Tập tục giữ chay trong thời kỳ đầu của Kitô giáo

0

TẬP TỤC GIỮ CHAY TRONG THỜI KỲ ĐẦU CỦA KITÔ GIÁO

Để chuẩn bị cho lễ Vượt Qua, ngay từ thuở ban đầu của Kitô giáo, các tín hữu đã tìm cách sắp xếp một thời gian tốt nhất để đón mừng mầu nhiệm trung tâm của ơn Cứu chuộc của Đức Kitô.

Lúc đầu thời gian chuẩn bị đón mừng lễ Vượt Qua chỉ có một ngày duy nhất. Dần dần thời gian này được kéo dài lâu hơn, gồm 6 tuần, và cuối cùng là 40 ngày (tiếng Latinh: “Quadragesimae”). Đối với các tín hữu, Mùa Chay bao gồm hai thực hành tôn giáo riêng biệt: ăn chay và đền tội.

Thời gian ăn chay được du nhập vào Giáo hội từ thế kỷ IV, khi đó tất cả các tín hữu từ 21 đến 60 tuổi buộc phải giữ chay hàng ngày. Thời gian trai tịnh bắt đầu từ ngày Chúa Nhật I Mùa Chay và kết thúc vào rạng đông ngày Chúa Phục Sinh. Tuy nhiên, vì ngày Chúa Nhật là một ngày nghỉ và nó không phù hợp với việc ăn chay, cho nên lúc đầu trong Giáo hội Latinh, các tín hữu giữ 36 ngày chay (trừ 6 ngày Chúa Nhật). Để bù vào 4 ngày chay nữa cho đủ với con số thánh thiêng là 40 ngày, dần dần các Kitô hữu bắt đầu thời kỳ trai tịnh từ Thứ tư trước Chúa Nhật I Mùa Chay.

Như vậy sang thế kỷ V các Giáo hội Tây Phương đã làm như vậy, trừ Giáo hội theo lễ nghi thánh Ambrôxiô. Tập tục này được lan rộng trong Giáo hội từ những năm cuối đời của thánh Grêgôriô Cả, giáo hoàng từ (590-604). Nhờ đó ta có thể xác định được niên biểu của sự chuyển dịch đầu Mùa Chay lên ngày Thứ Tư, sau này gọi là Thứ Tư Lễ Tro, là những năm đầu của thế kỷ VII, nghĩa là vào khoảng năm 600-604. Và như vậy Thứ Tư đó đã được gọi là Caput Jejunii, nghĩa là khởi đầu việc ăn chay, hoặc còn được gọi là Caput Quadragesime, nghĩa là Đầu Mùa Chay.

Nếu có những lý do chính đáng các tín hữu đã giữ chay 36 ngày, thì cũng có những lý do rất tuyệt để giải thích con số 40. Trước hết chúng ta thấy con số này có ở trong Sách Thánh và tượng trưng cho sự trừng phạt, phiền muộn, chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa hay lãnh nhận một sứ mạng quan trọng.

40 ngày và 40 đêm cơn lụt hồng thủy ngập chìm cõi đất và hủy diệt nhân loại tội lỗi (x. St 7,12); 40 năm dân riêng của Chúa lưu lạc thang lang trong sa mạc, chịu trừng phạt vì tội vô ơn, trước khi họ được dẫn vào Đất hứa (x. Đnl 8,2); 40 ngày tiên tri Êdekiel phải nằm nghiêng bên phải, tượng trưng cho hình phạt của Thiên Chúa sắp giáng xuống trên thành Giêrusalem (x. Ed 4,6); 40 ngày ông Môsê ăn chay trên núi Sinai trước khi chờ đợi Thiên Chúa mạc khải lề luật, mệnh lệnh và vinh quang của Ngài (x. Xh 24,12-17); 40 ngày tiên tri Êlia rong ruổi trong sa mạc để ẩn trốn cơn báo thù của nữ hoàng Ideven tôn thờ ngẫu tượng và để được Giavê an ủi và dạy dỗ (1V 19,1-8). Chính Đức Giêsu sau khi chịu phép rửa tại sông Giorđan và trước khi bắt đầu cuộc đời hoạt động công khai, cũng đã trải qua 40 ngày và 40 đêm cầu nguyện và ăn chay trong hoang địa (x. Mt 4,2).

Lùi lại thời xa xưa hơn nữa, trong nhiều dân tộc, tập tục giữ chay được đặt thành luật tôn giáo. Sách thánh của Ấn Độ, các bản văn viết trên giấy cói papyrus của Ai Cập cổ đại, và các sách mosaic đều chứa vô số mệnh lệnh liên quan đến việc ăn chay.

Các đan sĩ Latinh thời cổ cũng từng giữ 3 mùa chay: mùa chính là trước lễ Vượt qua; một mùa trước lễ Giáng sinh, gọi là Mùa chay thánh Martinô; và mùa thứ ba sau lễ Ngũ Tuần, gọi là Mùa chay Thánh Gioan Tẩy giả.

Bên Giáo hội Đông Phương việc giữ chay thường nghiêm túc hơn bên Tây Phương. Thật vậy trong Giáo hội Chính thống Hy Lạp người ta buộc phải giữ chay suốt 40 ngày trước lễ Vượt Qua, không ai được miễn trừ luật này, kể cả Đức Thượng phụ. Các đan sĩ Cenobite ngày xưa cũng giữ chay chặt chẽ để tưởng nhớ Đức Giêsu trong sa mạc; các đan sĩ Ai Cập không ăn quá 300g bánh mì trong một ngày, ăn một nửa ban sáng và một nửa ban tối với một ngụm nước.

Trong Mùa Chay, lúc đầu họ chỉ được phép ăn mỗi ngày một bữa mà thôi. Vào thế kỷ IV, người ta dùng bữa ăn duy nhất đó sau khi mặt trời lặn. Về sau thì được phép ăn vào khoảng 3 giờ chiều. Lý do có lẽ một phần vì sức khoẻ thể lý và tinh thần không còn được như các thế kỷ trước nữa. Mặt khác, đầu óc vụ luật dần dần cũng lan tràn, giống như những người Biệt phái, theo nghĩa là để duy trì tập tục giữ chay cho đến sau khi đọc Kinh Chiều (để ăn vào lúc mặt trời lặn), thì người ta đọc Kinh Chiều vào lúc 2 giờ (để ăn vào lúc 3 giờ chiều). Sang thế kỷ XII, dần dần người ta du nhập tục lệ ăn vào bữa trưa. Kể từ thế kỷ XV, giáo luật cho phép được dùng bữa trưa, và giữa hai bữa trưa thì cũng được dùng tí chút đồ lỏng: lúc đầu là nước lã, tiếp đó là sữa, cà-phê, và thậm chí một lát bánh mì, gọi là “colatio”. Sang thời cận đại, không còn buộc phải ăn chay trường nữa.

Việc kiêng thịt cũng ngặt không kém. Lúc đầu tuyệt đối không được ăn thịt trong Mùa Chay, rồi dần dần được phép dùng trong bữa chính, cho đến khi được phép ăn thịt 3 lần trong một tuần.

Ngày xưa hàng năm Rôma ban hành những khoản luật cưỡng chế phải giữ chay qua sắc lệnh nổi tiếng “Sắc lệnh chấp hành mùa Chay”. Ai vi phạm không tuân giữ thì sẽ gặp những rắc rối nghiêm trọng. Luật nghiêm khắc đến nỗi Công đồng Tôleđô VII năm 653 đã ra lệnh cho những ai, nếu không thực sự cần thiết mà ăn thịt trong Mùa Chay, thì không được rước lễ vào ngày Phục Sinh.

Còn về việc đền tội dành cho những tội nhân công khai thì bắt đầu với việc tách họ ra khỏi các buổi Phụng vụ Thánh Thể. Nhưng chúng ta tìm thấy đúng luật này trong Công đồng Benevento năm 1901, khoản luật số 4.

Ánh Sáng tổng hợp và chuyển ý từ http://www.zenit.org/article-29648?l=italian ngày 21/02/2012

Comments are closed.