Khi tưởng Chúa đang ngủ

0

Lm. Gioan Pheny Ngân Giang, OP

Có một kinh nghiệm mà hầu như người tin nào cũng từng trải qua đó là cảm giác Thiên Chúa thinh lặng. Chúng ta cầu nguyện mà như nói vào khoảng không; chúng ta nài xin mà chẳng thấy gì đổi thay. Cơn bão vẫn gào, còn trời cao thì vẫn lặng thinh. Trong những lúc ấy, lòng người dễ thốt lên những lời của các môn đệ mà chúng ta vừa: “Thầy ơi, cứu chúng con, chúng con chết mất.” Và đằng sau lời kêu cứu ấy thường ẩn một nỗi nghi ngờ âm thầm: phải chăng Chúa không còn quan tâm đến ta nữa!

Tin Mừng hôm nay gợi lại một chi tiết để chúng ta cùng suy gẫm. Trận cuồng phong trên biển hồ, theo nguyên ngữ, là một seismós (σεισμός) tức một “chấn động” lớn, cùng một từ mà thánh sử Mátthêu sẽ dùng cho cơn rung chuyển lúc Đức Giêsu tử nạn và lúc Người sống lại.[1] Nói khác đi, điều ập xuống con thuyền không phải là một cơn gió thoáng qua, nhưng là một sự rung chuyển tận nền. Vậy mà giữa cơn chấn động ấy, Đức Giêsu vẫn ngủ, và Người ngủ ngay trong con thuyền, giữa cùng một cơn bão với các môn đệ. Người không đứng trên bờ nhìn vào, cũng không ở một nơi nào khác. Sự thinh lặng của Chúa, vì thế, không có nghĩa là Người vắng mặt.

Đây là điểm mà tâm lý con người dễ vấp ngã. Chúng ta quen đồng hoá “không cảm thấy” với “không hiện diện”, nhưng hai điều ấy không phải là một. Quả thế, nhiều khi Chúa ở gần nhất đúng vào lúc ta cảm thấy Người xa nhất. Giấc ngủ của Đức Giêsu không phải dấu chỉ của sự dửng dưng, nhưng là dấu chỉ của một lòng tín thác trọn vẹn nơi Chúa Cha, một sự bình an mà Người muốn trao lại cho những kẻ đang hoảng loạn bên cạnh.

Có thể nói, nỗi sợ mang một khả năng kỳ lạ: nó thu hẹp tầm nhìn của ta lại chỉ còn ở con sóng. Khi hoảng loạn, người ta không còn thấy gì ngoài mối đe doạ trước mắt; cả sự hiện diện của Chúa ngay bên cạnh cũng bị con sóng che khuất. Các môn đệ ở chung một thuyền với Đấng làm chủ biển cả, vậy mà vẫn thấy mình sắp chết. Vấn đề, rốt cuộc, không phải là Chúa ở đâu, nhưng là chúng ta đang dán mắt vào đâu.

Chính ở đây, thứ tự hành động của Đức Giêsu trở nên đáng cho ta dừng lại. Trước khi ngăm đe gió biển, Người chạm vào nỗi sợ bên trong: “Sao nhát thế, hỡi những kẻ kém lòng tin?” Từ Hy-lạp oligópistoi (ὀλιγόπιστοι), “kẻ ít lòng tin”, cho thấy điều Người sửa dạy nơi các ông không phải là việc các ông kêu cứu, nhưng là nỗi sợ đã lấn át lòng tin.[2] Như thể cơn bão thật sự cần được dẹp trước hết là cơn bão trong lòng. Có những hoàn cảnh Chúa không lập tức đổi thay, nhưng Người ban cho ta một sự bình an để băng qua mà không bị nhấn chìm. Đó cũng là một phép lạ, dầu lặng lẽ hơn.

Rồi Người mới chỗi dậy, ra lệnh cho gió và biển, và biển lặng như tờ. Phản ứng của các môn đệ là một câu hỏi đầy kinh ngạc: “Ông này là người thế nào mà cả gió lẫn biển cũng phải tuân lệnh?” Trong Cựu Ước, chỉ một mình Thiên Chúa có quyền trên biển cả và sóng gió (xc. Tv 89,10; 107,29; G 38,8-11).[3] Như vậy, qua việc ra lệnh cho biển, Đức Giêsu mặc lấy chính cử chỉ vốn dành riêng cho Thiên Chúa. Đấng ngủ yên trong thuyền không phải một người thầy bất lực, nhưng là Đấng làm chủ cả những sức mạnh hỗn mang.

Bài đọc 1 mang lại cho chúng ta thêm một ánh sáng. Ngôn sứ Amốt dồn lời mình thành một chuỗi câu hỏi nhân quả rồi kết luận rằng: “Sư tử đã gầm lên, ai mà không sợ?” (Am 3,8).[4] Có một nỗi kính sợ lành mạnh trước Thiên Chúa tức là sự run rẩy đánh thức con người khỏi giấc ngủ tự mãn, và lời mời gọi khi ấy vang lên: “Hỡi Israel, hãy chuẩn bị gặp Thiên Chúa của ngươi” (Am 4,12). Khi đặt cạnh trình thuật cơn bão trên hồ Galilê, hai bản văn cùng soi sáng một sự thật: vấn đề không phải là hết sợ, nhưng là biết sợ đúng Đấng đáng kính sợ.[5] Chính nỗi kính sợ ấy giải thoát ta khỏi muôn nỗi sợ nhỏ nhặt khác; ai đã run rẩy trước Đấng làm chủ biển khơi thì không còn bị tê liệt trước bất cứ con sóng nào.

Như vậy, giá trị thiêng liêng cho hôm nay có thể tóm vào hai điều. Trước hết, sự thinh lặng của Chúa không phải là sự vắng mặt; Người vẫn ở trong thuyền ngay khi ta tưởng Người đã bỏ đi. Thứ đến, bình an Người ban đôi khi đến trước cả khi bão tan, vì cơn bão cần dẹp trước hết là cơn bão trong lòng chúng ta. Giữa muôn nỗi lo âu rất cụ thể của mình, ước gì chúng ta đừng vội đòi Chúa dẹp ngay cơn bão bên ngoài, nhưng trước hết xin Người dẹp cơn bão bên trong, và giúp chúng ta biết lặp lại thật chậm lời này: “Lạy Chúa, con tin Chúa đang ở trong con thuyền cuộc đời với con.”

[1] Danh từ seismós (σεισμός) ở Mt 8,24 (seismòs mégas) còn được Mátthêu dùng cho cơn rung chuyển lúc Đức Giêsu tử nạn (Mt 27,54) và phục sinh (Mt 28,2: seismòs… mégas); nhờ đó trình thuật dẹp bão mang âm hưởng của một biến cố cánh chung. Xc. W. D. Davies – D. C. Allison, A Critical and Exegetical Commentary on the Gospel according to Saint Matthew, ICC, t. II (Edinburgh: T&T Clark, 1991), chú giải Mt 8,23-27.

[2] Tính từ oligópistos (ὀλιγόπιστος) gần như là từ riêng của Mátthêu trong Tân Ước (xc. Mt 6,30; 8,26; 14,31; 16,8; danh từ oligopistía ở Mt 17,20), chỉ một lòng tin có thật nhưng bị nỗi sợ làm cho chao đảo, chứ không phải sự vô tín. Xc. U. Luz, Das Evangelium nach Matthäus, EKK I/2 (Zürich – Neukirchen-Vluyn: Benziger – Neukirchener, 1990), chú giải ad loc.

[3] Trong truyền thống Cựu Ước, quyền chế ngự biển khơi và sóng gió hỗn mang là đặc quyền của một mình Thiên Chúa Tạo Thành (xc. Tv 65,8; 89,10; 107,29; G 38,8-11). Xc. Điển ngữ thần học Thánh kinh (Vocabulaire de Théologie Biblique), bản dịch Phân khoa Thần học Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X (Đà Lạt, 1971), mục từ “Biển”.

[4] Chuỗi câu hỏi nhân quả ở Am 3,3-8 dẫn tới mệnh đề về sự cưỡng bách của lời ngôn sứ: một khi Thiên Chúa đã phán, người được Người chạm đến không thể không nói (c.8). Xc. The New Jerome Biblical Commentary (eds. R. E. Brown – J. A. Fitzmyer – R. E. Murphy; Englewood Cliffs, NJ: Prentice Hall, 1990), chú giải Am 3.

[5] Nỗi “kính sợ Thiên Chúa” trong Kinh Thánh không phải là sự khiếp đảm nô lệ, nhưng là thái độ tôn kính của thụ tạo trước Đấng Thánh, nền tảng của sự khôn ngoan (xc. Cn 1,7; Tv 111,10). Xc. Điển ngữ thần học Thánh kinh, mục từ “Kính sợ Thiên Chúa”.

Comments are closed.

phone-icon