không chỉ sự siêu việt của Người mà còn cả sự gần gũi, thân thiện của Người đối với chúng ta. Như thánh vịnh khẳng định: “Toàn trái đất phải quỳ lạy tôn thờ, và đàn ca mừng Chúa, đàn ca mừng Thánh Danh” (Tv 66,4).

Lý trí con người cho rằng công trình tạo dựng chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa, và đức tin của chúng ta khẳng định rằng đức tin và lý trí là những quà tặng, nhưng ơn ban bổ sung cho nhau mà Thiên Chúa ban tặng nhân loại.

Các tác phẩm của cha Spitzer có thể được tìm thấy tại crediblecatholic.com. Ở đó bạn cũng sẽ thấy vô số các chứng từ của những người trẻ về việc các nguồn tài liệu, các tác phẩm của cha đã giúp khơi lại đức tin và đã thay đổi cuộc đời của họ như thế nào.

Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta quà tặng của lý trí; và qua các thời đại, Người đã mời gọi chúng ta đón nhận quà tặng, ơn ban đức tin. Nguyện xin Người giúp chúng ta nhận ra rằng đức tin và lý trí đều là những quà tặng cần được sử dụng cùng nhau hầu tôn vinh Người. Và nguyện xin cho chúng chúng ta luôn cố gắng không ngừng vì một đức tin tìm kiếm sự hiểu biết.

___________

Đây là một đoạn trích từ cuốn sách có tựa đề They Saw Through God’s Eyes  – Họ Đã Nhìn Qua Đôi Mắt của Thiên Chúa, tác giả là Phó tế Matthew Halbach (The Word Among Us Press, 2022).

Comments are closed.

phone-icon