Tông huấn Sacramentum Caritatisa – Phần 3

0

TÔNG HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

SACRAMENTUM CARITATIS

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐÍCTÔ XVI

GỬI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC, PHÓ TẾ,

TU SĨ VÀ TÍN HỮU GIÁO DÂN

VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ,

NGUỒN MẠCH VÀ CHÓP ĐỈNH

CỦA ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ CỦA HỘI THÁNH

Roma 22/02/2007 – 13/3/2007

ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN

Trực thuộc HĐGMVN, chuyển ngữ

PHẦN THỨ BA

THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM ĐỂ SỐNG

Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi,

và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào,

thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57).

 

Khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống Kitô hữu

Việc phượng tự thiêng liêng – logiké latreía (Rm 12,1)

70. Nói về việc hiến ban sự sống của chính mình, Chúa Giêsu, Đấng đã trở nên lương thực chân lý và tình yêu cho chúng ta, đã đảm bảo với chúng ta rằng “ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,51). Nhưng “sự sống vĩnh cửu” này đã khởi sự nơi chúng ta trong thời gian, nhờ sự biến đổi mà hồng ân Thánh Thể sinh ra nơi chúng ta: “Kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57). Những lời này của Chúa Giêsu giúp chúng ta hiểu rằng chính trong mầu nhiệm chúng ta tin và cử hành chứa đựng một sự năng động làm nên nguyên lý của đời sống mới nơi chúng ta và làm nên khuôn mẫu cho đời sống kitô hữu. Khi hiệp thông với Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, chúng ta luôn được thông dự vào sự sống thần linh cách trưởng thành và ý thức hơn. Ở đây chúng ta có thể áp dụng điều thánh Augustinô đã nói trong quyển Tự Thuật của ngài về Lời (logos) vĩnh cửu như là lương thực của linh hồn; nhấn mạnh đến tính nghịch lý của lương thực này, vị thánh tiến sĩ tưởng như mình được nghe: “Ta là lương thực cho những người cao thượng. Hãy trở nên cao thượng, và con sẽ ăn Ta, con sẽ không biến đổi Ta thành con, giống như lương thực thân xác con; nhưng con sẽ được biến đổi thành Ta”[1]. Thực vậy, không phải của ăn Thánh Thể biến thành chúng ta, nhưng chính chúng ta được biến đổi cách mầu nhiệm bởi Thánh Thể. Đức Kitô nuôi dưỡng chúng ta bằng cách nối kết chúng ta với Người; “Người lôi kéo chúng ta đến với Người”[2].

Việc cử hành Thánh Thể, với tất cả sức mạnh của mình, tỏ hiện như là nguồn suối và chóp đỉnh của đời sống Kitô giáo, vì nó đồng thời vừa là khởi đầu vừa là hoàn tất phượng tự mới và tối hậu, “logiké latreía[3]. Về điều này, những lời của thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma là cách trình bày tổng hợp nhất về cách thức nhờ đó Thánh Thể biến đổi tất cả đời sống chúng ta thành việc phượng tự thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Ngài” (Rm 12,1). Trong lời khuyên nhủ này, hình ảnh phượng tự mới tỏ hiện như là việc hiến dâng trọn vẹn con người trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh. Sự lưu tâm của vị Tông đồ đối với việc hiến dâng thân xác của chúng ta nhấn mạnh tính cụ thể và nhân bản của việc phượng tự không chút coi thường thân xác. Cũng liên quan đến điểm này, vị thánh thành Hippone còn nhắc nhở chúng ta rằng nơi “hy lễ của những người Kitô hữu, dù đông đảo đến đâu, nhưng trong Đức Kitô, chúng ta chỉ làm nên một thân thể duy nhất. Như người tín hữu biết, Hội Thánh cử hành mầu nhiệm ấy trong bí tích bàn thờ, nơi Hội Thánh nhận ra mình được hiến dâng trong chính hy lễ mình dâng hiến”[4]. Thực tế, giáo lý công giáo khẳng định rằng Thánh Thể, với tư cách là hy lễ của Đức Kitô, cũng là hy lễ của Hội Thánh, và như thế là của mọi tín hữu.[5] Việc nhấn mạnh đến hy lễ ở đây – nghĩa là “làm cho nên thánh thiêng” – nói lên tất cả chiều sâu hiện sinh bao hàm trong sự biến đổi thực tại nhân loại của chúng ta, một thực tại được chiếm hữu bởi Đức Kitô (x. Pl 3,12).

Hiệu quả toàn vẹn của việc tôn thờ Thánh Thể

71. Việc phượng tự mới của người kitô hữu bao trùm hết mọi khía cạnh của đời sống, bằng cách biến đổi chính đời sống này: “Vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1Cr 10,31). Trong mọi hành vi của đời sống, người Kitô hữu được mời gọi bày tỏ việc phượng tự đích thực dành cho Thiên Chúa. Chính trong việc phượng tự đích thực mà căn tính Thánh Thể của đời sống Kitô hữu bắt đầu hình thành. Vì liên hệ đến cả thực tại nhân loại của tín hữu trong đời sống cụ thể hằng ngày, Thánh Thể có khả năng ngày qua ngày tạo nên sự biến đổi nơi con người, được mời gọi trở nên hình ảnh của Con Thiên Chúa (x. Rm 8,29tt). Chẳng có gì thực sự nhân loại mà không tìm thấy trong bí thích Thánh Thể khuôn mẫu thích hợp để được sống cách sung mãn, từ tư tưởng và tình cảm cho đến lời nói và việc làm. Tất cả giá trị nhân loại của sự mới mẻ triệt để mà Đức Kitô mang đến trong Thánh Thể tỏ hiện ở đây: việc phượng tự dành cho Thiên Chúa trong đời sống con người không thể bị đóng khung trong một thời khắc đặc biệt và riêng tư nào đó, nhưng do tự bản chất, việc phượng tự này hướng tới việc thấm nhập từng khía cạnh của thực tại con người. Vì thế việc phượng tự đẹp lòng Thiên Chúa trở thành một cách thức mới mẻ để sống mọi hoàn cảnh của cuộc đời, ở đó mọi nét đặc thù đều được thăng hoa trong mức độ chúng được sống trong tương quan với Đức Kitô và được hiến dâng cho Thiên Chúa. “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống, và sự sống của con người là được nhìn thấy Thiên Chúa”[6].

“Iuxta dominicam viventes” –

Sống đúng theo ngày Chúa Nhật

72. Tính mới mẻ triệt để mà Thánh Thể mang đến cho đời sống con người đã thể hiện nơi ý thức Kitô hữu ngay từ buổi đầu. Các tín hữu đã sớm nhận ra tầm ảnh hưởng sâu sắc của việc cử hành Thánh Thể trên lối sống của họ. Bởi thế, thánh Inhaxiô thành Antiôkia đã diễn tả chân lý này khi gọi Kitô hữu là những người “đã đạt tới niềm hy vọng mới”; thánh nhân đã giới thiệu họ như là những người sống “đúng theo ngày Chúa Nhật” (iuxta dominicam viventes)[7]. Công thức của vị tử đạo cao cả thành Antiôkia rõ ràng đã làm sáng tỏ mối liên quan giữa thực tại Thánh Thể và cuộc đời Kitô hữu trong cuộc sống hằng ngày. Thói quen đặc thù của những người Kitô hữu họp nhau lại ngày thứ nhất sau ngày sabát để cử hành sự phục sinh của Đức Kitô – theo tường thuật của thánh Justinô tử đạo[8] – cũng là yếu tố xác định khuôn mẫu của đời sống được đổi mới nhờ gặp gỡ Đức Kitô. Công thức của thánh Inhaxiô – “Sống đúng theo ngày Chúa Nhật” – cũng nhấn mạnh giá trị mô phạm của ngày thánh này so với những ngày khác trong tuần lễ. Thật vậy, sự khác biệt của Chúa Nhật không đơn giản là việc ngừng các hoạt động thường ngày, như thể một đóng mở ngoặc xen vào giữa nhịp sống bình thường của các ngày. Những người Kitô hữu đã luôn xem ngày này như là ngày thứ nhất của tuần lễ, bởi vì trong ngày này họ tưởng nhớ đến sự mới mẻ triệt để được Đức Kitô mang đến. Vì thế Chúa Nhật là ngày mà người Kitô hữu nhận ra khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống mình, theo đó họ được gọi để sống luôn mãi. “Sống đúng theo ngày Chúa Nhật” có nghĩa là sống trong ý thức về sự tự do mà Đức Kitô mang đến và hoàn tất cuộc sống mình như một hiến lễ dâng lên Thiên Chúa, để sự chiến thắng của Người được tỏ bày cách trọn vẹn cho mọi người bằng một lối sống được đổi mới tận sâu thẳm.

Sống giới răn ngày Chúa Nhật

73. Ý thức về nguyên lý sống mới mà Thánh Thể mang đến cho người Kitô hữu, các Nghị phụ đã khẳng định lại tầm quan trọng của giới răn giữ ngày Chúa Nhật đối với mọi tín hữu như là nguồn tự do đích thực, hầu có thể sống những ngày khác trong tuần tuỳ thuộc vào điều họ đã cử hành vào “Ngày của Chúa”. Thật vậy, đời sống đức tin sẽ gặp nguy hiểm khi người ta không còn cảm thấy khao khát tham dự vào việc cử hành Thánh Thể, là lúc tưởng niệm chiến thắng phục sinh. Tham dự vào cộng đoàn phụng vụ Chúa Nhật, cùng với mọi anh chị em của chúng ta làm nên một thân thể duy nhất trong Đức Giêsu Kitô, là đòi buộc của lương tâm Kitô hữu đồng thời cũng đào luyện lương tâm Kitô hữu. Mất ý thức về ngày Chúa Nhật như là Ngày của Chúa cần phải thánh hóa là triệu chứng mất đi ý thức chân chính của tự do Kitô hữu, sự tự do của những người con cái Thiên Chúa.[9] Về điều này, những nhận xét liên quan đến những chiều kích khác nhau của ngày Chúa Nhật đối với người Kitô hữu trong Tông thư Ngày của Chúa (Dies Domini)[10], của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, vị tiền nhiệm của tôi, vẫn còn giá trị quý báu: Chúa Nhật là Ngày của Chúa (Dies Domini), khi quy chiếu vào công trình sáng tạo; Chúa Nhật là Ngày của Đức Kitô (Dies Christi) với tư cách là ngày của sáng tạo mới và của hồng ân Thánh Thần mà Chúa Phục Sinh trao ban; Chúa Nhật là Ngày của Hội Thánh (Dies Ecclesiae) hiểu như là ngày cộng đoàn Kitô hữu họp nhau để cử hành; Chúa Nhật là Ngày của con người (Dies hominis) hiểu như là ngày vui mừng, nghỉ ngơi và bác ái huynh đệ.

Một ngày như thế rõ ràng là ngày lễ quan trọng hàng đầu, ngày mà mọi tín hữu có thể chứng tỏ trong môi trường mình sống như là người loan báo và gìn giữ ý nghĩa của thời gian. Thật vậy, ý nghĩa Kitô giáo của cuộc sống và một cách thức mới mẻ sống chiều kích thời gian, các mối tương quan, công việc, sự sống và sự chết bắt nguồn từ ngày này. Vì thế thật thích hợp khi vào Ngày của Chúa, cùng với việc cử hành Thánh Thể Chúa Nhật, các nhóm trong Hội Thánh tổ chức những cách biểu lộ đặc thù của cộng đoàn Kitô hữu: gặp gỡ thân mật, sáng kiến giáo dục Kitô giáo cho các trẻ em, những người trẻ và những người trưởng thành, những cuộc hành hương, việc bác ái và các loại gặp gỡ cầu nguyện khác. Dù rằng chiều thứ Bảy, kể từ Kinh chiều I, đã thuộc về ngày Chúa Nhật, và bởi đó được phép hiểu là đã chu toàn giới răn giữ ngày Chúa Nhật từ chiều thứ Bảy, nhưng vì những lý do rất quan trọng nêu trên, nên thật cần thiết nhắc lại rằng chính ngày Chúa Nhật đáng được thánh hoá, để ngày này không kết thúc như một ngày “vắng bóng Thiên Chúa”[11].

Ý nghĩa của nghỉ ngơi và lao động

74. Sau hết, đối với thời đại của chúng ta, thật khẩn thiết để nhắc lại rằng Ngày của Chúa cũng là ngày nghỉ làm việc. Chúng tôi rất ước mong điều đó cũng được nhìn nhận bởi xã hội dân sự, sao cho mỗi người dân được nghỉ làm việc mà không phải bị phạt. Thật vậy, những người Kitô hữu, khi đối chiếu với ý nghĩa của ngày sabát nơi truyền thống Do Thái, đã luôn xem Ngày của Chúa như ngày nghỉ ngơi, thoát khỏi những lao nhọc thường ngày. Điều đó có một ý nghĩa rõ ràng được thiết định cho con người, xác nhận tính tương đối của lao động: lao động là vì con người chứ không phải con người vì lao động. Từ nguyên lý này, thật dễ dàng nhận ra sự bảo vệ cho chính con người, để họ được giải thoát khỏi một hình thức nô lệ nào đó. Như tôi đã có dịp khẳng định, “lao động có tầm quan trọng hàng đầu cho việc thành toàn của con người và sự phát triển của xã hội, chính vì thế, lao động nên được tổ chức và thực hiện trong sự kính trọng toàn vẹn phẩm giá con người cũng như nhằm phục vụ công ích. Đồng thời, không thể chấp nhận việc con người bị nô lệ hoá bởi lao động, thần tượng hoá lao động, muốn tìm thấy nơi lao động ý nghĩa chung cuộc và quyết định của đời sống”[12]. Chính trong ngày được thánh hiến cho Thiên Chúa mà con người hiểu được ý nghĩa cuộc sống và lao động của mình.[13]

Tụ họp ngày Chúa Nhật khi thiếu vắng linh mục

75. Khi đã khám phá lại ý nghĩa của việc cử hành ngày Chúa Nhật đối với đời sống của những người Kitô hữu, thì đương nhiên phải đặt vấn đề về những cộng đoàn Kitô hữu thiếu vắng linh mục, và vì thế không thể cử hành Thánh Lễ vào Ngày của Chúa. Về vấn đề này, phải nhận rằng chúng ta đang đối diện với những hoàn cảnh rất khác biệt nhau. Trước hết, Thượng Hội Đồng Giám Mục đã khuyên nhủ các tín hữu hãy đi đến một trong những nhà thờ của giáo phận, nơi chắc chắn có linh mục dâng Thánh Lễ, cho dù điều đó đòi hỏi phải hy sinh.[14] Trái lại, nơi đâu vì quá xa nhà thờ có linh mục dâng lễ, làm cho các tín hữu trong thực tế không thể đi tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật được, thì điều quan trọng là các cộng đoàn Kitô hữu phải tụ họp lại để chúc tụng Chúa và để tưởng niệm ngày đã được thánh hiến cho Chúa. Tuy nhiên, khi thực hành điều đó, cần phải có sự giáo dục thích đáng về sự khác biệt giữa Thánh Lễ và những buổi tụ họp ngày Chúa Nhật khi thiếu vắng linh mục. Trong trường hợp này, việc săn sóc mục vụ của Giáo hội phải tỏ ra quan tâm sao cho phụng vụ Lời Chúa phải được tổ chức dưới sự chủ toạ của một phó tế hoặc một người đã được trao phó trách nhiệm cộng đoàn cách hợp pháp bởi người có thẩm quyền, và phải diễn ra theo một nghi thức đặc biệt dùng cho việc cử hành này, được soạn thảo và chuẩn y bởi các Hội Đồng Giám Mục.[15] Tôi lặp lại, việc cho phép được trao Mình Thánh Chúa trong các buổi phụng vụ này thuộc về các Đấng Bản Quyền, sau khi thẩm định cách cẩn thận những giải pháp thích đáng để thi hành. Ngoài ra, còn phải lo liệu sao cho những buổi tụ họp như thế không đưa đến sự lẫn lộn về vai trò trung tâm của linh mục và về phương diện bí tích trong đời sống giáo hội. Vai trò quan trọng của người giáo dân cần phải được nhìn nhận cách thích đáng vì sự quảng đại của họ nhằm phục vụ các cộng đoàn Kitô hữu, nhưng chẳng bao giờ có thể làm mờ nhạt đi thừa tác vụ không thể thay thế của các linh mục đối với đời sống của Hội Thánh.[16] Vì thế, phải quan tâm cẩn thận sao cho những buổi tụ họp khi thiếu vắng linh mục không tạo cơ hội cho những cách nhìn về Hội Thánh không còn trung thành với chân lý Phúc âm và truyền thống của Hội Thánh. Đúng hơn, những buổi tụ họp này phải là những dịp cầu nguyện đặc biệt dâng lên Thiên Chúa để xin Ngài ban cho những linh mục thánh thiện như lòng Ngài mong ước. Về điều này, thật cảm động khi đọc lại những lời Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã viết trong Thư gửi các linh mục ngày Thứ Năm Tuần Thánh năm 1979, nhắc đến những nơi mà các tín hữu, khi bị tước mất linh mục bởi một chế độ độc tài, vẫn qui tụ lại trong một nhà thờ hay trong một cung thánh, trưng bày dây các phép mà họ còn giữ được, đọc những lời nguyện của phụng vụ Thánh Thể, giữ thinh lặng “lúc truyền phép”, để chứng tỏ rằng họ hết sức khao khát “nghe những lời mà duy chỉ có môi miệng của các linh mục mới có thể công bố một cách hữu hiệu”[17]. Trong cách nhìn này, và vì sự thiện hảo không thể sánh ví bắt nguồn từ việc cử hành Hy Tế Thánh Thể, tôi xin tất cả các linh mục hãy sẵn lòng thực sự và cụ thể đi viếng thăm thường xuyên nhất có thể những cộng đoàn được trao phó cho mình chăm sóc mục vụ, sao cho các cộng đoàn này không phải thiếu vắng quá lâu Bí tích Tình Yêu.

Một khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống kitô hữu: thuộc về Hội Thánh

76. Tầm quan trọng của Chúa Nhật hiểu như là Ngày của Hội Thánh (Dies Ecclesiae) dẫn chúng ta vào mối tương quan nội tại giữa chiến thắng của Chúa Giêsu trên sự dữ cũng như sự chết và sự tuỳ thuộc của chúng ta vào Thân Thể Người là Hội Thánh. Thật vậy, trong Ngày của Chúa, mọi người kitô hữu cũng tìm lại được chiều kích cộng đoàn của đời sống được cứu chuộc của mình. Tham dự vào hành vi phụng vụ, hiệp thông với Mình và Máu Đức Kitô cũng có nghĩa là làm cho chúng ta thuộc về Đấng đã chết vì chúng ta ngày càng mật thiết và sâu xa hơn (x. 1Cr 6,19tt; 7,23). Quả thật, ai ăn Đức Kitô sẽ sống bởi Người. Ý nghĩa sâu xa của sự hiệp thông các thánh (communio sanctorum) được hiểu trong mối tương quan với mầu nhiệm Thánh Thể. Sự hiệp thông luôn có một nghĩa không thể tách rời giữa chiều đứng và chiều ngang: hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với anh chị em của chúng ta. Hai chiều kích này gặp nhau cách bí tích trong hồng ân Thánh Thể. “Ở đâu sự hiệp thông với Thiên Chúa, nghĩa là với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, bị phá hủy, ở đó cội rễ và nguồn suối của sự hiệp thông giữa chúng ta cũng bị phá hủy. Và ở đâu chúng ta không sống mối hiệp thông với nhau, ở đó sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi không còn sống động và cũng không còn chân thật”[18]. Được kêu gọi trở nên chi thể của Đức Kitô và bởi đó cũng là chi thể của nhau (x. 1Cr 12,27), chúng ta hợp thành một thực tại tự bản chất được xây dựng trên Bí tích Rửa Tội và được nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh Thể, một thực tại cần phải có cách diễn tả hữu hình trong đời sống các cộng đoàn của chúng ta.

Rõ ràng, khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống Kitô hữu là một khuôn mẫu giáo hội và cộng đoàn. Qua Giáo Phận và các giáo xứ hiểu như là cấu trúc cơ bản của Hội Thánh trên một lãnh thổ riêng, mọi tín hữu có thể có kinh nghiệm cụ thể rằng mình thuộc về Thân Thể Đức Kitô. Những hiệp hội, những phong trào trong Hội Thánh và những cộng đoàn mới – với sự sinh động của đặc sủng được Chúa Thánh Thần ban tặng cho thời đại chúng ta, cũng như những Hội dòng sống đời thánh hiến – có bổn phận góp phần đặc biệt của mình để giúp các tín hữu nhận thức được rằng họ thuộc về Chúa (x. Rm 14,8). Dù rằng không phải do ngẫu nhiên mà có, nhưng hiện tượng tục hoá mang nặng tính cá nhân chủ nghĩa đã gây ra những hệ quả tai hại, nhất là nơi những người sống cô lập vì thiếu hiểu biết ý nghĩa của sự tuỳ thuộc. Ngay từ lúc khởi đầu, Kitô giáo luôn mang tính cộng đoàn, một hệ thống những mối tương quan không ngừng được thông truyền sức sống bởi việc lắng nghe Lời, cử hành Thánh Thể, và được linh hoạt bởi Chúa Thánh Thần.

Linh đạo và văn hoá Thánh Thể

77. Một cách đầy ý nghĩa, các Nghị phụ đã khẳng định rằng “các tín hữu Kitô cần có một sự hiểu biết sâu sắc hơn những mối tương quan giữa Thánh Thể và đời sống thường ngày. Linh đạo Thánh Thể không chỉ là việc tham dự Thánh Lễ và tôn sùng Thánh Thể. Linh đạo này bao trùm toàn bộ đời sống”[19]. Việc nhấn mạnh này mặc lấy một ý nghĩa đặc biệt đối với tất cả chúng ta ngày nay. Phải nhận ra rằng một trong những tác hại trầm trọng nhất của sự tục hóa vừa được nhắc đến là đã đẩy đức tin Kitô giáo ra bên lề cuộc sống, như thể đức tin là vô ích cho tiến trình cụ thể của đời sống con người. Thất bại của lối sống “như thể không có Thiên Chúa” giờ đây hiện ra nhan nhãn trước mắt mọi người. Ngày nay, thật cần thiết khám phá lại rằng Đức Giêsu Kitô không đơn giản chỉ là một xác tín cá nhân hay một học thuyết trừu tượng, nhưng là một con người đích thực, mà sự hội nhập của Người vào trong lịch sử có khả năng làm mới mẻ đời sống của mọi người. Chính vì thế, Thánh Thể, hiểu như là nguồn suối và chóp đỉnh của đời sống và sứ vụ của Hội Thánh, phải được thể hiện trong linh đạo và đời sống “theo Thánh Thần” (Rm 8,4tt; x. Gl 5,16.25). Thật ý nghĩa khi thánh Phaolô, trong một đoạn của Thư gửi tín hữu Rôma, mời gọi sống việc phượng tự thiêng liêng mới mẻ, cùng lúc nhắc nhở sự cần thiết thay đổi lối sống và cách suy nghĩ: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2). Bằng cách này, vị Tông đồ dân ngoại nhấn mạnh mối liên hệ giữa việc phượng tự thiêng liêng đích thực và sự cần thiết có được một cách thức mới mẻ nhận thức cuộc sống và định hướng đời sống mình. Đổi mới cách suy nghĩ là thành phần của khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống kitô hữu, “Như vậy, chúng ta sẽ không còn là những trẻ nhỏ, bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” (Ep 4,14).

Thánh Thể và việc loan báo Tin Mừng cho các nền văn hoá

78. Hệ quả của tất cả những điều đã nói trên là: Mầu nhiệm Thánh Thể dẫn chúng ta vào cuộc đối thoại với các nền văn hoá khác biệt, nhưng cũng đưa chúng ta vào trong chiều hướng thách đố các nền văn hoá này.[20] Phải nhận ra tính cách liên văn hoá của việc phượng tự mới này, của việc phượng tự xứng hợp (logiké latreía). Sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô và việc ban tràn đầy Chúa Thánh Thần là những biến cố có thể không ngừng đối chiếu với mọi thực tại văn hoá, để gieo vào đó men Phúc Âm. Điều đó bao hàm một sự dấn thân đầy xác tín để cổ võ việc loan báo Tin Mừng cho các nền văn hoá, với ý thức rằng chính Đức Kitô là chân lý của mọi người và của toàn thể lịch sử nhân loại. Thánh Thể trở thành tiêu chuẩn phân định tất cả những điều Kitô giáo phải đối diện nơi các nền văn hoá khác biệt. Chính trong tiến trình quan trọng này mà chúng ta có thể hiểu trọn vẹn ý nghĩa những lời của thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thesalônica: “Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ” (5,2).

Thánh Thể và tín hữu giáo dân

79. Trong Đức Kitô, Đầu của Hội Thánh là Thân Thể Người, mọi người Kitô hữu hợp thành “giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Ngài” (1Pr 2,9). Là mầu nhiệm để sống, Thánh Thể được hiến ban cho mỗi chúng ta trong điều kiện hiện tại, làm cho hoàn cảnh sống của chúng ta trở nên nơi sống hằng ngày sự mới mẻ của Kitô giáo. Nếu Hy Tế Thánh Thể nuôi dưỡng và làm lớn lên nơi chúng ta điều đã được trao ban trong Bí tích Rửa Tội, nhờ đó tất cả chúng ta được mời gọi đến sự thánh thiện,[21] điều đó phải xuất hiện và bày tỏ cách đích thực nơi những hoàn cảnh hoặc tình trạng sống của mỗi người Kitô hữu. Ngày qua ngày, họ trở nên một phượng tự đẹp lòng Thiên Chúa bằng cách sống ơn gọi của chính mình. Khởi điểm từ sự tập hợp phụng vụ, chính Bí tích Thánh Thể dẫn đưa chúng ta vào trong thực tại hằng ngày để mọi sự được thực hiện vì vinh quang của Thiên Chúa.

Bởi vì thế giới là “cánh đồng” (Mt 13,38) trong đó Thiên Chúa gieo vào hạt giống tốt là con cái Ngài, các Kitô hữu giáo dân, do bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, và được củng cố nhờ Thánh Thể, được mời gọi sống tính mới mẻ triệt để được Đức Kitô mang đến ngay giữa lòng cuộc sống của họ.[22] Họ cần nuôi dưỡng ước muốn này: Thánh Thể luôn biểu lộ ngày càng sâu xa hơn trong đời sống thường ngày của họ, làm cho họ trở thành những chứng nhân nhất quán trong môi trường làm việc của họ và trong khắp xã hội.[23] Tôi đặc biệt khuyến khích các gia đình, để họ có thể tìm thấy nguồn cảm hứng và sức mạnh nơi Bí tích này. Tình yêu giữa người nam và người nữ, việc tiếp nhận sự sống, nhiệm vụ giáo dục con cái, tỏ ra là những nơi ưu tiên, nơi mà Thánh Thể có thể thực hiện khả năng biến đổi và dẫn đưa cuộc sống đến sự tròn đầy ý nghĩa của nó.[24] Các mục tử đừng bao giờ quên sót bổn phận trợ giúp, giáo dục và khuyến khích các tín hữu giáo dân sống cách trọn vẹn ơn gọi nên thánh của họ giữa thế gian này, thế gian mà Thiên Chúa đã quá yêu thương đến nỗi trao ban Con của Ngài làm Đấng Cứu Độ (x. Ga 3,16).

Thánh Thể và linh đạo linh mục

80. Quả thật, khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống Kitô hữu thể hiện cách đặc biệt trong đời sống linh mục. Linh đạo linh mục tự bản chất là Thánh Thể. Hạt mầm của linh đạo này đã được tìm thấy nơi những lời Đức Giám mục công bố trong phụng vụ Phong Chức: “Con hãy nhận lễ vật của dân thánh mà dâng lên Thiên Chúa. Con hãy ý thức việc con làm, noi theo điều con thực hiện, và rập đời sống con theo khuôn mẫu mầu nhiệm thánh giá Chúa”[25]. Để làm cho đời sống mình trở nên một khuôn mẫu Thánh Thể mỗi ngày càng hoàn hảo hơn, linh mục phải dành một vị trí ưu tiên cho đời sống tu đức ngay từ giai đoạn đầu của việc đào tạo, và trong những năm tiếp theo.[26] Linh mục luôn luôn được gọi trở nên người thật sự đi tìm Thiên Chúa, đồng thời vẫn gần gũi với những bận tâm của con người. Một đời sống tu đức vững mạnh sẽ cho phép người linh mục bước vào trong sự hiệp thông sâu thẳm hơn với Chúa và sẽ giúp người linh mục sẵn sàng để mình bị chiếm hữu bởi tình yêu của Thiên Chúa, và trở nên chứng nhân của Ngài trong mọi hoàn cảnh, ngay cả trong lúc khó khăn hay u tối. Với mục đích này, tôi, cùng với các Nghị Phụ, khuyên nhủ các linh mục hãy “dâng Thánh Lễ mỗi ngày, cho dù không có giáo dân tham dự”[27]. Trước hết, lời khuyên nhủ này phù hợp với giá trị khách quan vô tận của mỗi lần cử hành Thánh Thể; kế đến, lời khuyên này được thúc đẩy bởi hiệu quả thiêng liêng vô song của Thánh Lễ, bởi vì nếu được chú tâm sống với niềm tin, Thánh Lễ trở nên nơi đào luyện, với ý nghĩa sâu sắc nhất của từ này, theo mức độ Thánh Lễ thúc đẩy việc trở nên đồng hình với Đức Kitô và củng cố linh mục trong ơn gọi của mình.

Thánh Thể và đời sống thánh hiến

81. Trong khung cảnh của những mối tương quan giữa Thánh Thể và những ơn gọi khác nhau trong Hội Thánh rực sáng lên cách đặc biệt “chứng từ tiên tri của các tu sĩ, những người tìm thấy trong cử hành và tôn thờ Thánh Thể sức mạnh để bước theo Đức Kitô cách triệt để trong đời sống vâng phục, nghèo khó và khiết tịnh.[28] Khi xả thân phục vụ trong lãnh vực đào tạo nhân bản và săn sóc những người nghèo, trong ngành giáo dục và trong việc trợ giúp những bệnh nhân, các tu sĩ biết rằng mục đích chính của đời sống họ là “chiêm ngưỡng chân lý thần linh và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa”[29]. Sự đóng góp chính yếu mà Hội Thánh chờ đợi nơi đời sống thánh hiến thuộc trật tự hiện hữu hơn là trật tự hoạt động. Về điểm này, tôi muốn nhắc lại tầm quan trọng của chứng từ về sự khiết tịnh, đặc biệt trong tương quan với mầu nhiệm Thánh Thể. Cùng với mối liên hệ với sự độc thân linh mục, mầu nhiệm Thánh Thể cũng có một tương quan nội tại với đức khiết tịnh của tu sĩ, trong mức độ sự khiết tịnh này là cách diễn tả sự hiến dâng trọn vẹn của Hội Thánh cho Đức Kitô và đón nhận Người như Hôn phu của mình với một lòng trung tín tuyệt đối và phong nhiêu.[30] Trong Thánh Thể, sự khiết tịnh của tu sĩ tìm gặp nguồn cảm hứng và lương thực cho sự dâng hiến trọn vẹn cho Đức Kitô. Sự khiết tịnh của tu sĩ cũng múc được từ Thánh Thể nguồn trợ lực và sự thúc đẩy trở nên dấu chỉ tình yêu nhưng không và phong nhiêu của Thiên Chúa đối với nhân loại. Cuối cùng, qua chứng từ đặc biệt này, đời sống thánh hiến khách quan trở nên lời nhắc nhở và sự tham dự trước vào “tiệc cưới Con Chiên” (Kh 19,7-9), và đó cũng là mục đích của toàn thể lịch sử cứu độ. Theo nghĩa này, đời sống thánh hiến quy chiếu cách hiệu quả vào viễn tượng cánh chung mà mọi người cần có để có thể định hướng những chọn lựa và những quyết định của đời mình.

Thánh Thể và sự biến đổi luân lý

82. Khi khám phá ra vẻ đẹp của khuôn mẫu Thánh Thể cho đời sống Kitô hữu, chúng ta cũng được thúc đẩy suy nghĩ về những năng lực luân lý khởi đi từ khuôn mẫu này như một trợ giúp cho tự do đích thực của con cái Chúa. Tôi ước muốn lấy lại ở đây một chủ đề đã được đề cập ở Thượng Hội Đồng Giám Mục liên quan đến mối liên hệ giữa khuôn mẫu Thánh Thể của cuộc sốngsự biến đổi luân lý. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng đời sống luân lý “có một giá trị phượng tự thiêng liêng” (Rm 12,1; x. Pl 3,3), kín múc và được nuôi dưỡng từ nguồn suối thánh thiện và hiển vinh không hề vơi của Thiên Chúa là các bí tích, đặc biệt là Thánh Thể: thật vậy, khi tham dự vào Hy tế thập giá, người Kitô hữu hiệp thông vào tình yêu tự hiến của Đức Kitô, được trang bị để dấn thân sống đức ái trong mọi hành động và mọi cư xử của đời sống mình”[31]. Cuối cùng, chính trong việc phượng tự và việc rước lễ mà người Kitô hữu nhận ra mình được yêu thương, để rồi đến lượt mình cũng phải yêu thương người khác. Bí tích Thánh Thể mà không đưa đến hành động thực tiễn của tình yêu thì không còn nguyên vẹn”[32].

Việc nhắc lại giá trị luân lý của phượng tự thiêng liêng không thể được giải thích theo kiểu giáo hoá luân lý. Điều cốt yếu trước tiên là việc vui mừng khám phá ra tính năng động của tình yêu bằng một con tim biết đón nhận hồng ân của Chúa, hiến thân cho Ngài và tìm thấy sự tự do đích thực. Sự biến đổi luân lý, bao hàm trong việc phượng tự mới, được thiết lập bởi Đức Kitô, là một sự vươn lên và là một khát vọng sâu thẳm muốn đáp trả tình yêu Chúa bằng trọn cả con người mình, trong khi vẫn hoàn toàn ý thức sự mỏng giòn của bản thân. Điều chúng ta vừa nói phản ánh rõ nét trong trình thuật phúc âm liên quan đến Giakêu (x. Lc 19,1-10). Sau khi đã đón Chúa Giêsu vào nhà mình, người thu thuế cảm thấy hoàn toàn được biến đổi: anh ta quyết định trao tặng nửa phần gia tài mình cho những người nghèo và trả lại gấp bốn cho những người mà anh ta đã từng chiếm đoạt. Sự vươn lên về mặt luân lý nẩy sinh từ sự đón tiếp Chúa Giêsu trong đời sống, phát xuất từ lòng biết ơn do được kinh nghiệm về sự gần gũi thân tình của Chúa, chứ không do chút công trạng nào của chúng ta.

Sự nhất quán Thánh Thể

83. Thật quan trọng nêu lên điều mà các Nghị Phụ đã gọi là sự nhất quán Thánh Thể (congruentiam eucharisticam), phẩm chất mà đời sống chúng ta được mời gọi đạt tới. Thật vậy, việc phượng tự đẹp lòng Thiên Chúa chẳng bao giờ là một hành vi thuần tuý cá nhân, chẳng ảnh hưởng gì đến các mối tương quan xã hội của chúng ta: việc phượng tự này đòi hỏi một chứng từ công khai của đức tin chúng ta. Dĩ nhiên điều đó đòi buộc mọi người đã được rửa tội, nhưng đòi buộc cách đặc biệt hơn những người, do địa vị xã hội hoặc chính trị của họ, phải đưa ra những quyết định liên quan đến những giá trị căn bản, như tôn trọng và bảo vệ sự sống con người từ lúc thụ thai đến khi chết cách tự nhiên, như xây dựng gia đình trên nền tảng hôn nhân giữa người nam và người nữ, tự do giáo dục con cái và thăng tiến công ích dưới mọi hình thức.[33] Những giá trị này là không thể thoả hiệp. Bởi đó, những nhà chính trị và những nhà lập pháp công giáo, ý thức về trách nhiệm xã hội nặng nề này, phải để cho mình đặc biệt được chất vấn bởi lương tâm được đào luyện cách thích đáng, để giới thiệu và bảo vệ những luật lệ lấy cảm hứng từ những giá trị được xây dựng trên bản tính con người.[34] Điều đó có một liên hệ khách quan với Thánh Thể (x. 1Cr 11,27-29). Các Giám mục được đòi hỏi phải không ngừng nhắc lại những giá trị này; đó là một phần trong trách nhiệm đối với đoàn chiên được trao phó cho các ngài.[35]

Thánh Thể, mầu nhiệm để loan báo

Thánh Thể và sứ vụ

84. Trong bài giảng Thánh Lễ khởi đầu cách long trọng thừa tác vụ của tôi trên ngai toà Phêrô, tôi đã nói: “Chẳng có gì đẹp hơn việc được gặp gỡ và được cuốn hút bởi Tin Mừng, bởi Đức Kitô. Chẳng có gì đẹp hơn việc nhận biết Đức Kitô và thông truyền cho người khác tình bạn với Người”[36]. Khẳng định này sẽ đạt tới một cường độ mạnh mẽ nếu chúng ta nghĩ đến mầu nhiệm Thánh Thể. Thật vậy, chúng ta không thể chỉ giữ cho riêng mình tình yêu mà chúng ta cử hành trong Bí tích này. Tự bản chất, Bí tích này đòi được thông truyền cho mọi người. Điều mà thế giới cần chính là tình yêu Thiên Chúa, là gặp gỡ Đức Kitô và tin vào Người. Chính vì thế, Thánh Thể không chỉ là nguồn suối và chóp đỉnh đời sống của Hội Thánh; Thánh Thể cũng là nguồn suối và chóp đỉnh sứ vụ của Hội Thánh: “Một Hội Thánh thật sự sống Thánh Thể là một Hội Thánh truyền giáo”[37]. Chính chúng ta có bổn phận phải nói cho anh chị em chúng ta với niềm xác tín: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi” (1Ga 1,3). Thực tế, chẳng có gì đẹp hơn việc gặp gỡ Đức Kitô và thông truyền Đức Kitô cho mọi người. Hơn nữa, chính việc thiết lập Thánh Thể báo trước trọng tâm sứ vụ của Chúa Giêsu: Người được Chúa Cha sai đến để cứu chuộc thế gian (x. Ga 3,16-17; Rm 8,32). Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu ủy thác cho các môn đệ Bí tích hiện tại hóa hy tế mà chính Người đã thực hiện, bởi vâng phục Chúa Cha, vì phần rỗi của tất cả chúng ta. Chúng ta không thể đến gần Bàn tiệc Thánh Thể mà không để cho mình được dẫn đưa vào trong việc thi hành sứ vụ, một sứ vụ bắt nguồn từ chính trái tim của Thiên Chúa và muốn liên kết mọi người lại với nhau. Vì thế, định hướng truyền giáo là yếu tố cấu tạo nên khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống Kitô hữu.

Thánh Thể và việc làm chứng

85. Sứ vụ đầu tiên và căn bản, bắt nguồn từ những Mầu nhiệm thánh mà chúng ta cử hành, là làm chứng bằng chính đời sống của chúng ta. Sự kinh ngạc thích thú trước hồng ân mà Thiên Chúa ban tặng chúng ta trong Đức Kitô in sâu vào đời sống chúng ta một sự năng động mới, thúc đẩy chúng ta trở nên những chứng nhân cho tình yêu của Ngài. Chúng ta chỉ trở nên những chứng nhân khi có một Đấng khác tỏ hiện và thông truyền qua hành động, lời nói và thái độ của chúng ta. Chúng ta có thể nói rằng việc làm chứng là phương thế nhờ đó chân lý về tình yêu của Thiên Chúa gặp gỡ con người trong lịch sử, mời gọi họ tự do đón nhận tính mới mẻ triệt để này. Trong việc làm chứng, Thiên Chúa chấp nhận chuốc lấy nguy cơ, nếu có thể nói như thế, trước tự do của con người. Chính Chúa Giêsu là vị chứng nhân trung thành và chân thực (x. Kh 1,5; 3,14); Người đã đến để làm chứng cho sự thật (x. Ga 18,37). Ở đây, tôi rất muốn lặp lại một khái niệm quý báu đối với những người Kitô hữu tiên khởi, nhưng cũng liên quan đến tất cả chúng ta, những người Kitô hữu hôm nay: làm chứng đến tự hiến chính mình, đến cả việc tử đạo, luôn được xem là chóp đỉnh của việc phượng tự thiêng liêng mới: “Hãy hiến dâng thân mình anh em” (Rm 12,1). Chẳng hạn, thử nghĩ đến trình thuật về sự tử đạo của thánh Polycarpe thành Smyrne, một đồ đệ của thánh Gioan: mọi diễn tiến bi thảm đều được diễn tả như một phụng vụ, mà chính vị tử đạo muốn nên như Thánh Thể.[38] Chúng ta cũng nghĩ đến ý thức Thánh Thể mà thánh Inhaxiô thành Antiôkia mô tả nhắm đến cuộc tử đạo của mình: ngài tự coi mình như là “hạt lúa mì của Thiên Chúa”, và qua cuộc tử đạo ngài muốn trở nên “tấm bánh tinh tuyền của Đức Kitô”[39]. Người Kitô hữu hiến dâng mạng sống mình qua việc tử đạo bước vào trong sự hiệp thông trọn vẹn với cuộc Vượt qua của Đức Giêsu Kitô, và như thế họ trở nên Thánh Thể cùng với Người. Ngày nay vẫn còn đó những vị tử đạo giữa lòng Hội Thánh, nhờ họ tình yêu Thiên Chúa được bày tỏ cách chóp đỉnh. Cho dù chúng ta không phải chịu thử thách tử đạo, nhưng chúng ta vẫn biết rằng việc phượng tự đẹp lòng Chúa đòi hỏi tận trong sâu thẳm sự sẵn sàng này,[40] và phải được thể hiện qua chứng tá đầy vui mừng và tin tưởng trước thế giới bằng một đời sống Kitô hữu nhất quán trong những môi trường mà Chúa mời gọi chúng ta loan báo Ngài.

Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất

86. Nhấn mạnh mối tương quan nội tại giữa Thánh Thể và sứ vụ cũng giúp chúng ta khám phá ra nội dung chung cuộc của việc loan báo của chúng ta. Khi lòng yêu mến Thánh Thể càng sống động trong tâm hồn của dân Kitô giáo, thì sứ vụ loan báo càng trở nên rõ ràng hơn đối với họ: mang Đức Kitô đến cho mọi người. Sứ vụ loan báo đó không phải là một ý tưởng, cũng chẳng phải là một mệnh lệnh luân lý được Đức Kitô ban ra, nhưng là việc tặng ban chính bản thân Người. Ai chưa loan truyền chân lý về Tình yêu cho anh chị em mình thì vẫn chưa cho đi đủ. Với tư cách là bí tích cứu độ của chúng ta, chắc chắn Thánh Thể hướng chúng ta đến tính duy nhất của Đức Kitô và của ơn cứu độ mà Người đã hoàn tất bằng giá máu. Bởi đó, từ Mầu nhiệm Thánh Thể mà chúng ta tin và cử hành phát sinh nhu cầu phải thường xuyên giáo dục cho mọi người bổn phận truyền giáo mà trọng tâm là loan báo Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất.[41] Việc truyền giáo hiểu như thế sẽ tránh được cái nhìn giản lược và thuần túy xã hội, vì sự thăng tiến con người luôn luôn có trong mọi tiến trình loan báo Tin Mừng đích thực.

Tự do tôn giáo

87. Trong tinh thần này, tôi ước ao làm vang lên điều mà các Nghị phụ đã khẳng định suốt những buổi họp của Thượng Hội Đồng Giám Mục liên quan đến những khó khăn trầm trọng đè nặng các cộng đoàn Kitô hữu đang sống trong tình trạng thiểu số hoặc bị tước đoạt tự do tôn giáo.[42]Chúng ta phải hết lòng cảm tạ Thiên Chúa vì những Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đã tìm mọi cách để loan báo Tin Mừng và sống đức tin dù phải gặp nguy hiểm đến tính mạng. Trên thế giới ngày nay không thiếu những vùng mà việc cử hành Thánh Lễ hoặc chỉ việc đi đến nhà thờ thôi đã là một chứng tá anh dũng, vì hậu quả là có thể hứng chịu sự loại trừ hoặc bạo lực. Với những chứng tá như thế, tôi muốn khẳng định lại tình liên đới của toàn thể Hội Thánh với tất cả những người chịu đau khổ vì thiếu tự do tôn giáo. Như chúng ta biết, nơi nào thiếu tự do tôn giáo, nơi đó rốt cuộc sẽ thiếu sự tự do tròn đầy ý nghĩa nhất, bởi vì trong niềm tin, con người biểu lộ quyết định sâu kín nhất liên quan đến ý nghĩa chung cuộc của đời họ. Vì thế chúng ta hãy cầu nguyện cho những không gian tự do tôn giáo được mở rộng ra trong mọi quốc gia, để cho những người kitô hữu cũng như những tín đồ của các tôn giáo khác có thể tự do sống niềm xác tín của họ, cách cá nhân cũng như cộng đoàn.

Thánh Thể, mầu nhiệm để trao ban cho thế giới

Thánh Thể, bánh được bẻ ra cho sự sống thế giới

88. “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51). Bằng những lời này, Chúa mạc khải ý nghĩa đích thực của việc trao hiến sự sống của chính Người cho mọi người. Những lời này cũng chứng tỏ cho chúng ta thấy lòng cảm thương sâu sắc của Người đối với mọi người. Thật vậy, các Phúc Âm nhiều lần thuật lại cho chúng ta những tình cảm của Chúa Giêsu đối với con người, đặc biệt đối với những người đau khổ và những người tội lỗi (x. Mt 20,34; Mc 6,34; Lc 19,41). Qua tình cảm nhân loại sâu sắc, Người bày tỏ ý định cứu độ của Thiên Chúa dành cho mọi người, để họ đạt được sự sống đích thực. Mọi cử hành Thánh Thể hiện tại hoá cách bí tích việc Chúa Giêsu hiến ban mạng sống trên thập giá cho chúng ta và cho toàn thể nhân loại. Đồng thời, trong Thánh Thể, Chúa Giêsu làm cho chúng ta trở thành những chứng nhân cho lòng thương xót của Thiên Chúa đối với mỗi người anh chị em của chúng ta. Như thế, từ mầu nhiệm Thánh Thể sinh ra việc phục vụ trong đức ái đối với tha nhân. “Tình yêu đó hệ tại ở điều này là, trong Thiên Chúa và cùng với Thiên Chúa, tôi yêu người thân cận, cả khi tôi không thích hoặc chưa biết người đó. Điều này chỉ có thể thực hiện được từ cuộc gặp gỡ thâm sâu với Thiên Chúa, một cuộc gặp gỡ trở thành hiệp thông ý chí, đến độ thấm nhập vào trong tình cảm. Bấy giờ tôi học cách nhìn người khác, không phải chỉ bằng con mắt và tình cảm của riêng tôi, nhưng từ nhãn giới của Đức Giêsu Kitô”[43]. Với cách thức này, tôi nhận ra những người tôi gặp gỡ như là những anh chị em mà Chúa đã trao ban chính sự sống Người cho họ bằng cách yêu thương họ “đến cùng” (Ga 13,1). Bởi thế, khi cử hành Thánh Thể, những cộng đoàn của chúng ta phải ngày càng ý thức hơn rằng hy tế của Đức Kitô là cho mọi người, và vì thế Thánh Thể thúc đẩy mọi tín hữu cũng phải trở nên “bánh được bẻ ra” cho những người khác và dấn thân cho một thế giới ngày càng công bằng và huynh đệ hơn. Khi nghĩ đến phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều, chúng ta phải hiểu ra rằng, ngày nay Đức Kitô vẫn còn tiếp tục khuyến khích các môn đệ của Người phải tự mình biết dấn thân: “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Mt 14,16). Ơn gọi đích thực của mỗi người chúng ta hệ tại ở việc trở nên tấm bánh được bẻ ra cho sự sống của thế giới cùng với Chúa Giêsu.

Những hệ quả xã hội của Mầu nhiệm Thánh Thể

89. Việc kết hợp với Đức Kitô, Đấng hiện diện trong Bí tích, cũng mở ra cho chúng ta một tính cách mới mẻ trong những mối tương quan xã hội: “tính thần bí của Bí tích mang một đặc tính xã hội”. Thật vậy, “sự kết hợp với Đức Kitô đồng thời cũng là sự kết hợp với những người mà Chúa tự hiến thân cho họ. Tôi không thể dành riêng Đức Kitô cho một mình tôi; tôi chỉ có thể thuộc về Người trong sự kết hợp với tất cả những ai đã hoặc sẽ thuộc về Người”[44]. Về điểm này, cần phải làm sáng tỏ mối tương quan giữa Mầu nhiệm Thánh Thể và việc dấn thân xã hội. Thánh Thể là bí tích hiệp thông giữa những anh chị em chấp nhận hoà giải với nhau trong Đức Kitô, Đấng đã làm cho những người Do Thái và những dân ngoại nên một dân duy nhất, bằng cách phá đổ bức tường thù hận chia cắt họ ra (x. Ep 2,14). Chỉ có thái độ thường xuyên hướng đến sự hoà giải mới cho phép kết hợp cách xứng đáng với Mình và Máu Đức Kitô (x. Mt 5,23-24)[45]. Bằng việc tưởng niệm hy tế của Người, Người củng cố mối hiệp thông huynh đệ, và đặc biệt Người thúc đẩy những ai đang sống bất hoà sớm thực hiện việc hoà giải bằng cách mở lòng ra với đối thoại và dấn thân phục vụ công bằng. Không còn nghi ngờ gì nữa, tái lập công bằng, hòa giải và tha thứ là những điều kiện để xây dựng một nền hòa bình đích thực.[46] Từ ý thức này cũng nẩy sinh ý muốn biến đổi những cơ chế bất công để tái lập sự kính trọng phẩm giá con người vốn được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Chính nhờ việc phát triển cụ thể trách nhiệm này mà Thánh Thể hiện thực hoá trong đời sống ý nghĩa của việc cử hành. Như tôi đã có dịp khẳng định, Hội Thánh không có vai trò riêng biệt đảm nhận cuộc đấu tranh chính trị để thiết lập một xã hội công bằng nhất có thể; tuy nhiên, Hội Thánh không thể và cũng không được phép đứng bên ngoài cuộc đấu tranh cho công bằng. Hội Thánh “phải dấn thân vào cuộc đấu tranh này bằng con đường lý luận dựa theo lý trí, và phải đánh thức những sức mạnh tinh thần, mà nếu không có những sức mạnh này thì sự công bằng, vốn luôn đòi hỏi phải hy sinh, không thể được thực thi và phát triển”[47].

Trong viễn cảnh về trách nhiệm xã hội của mọi người Kitô hữu, các Nghị phụ đã nhắc lại rằng hy tế của Đức Kitô là mầu nhiệm giải thoát không ngừng chất vấn và thách thức chúng ta. Vì thế tôi kêu gọi tất cả mọi tín hữu hãy thật sự trở nên những người kiến tạo hoà bình và công lý: “Ai thông dự vào Thánh Thể phải thật sự dấn thân xây dựng hòa bình cho thế giới chúng ta đang sống, một thế giới được ghi dấu bởi quá nhiều bạo lực và chiến tranh, và đặc biệt ngày nay bởi khủng bố, sự hủ hoá kinh tế và việc khai thác tình dục”[48]. Những vấn đề này, đến lượt chúng lại sản sinh ra những hiện tượng hèn hạ khác làm chúng ta hết sức lo lắng. Chúng ta biết rằng không thể đối phó với những tình trạng này cách hời hợt bên ngoài. Chính trong Mầu nhiệm chúng ta cử hành mà chúng ta phải đẩy lui những tình trạng đối nghịch với phẩm giá con người, mà vì họ Đức Kitô đã đổ máu mình ra để khẳng định giá trị cao trọng của mỗi con người.

Lương thực chân lý và nỗi khốn cùng của con người

90. Chúng ta không thể dửng dưng trước một vài tiến trình toàn cầu hóa thường tạo ra sự cách biệt quá đáng giữa người giàu và người nghèo ở tầm vóc quốc tế. Chúng ta phải tố giác những ai phung phí sự sung túc của trái đất, gây ra những bất công kêu thấu tới trời cao (x. Gc 5,4). Chẳng hạn, chúng ta không thể thinh lặng trước “những hình ảnh đau lòng của những trại to lớn chứa người di cư hoặc tị nạn rải rác đó đây trên thế giới, họ chỉ được tập hợp lại trong những điều kiện tạm bợ, để tránh khỏi những tình trạng còn tồi tệ hơn nhiều, trong khi họ lại có nhu cầu về mọi thứ. Những con người này không phải là anh chị em của chúng ta sao? Con cái của họ lại chẳng được sinh ra với những chờ mong hạnh phúc chính đáng như bao người khác sao?[49] Chúa Giêsu, Bánh hằng sống, thôi thúc chúng ta phải lưu tâm đến những tình cảnh khốn cùng mà một phần lớn nhân loại vẫn còn gặp phải: đó là những tình cảnh mà nguyên nhân của chúng thường liên quan đến một trách nhiệm rõ ràng và đáng lo ngại của loài người. Thật vậy, “dựa trên những dữ liệu thống kê sẵn có, người ta có thể khẳng định rằng chưa đầy một nửa tổng số tiền kếch sù dành để trang bị vũ khí có thể còn lớn hơn cả số tiền cần để giúp đám đông vô số những người nghèo thoát khỏi nỗi cùng khốn. Lương tâm nhân loại bị chất vấn về điều đó. Đối với những cư dân sống dưới ngưỡng cửa nghèo đói, vì tình trạng lệ thuộc vào các quan hệ quốc tế về chính trị, thương mại và văn hoá hơn là vì hậu quả của những hoàn cảnh không làm chủ được, sự dấn thân chung trong thực tế của chúng ta có thể tạo cho họ những niềm hy vọng mới”[50]

Lương thực chân lý thôi thúc chúng ta phải đẩy lui những hoàn cảnh bất xứng với con người, trong đó người ta chết bởi thiếu lương thực vì sự bất công và sự bóc lột. Lương thực chân lý cũng gia tăng sức mạnh và sự can đảm luôn mới mẻ, để chúng ta làm việc không ngừng nhằm xây dựng nền văn minh tình thương. Ngay từ lúc ban đầu, những người Kitô hữu đã biết quan tâm chia sẻ tài sản của họ (x. Cv 4,32) và giúp đỡ những người nghèo (x. Rm 15,26). Việc quyên góp được thực hiện trong các buổi họp nhau cử hành phụng vụ là một kỷ niệm sống động về điều đó, nhưng cũng là một nhu cầu của ngày hôm nay. Những cơ quan từ thiện của Hội Thánh, đặc biệt cơ quan Caritas ở những tầm vóc khác nhau, thể hiện sự phục vụ quý báu là giúp những người có nhu cầu, nhất là những người nghèo hơn hết. Kín múc được nguồn cảm hứng từ Thánh Thể là bí tích tình yêu, các cơ quan từ thiện trở thành cách diễn tả cụ thể tình yêu này, và vì thế đáng được tán dương và cổ võ vì sự dấn thân liên đới của họ trên thế giới.

Học thuyết xã hội của Hội Thánh

91. Mầu nhiệm Thánh Thể làm cho chúng ta có khả năng và thôi thúc chúng ta tiến đến một sự dấn thân can đảm trong những cơ chế của thế giới chúng ta, để mang vào đó những mối tương quan mới mẻ đến từ nguồn suối không hề vơi là hồng ân Thiên Chúa. Kinh nguyện mà chúng ta lặp lại trong mỗi Thánh Lễ: “Xin cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”, đòi buộc chúng ta phải làm hết sức có thể, trong sự hợp tác với các cơ quan quốc tế, các tập thể và những cá nhân, để chấm dứt hoặc ít ra để giảm bớt sự ô nhục của nghèo đói và thiếu hụt lương thực làm đau khổ hàng triệu người trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Đặc biệt người Kitô hữu giáo dân, được đào luyện từ trường học Thánh Thể, được kêu gọi đảm nhận cách trực tiếp trách nhiệm chính trị và xã hội của mình. Để họ có thể chu toàn bổn phận cách thích đáng, nên chuẩn bị cho họ bằng việc giáo dục cụ thể về đức ái và đức công bằng. Chính vì thế, như Thượng Hội Đồng Giám Mục đã yêu cầu, việc giảng dạy và cổ võ học thuyết xã hội của Hội Thánh trong mỗi Giáo Phận và trong các cộng đoànKkitô hữu là rất cần thiết.[51] Trong gia sản quý báu khởi đầu từ truyền thống xa xưa của Hội Thánh, chúng ta tìm thấy những yếu tố hướng dẫn cách rất khôn ngoan thái độ của những người Kitô hữu khi đối diện với những vấn đề xã hội nóng bỏng. Học thuyết này, chín dần suốt chiều dài lịch sử hai ngàn năm của Hội Thánh, thể hiện rõ tính thực tế và sự quân bằng của nó, giúp tránh được những thoả hiệp sai lầm hoặc những ảo tưởng mơ hồ.

Thánh hoá thế giới và bảo vệ vũ trụ

92. Cuối cùng, để phát triển một linh đạo Thánh Thể sâu sắc, có khả năng ảnh hưởng đầy ý nghĩa trên cơ cấu xã hội, những con người tạ ơn nhờ Thánh Thể là dân Kitô giáo cần thiết phải có ý thức cử hành Thánh Thể nhân danh toàn thể vũ trụ, khát mong thánh hóa thế giới và làm việc hăng say vì mục đích này.[52] Chính Thánh Thể soi sáng tỏ tường lịch sử nhân loại và toàn thể vũ trụ. Trong cách nhìn mang tính bí tích này, từng ngày một chúng ta học biết rằng mọi biến cố của Hội Thánh đều mang tính dấu chỉ, qua đó Thiên Chúa tự bày tỏ chính Ngài và chất vấn chúng ta. Như thế, khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống có thể hỗ trợ cho việc thay đổi não trạng đích thực qua cách thức chúng ta đọc lịch sử và nhìn thế giới. Chính phụng vụ giáo dục chúng ta điều đó lúc dâng các lễ vật, khi vị linh mục dâng lên Thiên Chúa một lời nguyện chúc lành và cầu xin liên quan đến bánh và rượu, “hoa mầu của đất”, “của cây nho” và “của lao công con người”. Bằng những lời này, nghi lễ không chỉ bao hàm việc hiến dâng cho Thiên Chúa mọi hoạt động và nỗ lực của nhân loại, mà còn thôi thúc chúng ta nhìn nhận trái đất như là tác phẩm của Thiên Chúa, nơi đó sản sinh ra lương thực cần thiết cho đời sống của chúng ta. Trái đất không còn là một thực tại trung lập, một vật chất thuần tuý để chúng ta sử dụng cách vô tội vạ theo bản năng con người. Trái đất nằm ở chính trung tâm ý định nhân lành của Thiên Chúa, trong ý định này, tất cả chúng ta được mời gọi trở nên con cái trong người Con duy nhất là Đức Giêsu Kitô (x. Ep 1,4-12). Những bận tâm chính đáng liên quan đến những điều kiện sinh thái của vũ trụ tại nhiều nơi trên thế giới có những điểm tựa trong quan điểm của niềm hy vọng Kitô giáo, một niềm hy vọng đòi buộc chúng ta làm việc cách có trách nhiệm để bảo vệ vũ trụ.[53] Quả vậy, trong mối tương quan giữa Thánh Thể và vũ trụ, chúng ta có thể khám phá ra ý định duy nhất của Thiên Chúa và thấu hiểu mối liên hệ sâu thẳm giữa vũ trụ này và “vũ trụ mới”, được hoàn tất trong sự phục sinh của Đức Kitô, Ađam mới. Hiện tại chúng ta đã tham dự vào mối liên hệ này qua bí tích Rửa Tội (x. Cl 2,12tt); như thế, trong đời sống Kitô hữu được nuôi dưỡng bởi Thánh Thể đã mở ra cái nhìn về một thế giới mới, một trời mới và đất mới, một Giêrusalem mới từ trời, từ nơi Thiên Chúa xuống, “sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (Kh 21,2).

Ích lợi của một Bản Toát Yếu về Thánh Thể

93. Vào lúc kết thúc những suy tư này, những suy tư trong đó tôi đã muốn dừng lại ở những định hướng được trình bày trong Thượng Hội Đồng Giám Mục, tôi cũng muốn đón nhận thỉnh nguyện của các Nghị Phụ để giúp dân Kitô giáo tin, cử hành và sống ngày càng tốt hơn Mầu Nhiệm Thánh Thể. Một Bản Toát Yếu sẽ được công bố nhờ những cố gắng ân cần của các Bộ có thẩm quyền; Bản Toát Yếu này sẽ bao gồm những bản văn của Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, những kinh nguyện, những giải thích về các Kinh Nguyện Thánh Thể của Sách Lễ Rôma và tất cả những gì xét thấy hữu ích cho việc hiểu đúng, việc cử hành và việc tôn thờ Thánh Thể tại bàn thờ.[54] Tôi ước mong sao dụng cụ này có thể góp phần làm cho việc tưởng niệm cuộc Vượt qua của Chúa ngày càng trở nên nguồn suối và chóp đỉnh của đời sống và sứ vụ của Hội Thánh. Điều đó sẽ động viên mọi tín hữu làm cho đời sống mình trở nên một phượng tự thiêng liêng đích thực.

KẾT LUẬN

94. Anh chị em thân mến, Thánh Thể là cội rễ của mọi hình thức thánh thiện, và mỗi người chúng ta được kêu gọi đến đời sống viên mãn trong Thánh Thần. Biết bao nhiêu vị thánh đã thăng tiến trên con đường thánh thiện nhờ vào lòng sùng kính Thánh Thể! Từ thánh Inhaxiô thành Antiôkia đến thánh Augustinô, từ thánh Antôn Tu viện trưởng đến thánh Bênêđíctô, từ thánh Phanxicô thành Assisi đến thánh Tôma Aquinô, từ thánh Clara thành Assisi đến thánh Catarina thành Siena, từ thánh Paschal Baylon đến thánh Peter Julian Eymard, từ thánh Anphongsô Ligori đến chân phước Charles de Foucauld, từ thánh Gioan Maria Vianey đến thánh Têrêsa thành Lisieux, từ thánh Piô Pietrelcina đến chân phước Têrêsa thành Calcutta, từ chân phước Piergiorgio Frassati đến chân phước Ivan Mertz, trưng dẫn một số ít trong vô số danh tánh để thấy rằng trung tâm của sự thánh thiện luôn luôn được tìm thấy nơi Bí tích Thánh Thể.

Do đó Mầu Nhiệm rất thánh này cần được xác tín vững chắc, được cử hành sốt sắng, và được sống cách mạnh mẽ trong Hội Thánh. Sự tự hiến chính mình của Chúa Giêsu trong bí tích tưởng niệm cuộc Vượt qua của Người nói với chúng ta rằng sự thành công của cuộc đời chúng ta hệ tại ở việc chúng ta được thông phần vào sự sống Ba Ngôi đã được ban cho chúng ta một cách thật sự và dứt khoát trong Người. Sự cử hành và thờ phượng Thánh Thể làm cho chúng ta có khả năng tiến lại gần tình yêu của Thiên Chúa và lưu lại trong tình yêu ấy cho đến khi chúng ta được kết hợp với Chúa, Đấng mà chúng ta yêu mến. Lễ dâng cuộc đời chúng ta, tình thân với toàn thể cộng đoàn tín hữu và sự liên đới với tất cả mọi người nam nữ là những khía cạnh thiết yếu của logiké latreía, sự thờ phượng thiêng liêng, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa (x. Rm 12,1), một sự thờ phượng biến đổi mọi khía cạnh nhân sinh của chúng ta, để làm vinh danh Thiên Chúa. Do đó tôi yêu cầu tất cả các mục tử đừng bỏ qua bất kỳ một nỗ lực nào để thăng tiến một linh đạo Kitô giáo có tính Thánh Thể xác thực. Các linh mục, phó tế và tất cả những người đang thực hiện một tác vụ thánh thể, khi thực thi việc phục vụ này với sự quan tâm và có chuẩn bị, phải luôn tìm thấy trong đó sức mạnh và cảm hứng cần thiết cho hành trình nên thánh của bản thân và của cộng đoàn. Tôi khuyên nhủ các Kitô hữu giáo dân, và cách riêng các gia đình, hãy tìm kiếm không ngừng nơi bí tích tình yêu của Đức Kitô năng lượng cần thiết để làm cho đời sống của họ thành một dấu chỉ đích thực sự hiện diện của Chúa phục sinh. Tôi yêu cầu tất cả các tu sĩ hãy biểu lộ bằng đời sống mang tính thánh thể của mình ánh huy hoàng và vẻ đẹp được thuộc trọn về Chúa.

95. Vào đầu thế kỷ thứ tư, phượng tự Kitô giáo vẫn còn bị các nhà cầm quyền của đế quốc cấm cách. Một số Kitô hữu ở Bắc Phi, cảm thấy thiết thân với việc cử hành Ngày của Chúa, đã coi thường sự ngăn cấm. Họ đã chịu tử đạo sau khi tuyên xưng rằng họ không thể nào sống thiếu Thánh Thể, lương thực của Chúa: sine dominico non possumus – Chúng tôi không thể sống thiếu Chúa Nhật.[1] Xin các thánh tử vì đạo của Abitène, hiệp thông cùng rất nhiều các thánh và chân phước đã đặt Thánh Thể làm trung tâm cuộc đời của các ngài, chuyển cầu cho tất cả chúng ta và dạy chúng ta trung thành đến gặp Đức Kitô phục sinh. Chúng ta cũng không thể sống nếu không tham dự vào bí tích của ơn cứu độ chúng ta; chúng ta cũng khao khát trở nên những người sống đúng theo ngày Chúa Nhật – iuxta dominicam viventes, nghĩa là ứng dụng vào đời sống của chúng ta những gì chúng ta cử hành vào Ngày của Chúa. Ngày đó là ngày chúng ta được hoàn toàn giải thoát. Thế rồi, mỗi ngày chúng ta ao ước sống đời sống mới do Đức Kitô mang đến cho chúng ta trong mầu nhiệm Thánh Thể; đó chẳng phải là điều đáng ngạc nhiên lắm sao?

96. Xin Mẹ Maria Rất Thánh, Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội, hòm bia của giao ước mới và vĩnh cửu, đồng hành với chúng ta trên đường đi gặp Chúa, Đấng đang đến. Nơi Mẹ, chúng ta thấy được bản chất của Hội Thánh đã được biểu lộ một cách hoàn hảo nhất. Hội Thánh nhìn thấy nơi Đức Maria – “Người Nữ của Thánh Thể”, như Đấng tôi tớ Chúa là Đức Gioan Phaolô II đã gọi Mẹ [2] – hình ảnh đẹp nhất của mình, và Hội Thánh chiêm ngắm Đức Maria như gương mẫu phi thường của đời sống Thánh Thể. Vì thế, trước sự hiện diện trên bàn thờ của Thân Mình thật sự được Trinh Nữ Maria sinh ra (verum Corpus natum de Maria Virgine), nhân danh cộng đoàn phụng vụ, linh mục khẳng định bằng những lời trong kinh nguyện Thánh Thể: “Chúng con kính nhớ trước hết Đức Maria vinh hiển trọn đời đồng trinh, Mẹ của Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa và là Chúa chúng con”[3]. Danh thánh của Mẹ còn được kêu cầu và tôn kính ngay cả trong các kinh nguyện Thánh Thể thuộc các truyền thống Kitô giáo đông phương. Phần các tín hữu, họ “phó thác cho Đức Maria, Mẹ Hội Thánh, đời sống và lao động của họ. Khi cố gắng để có được những tâm tình như Đức Maria, họ giúp cho cả cộng đoàn trở thành lễ vật sống động đẹp lòng Chúa Cha”[4]. Mẹ là toàn mỹ (tota pulchra), vì nơi Mẹ toả sáng ánh huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa. Vẻ đẹp của phụng vụ thiên quốc, vẻ đẹp phải được chiếu toả trong chính cộng đoàn của chúng ta, được phản chiếu cách trung thực nơi Mẹ. Nơi Đức Maria, chúng ta phải học trở nên những con người của Thánh Thể và của Hội Thánh, để từ đó, như lời thánh Phaolô, trình diện trước mặt Chúa “thánh thiện và không gì đáng trách”, như Người đã ước mong cho chúng ta ngay từ nguyên thủy (x. Cl 1,22; Ep 1,4)[5].

97. Nhờ lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria, xin Chúa Thánh Thần nhóm lên trong chúng ta cùng ngọn lửa nóng mà các môn đệ trên đường Emmaus đã cảm nghiệm (x. Lc 24,13-35) và canh tân “lòng ngưỡng mộ Thánh Thể” qua ánh rạng ngời và vẻ đẹp chiếu toả từ nghi thức phụng vụ, dấu chỉ hữu hiệu về vẻ đẹp vô biên của mầu nhiệm thánh của Thiên Chúa. Hai môn đệ ấy đã trỗi dậy và vội vã trở lại Giêrusalem để chia sẻ niềm vui với các anh chị em của họ trong đức tin. Niềm vui chân thật có được khi nhận ra rằng Chúa vẫn ở với chúng ta, là người bạn đồng hành trung tín trên đường đời của chúng ta. Thánh Thể làm cho chúng ta khám phá ra rằng Đức Kitô, sau khi phục sinh từ cõi chết, là người đang sống với chúng ta trong mầu nhiệm Hội Thánh, thân thể của Người. Chúng ta đã trở nên chứng nhân cho mầu nhiệm tình yêu này. Chúng ta hãy khuyến khích nhau hân hoan bước đi, tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự ngưỡng mộ, đến với Bí tích Thánh Thể, để cảm nghiệm sự thật về những lời Chúa Giêsu đã nói khi rời bỏ các môn đệ, và để loan báo cho những người khác: “Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

 


Ban hành tại Rôma, cạnh Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 22 tháng 02 năm 2007, nhân lễ kính Lập Tông Toà Thánh Phêrô, trong năm thứ hai triều đại giáo hoàng của tôi.

ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐÍCTÔ XVI



 

 

[1] X. T. Tôma Aquinô, Summa Theologiae III, q. 73, a. 3.

[2] T. Augustinô, In Iohannis Evangelium Tractatus, 26,5 : PL 35, 1609.

[3] Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho các Tham Dự viên Khoá họp Khoáng đại của Thánh bộ Giáo lý Đức tin (10-02-2006) : AAS 98 (2006), tr. 255.

[4] Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho các thành viên Hội đồng Thư ký Thường trực của Thượng Hội đồng Giám mục (1-6-2006) : L’Osservatore Romano, 2-6-2006, tr. 5.

[5] x. Propositio 2.

[6] Tôi nhắc lại ở đây rằng cần có một chú giải sự liên tục đi liền với một cách hiểu đúng đắn quá trình phát triển phụng vụ sau Công đồng Vaticanô II : x. Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho Giáo triều (22-12-2005) : AAS 98 (2006), tr. 44-45.

[7] x. AAS 97 (2005), tr. 337-352.

[8] x. Năm Thánh Thể : những gợi ý và đề nghị (15-10-2004) : L’Osservatore Romano, 15-10-2004, Phụ lục.

[9] x. AAS 95 (2003), 433-475. Cũng nhắc lại Huấn thị của Thánh bộ Phượng tự và Kỷ luật các Bí tích, Redemptionis Sacramentum (25-3-2004) : AAS 96 (2004), 549-601, mà Đức Gioan Phaolô II công khai mong nuốn.

[10] Chỉ để nhắc lại những điều chính yếu : Công đồng chung Trentô, Học Thuyết và các điều khoản về hy tế Thánh Lễ, DS 1738-1759 ; Lêô XXIII, Thông điệp Mirae caritatis (28-5-1902) : AAS (1903), tr. 115-136 ; Piô XII, Thông điệp Mediattor Dei (20-11-1947) : AAS 39 (1947), tr. 521-595 ; Phaolô VI, Thông điệp Mysterium fidei (3-9-1965) : AAS 57 (1965), tr. 753-774 ; Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17-4-2003) : AAS 95 (2003), tr. 433-475 ; Thánh bộ Phượng tự và Kỷ luật các Bí tích, Huấn thị Eucharisticum mysterium (25-5-1967) : AAS 59 (1967), tr. 539-573 ; Huấn thị Liturgicam authenticam (28-4-2001) : AAS 93 (2001), tr. 685-726.

[11] x. Propositio 1.

[12] số 14 : AAS 98 (2006), tr. 229.


[1] Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1327.

[2] Propositio 16.

[3] Bênêđíctô XVI, Bài giảng nhân Thánh Lễ Nhậm Chức tại Đền Thờ thánh Gioan Latêranô (7-5-2005) : AAS 97 (2005), tr. 725.

[4] x. Propositio 4.

[5] De Trinitate, VIII, 8, 12 : CCL 50, 287.

[6] Thông điệp Deus caritas est – Thiên Chúa là Tình Yêu (25-12-2005), số 12 : AAS 98 (2006), tr. 228.

[7] x. Propositio 3.

[8] Kinh Nhật Tụng Rôma, Thánh thi Kinh Sách lễ Mình Máu Thánh Chúa.

[9] Bênêđíctô XVI, Thông điệp Deus caritas est – Thiên Chúa là Tình Yêu (25-12-2005), số 13 : AAS 98 (2006), tr. 228.

[10] x. Bênêđíctô XVI, Bài giảng tại cánh đồng Marienfeld (21-8-2005) : AAS 97 (2005), tr. 891-892.

[11] x. Propositio 3.

[12] x. Sách Lễ Rôma, Kinh Nguyện Thánh Thể IV.

[13] Giáo Lý XXIII, 7 : PG 33, 1114 s.

[14] x. De Sacerdotio, VI, 4 : PG 48, 681.

[15] Ibidem, III, 4 : PG 48, 642.

[16] Propositio 22.

[17] x. Propositio 42 : “Cuộc gặp gỡ Thánh Thể này được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, Đấng biến đổi và thánh hóa chúng ta. Ngài đánh thức nơi người môn đệ ước muốn quyết liệt loan báo cho những người khác với lòng can đảm những gì đã nghe và đã sống, để dẫn đưa họ đến gặp gỡ chính Đức Kitô. Bằng cách này, khi được Hội Thánh sai đi, người môn đệ tự mở rộng một sứ vụ không biên giới”.

[18] xX. Công Đồng Vaticanô II, Hiến Chế tín lý về Hội Thánh Lumen Gentium, số 3 ; ví dụ, xem T. Gioan Kim Khẩu, Giáo Lý 3,13-19 : SC 50, tr. 174-177.

[19] Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17-4-2003), số 1 : AAS 95 (2003), tr. 433.

[20] Ibidem, 21 : AAS 95 (2003), tr. 447.

[21] X. Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptor hominis (4-3-1979), số 20 : AAS 71 (1979), tr. 309-316 ; Tông thư Dominicae Cenae (24-02-1980), số 4 : AAS 72 (1980), tr. 119-121.

[22] x. Propositio 5.

[23] T. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, III, q. 80, a 4.

[24] số 38 : AAS 95 (2003), tr. 458.

[25] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 23.

[26] Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Lá thư về một vài khía cạnh của toàn thể Hội Thánh như là sự hiệp thông Communionis Notio (28-5-1992), số 11 : AAS 85 (1993), tr. 844-845.

[27] Propositio 5 : “Thuật ngữ ‘công giáo’ diễn tả tính phổ quát phát xuất từ sự hiệp nhất mà Bí tích Thánh Thể, được cử hành nơi mỗi Giáo Hội, khích lệxây dựng. Như thế, trong Bí tích Thánh Thể, các Giáo Hội địa phương có phận vụ làm cho sự hiệp nhất và khác biệt của chính mình được trở nên hữu hình. Mối dây bác ái huynh đệ này làm cho sự hiệp thông ba ngôi được tỏ bày. Các Công Đồng và các Thượng Hội Đồng đã diễn tả khía cạnh huynh đệ này qua dòng lịch sử”.

[28] x. ibidem.

[29] Sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục Presbyterorum Ordinis, số 5.

[30] x. Propositio 14.

[31] Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 1.

[32] De Orat. Dom., 23 : PL 4, 553.

[33] Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 48 ; xt. ibidem số 9.

[34] x. Propositio 13.

[35] x. Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 7.

[36] x. ibidem, số 11 ; Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Hội Thánh Ad Gentes, số 9.13.

[37] x. Gioan Phaolô II, Tông thư Dominicae Cenae (24-2-1980), số 7 : AAS 72 (1980), tr. 124-127 ; x. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục Presbyterorum Ordinis, số 5.

[38] x. Bộ Giáo Luật cho các Giáo Hội Đông Phương, đ. 710.

[39] x. Nghi thức khai tâm kitô giáo cho người trưởng thành, dẫn nhập tổng quát, số 34-36.

[40] x. Nghi thức Rửa Tội cho trẻ em, dẫn nhập, số 18-19.

[41] x. Propositio 15.

[42] x. Propositio 7 ; Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17-4-2003), số 36 : AAS 95 (2003), tr. 457-458.

[43] x. Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Reconciliatio et Paenitentia (2-12-1984), số 18 : AAS 77 (1985), tr. 224-228.

[44] x. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1385.

[45] Ở đây chúng ta nhớ đến Kinh Thương Xót hay những lời của linh mục và cộng đoàn trước khi rước lễ : “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh !”. Không phải là không có ý nghĩa khi phụng vụ chuẩn bị cả cho linh mục những lời nguyện rất đẹp, đã được truyền thống truyền lại cho chúng ta, nhắc chúng ta về nhu cầu cần được tha thứ, ví dụ như lời nguyện được đọc thầm trước khi mời các tín hữu hiệp lễ : “xin dùng Mình và Máu Thánh Chúa đây cứu con khỏi mọi tội lỗi và mọi sự dữ ; xin cho con hằng tuân giữ giới răn Chúa, và đừng để con lìa xa Chúa bao giờ”.

[46] x. T. Gioan Damasceno, Về đức tin chân thật, IV, 9 : PG 94, 1124C ; T. Gregôriô Nazianzeno, Discorso 39, 17 : PG 36, 356A ; Công đồng Trentô, Doctrina de sacramento paenitentiae, cap. 2 : DS 1672.

[47] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, số 11 ; Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng Reconciliatio et Paenitentia (2-12-1984), số 30 : AAS 77 (1985), tr. 256-257.

[48] x. Propositio 7.

[49] x. Gioan Phaolô II, Tự sắc Misericordia Dei (7-4-2002) : AAS 94 (2002), tr. 452-459.

[50] Cùng với các Nghị Phụ thượng hội đồng tôi nhắc rằng các cử hành sám hối không có tính bí tích, được nói đến trong Nghi thức Bí tích Hòa Giải, có thể có ích để làm gia tăng tinh thần hoán cải và hiệp thông trong các cộng đoàn kitô giáo, như thế chuẩn bị các tâm hồn cử hành Bí tích này : x. Propositio 7.

[51] x. Bộ Giáo Luật, đ. 508.

[52] Phaolô VI, Tông hiến Indulgentiarum doctrina (01-01-1967), Normae, số 1 : AAS 59 (1967), tr. 21.

[53] Ibidem, số 9 : AAS 59 (1967), tr. 18-19.

[54] x. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1499-1531.

[55] Ibidem, số 1524.

[56] x. Propositio 44.

[57] x. Thượng Hội Đồng Giám Mục, Phiên họp khoáng đại lần thứ hai, Tài liệu về chức linh mục thừa tác Ultimis temporibus (30-11-1971) : AAS 63 (1971), tr. 898-942.

[58] x. Gioan Phaolô II, Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Pastores dabo vobis (25-3-1992), số 42-69 : AAS 84 (1992), tr. 729-778.

[59] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, số 10 ; Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Lá thư về vài vấn đề liên quan đến tác vụ của Bí tích Thánh Thể Sacerdotium ministeriale (6-8-1983) : AAS 75 (1983), tr. 1001- 1009.

[60] Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1548.

[61] Ibidem, 1552.

[62] x. In Iohannis Evangelium Tractatus 123,5 : PL 35, 1967.

[63] x. Propositio 11.

[64] x. Sắc lệnh về tác vụ và đời sống linh mục Presbyterorum Ordinis, số 16.

[65] x. Gioan XXIII, Thông điệp Sacerdotii nostri primordia (1-8-1959) : AAS 51 (1959), tr. 545-579 ; Phaolô VI, Thông điệp Sacerdotalis caelibatus (24-6-1967) : AAS 59 (1967), tr. 657-697 ; Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores dabo vobis (25-3-1992), số 29 : AAS 84 (1992), tr. 703-705 ; Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho Giáo triều (22-12-2006) : L’Osservatore Romano, 23-12-2006, tr. 6.

[66] x. Propositio 11.

[67] x. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về đào tạo linh mục Optatam totius, số 6 ; Bộ Giáo Luật, đ. 241, § 1 và đ. 1029 ; Bộ Giáo Luật cho các Giáo Hội Đông Phương, đ. 342, § 1 và đ. 758 ; Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores dabo vobis (25-3-1992) số 11.34.50 : AAS 84 (1992), tr. 673-675 ; 712-714 ; 746-748 ; Thánh bộ Giáo sĩ, Chỉ nam tác vụ và đời sống linh mục Dives Ecclesiae (31-3-1994), số 58 : LEV, 1994, tr. 56-58 ; Thánh bộ Giáo dục Công giáo, Huấn thị về những tiêu chuẩn phân định ơn gọi liên quan đến những người có khuynh hướng đồng tính để xét cho họ vào chủng viện hay các chức thánh (4-11-2005) : AAS 97 (2005), tr. 1007-1013.

[68] x. Propositio 12 ; Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores dabo vobis (25-3-1992) số 41 : AAS 84 (1992), tr. 726-729.

[69] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 29.

[70] x. Propositio 38.

[71] x. Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Familiaris consortio (22-11-1981), số 57 : AAS 74 (1982), tr. 149-150.

[72] Tông thư Mulieris dignitatem (15-8-1988), số 26 : AAS 80 (1988), tr. 1715-1716.

[73] Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1617.

[74] x. Propositio 8.

[75] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 11.

[76] x. Propositio 8.

[77] x. Gioan Phaolô II, Tông thư Mulieris dignitatem (15-8-1988) : AAS 80 (1988), tr. 1653-1729 ; Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Thư gửi các Giám mục của Hội Thánh công giáo về sự cộng tác của người nam và người nữ trong Hội Thánh và trong thế giới (31-5-2004) : AAS 96 (2004), tr. 671-687.

[78] x. Propositio 9.

[79] x. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1640.

[80] x. Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Familiaris consortio (22-11-1981), số 84 : AAS 74 (1982), tr. 184-186 ; Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Thư gửi các Giám mục của Hội Thánh công giáo về việc cho các tín hữu đã ly dị tái hôn rước lễ Annus Internationalis Familiae (14-9-1994) : AAS 86 (1994), tr. 974-979.

[81] x. Hội Đồng Giáo Hoàng về các Văn Bản Lập Pháp, Huấn thị về các tiêu chuẩn cần cân nhắc trong các tòa án giáo hội về các ca hôn phối Dignitas connubii (25-01-2005), Vatican, 2005.

[82] x. Propositio 40.

[83] Bênêđíctô XVI, Diễn văn tại Tòa Án của Tòa Thượng Thẩm Rôma nhân dịp khai mạc năm pháp luật (28-01-2006) : AAS 98 (2006), tr. 138.

[84] x. Propositio 40.

[85] x. ibidem.

[86] x. ibidem.

[87] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen gentium, 48.

[88] x. Propositio 3.

[89] Ở đây tôi ước muốn nhắc lại những lời đầy hy vọng và an ủi trong Kinh Nguyện Thánh Thể II : “Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã ly trần trong tình thương của Chúa. Xin cho hết thảy được vào hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa”.

[90] x. Bênêđíctô XVI, Bài giảng (8-12-2005) : AAS 98 (2006), tr. 15-16.

[91] Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 58.

[92] Propositio 4.


[1] Relatio post disceptationem, số 4 : L’Osservatore Romano, 14-10-2005, tr. 5.

[2] x. Sermo 1, 7 ; 11, 10 ; 22, 7 ; 29, 76 : Sermones dominicales ad fidem codicum nunc denuo editi, Grottaferrata 1977, tr. 135, 209tt, 292tt, 337 ; Bênêđíctô XVI, Sứ điệp gửi cho các Phong Trào Giáo Hội và các Cộng Đoàn Mới (22-5- 2006) : AAS 98 (2006), tr. 463

[3] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ về Hội Thánh trong thế giới ngày nay Gaudium et spes, số 22.

[4] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, số 2. 4.

[5] Propositio 33.

[6] Sermo 227, 1 : PL 38, 1099.

[7] T. Augustinô, In Iohannis Evangelium Tractatus 21, 8 : PL 35, 1568.

[8] Ibidem, 28,1 : PL 35, 1622.

[9] x. Propositio 30. Ngay cả Thánh Lễ mà Hội Thánh cử hành trong tuần, và các tín hữu được mời gọi tham dự, cũng có hình thức chính yếu của Ngày của Chúa, ngày phục sinh của Đức Kitô ; Propositio 43.

[10] x. Propositio 2.

[11] x. Propositio 25.

[12] x. Propositio 19. Propositio 25 ghi rõ : “Một hành động phụng vụ đích thực diễn tả tính thánh thiêng của Mầu Nhiệm Thánh Thể. Hành động này phải tỏ lộ trong lời nói và hành động của linh mục chủ tế, trong khi ngài chuyển cầu cùng Thiên Chúa Cha vừa với các tín hữu vừa cho các tín hữu”.

[13] Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 22 ; x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 41 ; Thánh bộ Phượng tự và Kỷ luật các Bí tích, Huấn thị Redemptionis Sacramentum (25-3-2004), số 19-25 : AAS 96 (2004), tr. 555-557.

[14] x. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của các Giám mục trong Hội Thánh Christus Dominus, số 14 ; Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 41.

[15] Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 22.

[16] x. ibidem.

[17] x. Propositio 25.

[18] x. Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 112-130. (123(124)

[19] x. Propositio 27.

[20] x. ibidem.

[21] Về tất cả những gì liên quan đến các khía cạnh này, cần tuân thủ trung thành những gì đã được chỉ định trong Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 319-351.

[22] x. Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 39-41 ; Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, 112-118.

[23] Sermo 34,1 : PL 38, 210.

[24] x. Propositio 25 : “Như tất cả các diễn tả nghệ thuật, ngay cả ca hát phải được hài hòa cách mật thiết với phụng vụ, góp phần một cách có hiệu quả vào mục đích của phụng vụ, nghĩa là phải diễn tả đức tin, sự cầu nguyện, sự cảm mến, tình yêu đối với Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể”.

[25] x. Propositio 29.

[26] x. Propositio 36.

[27] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 116 ; Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 41.

[28] Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 28 ; x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 56 ; Thánh bộ Nghi lễ, Huấn thị Eucharisticum Mysterium (25-5-1967), số 3 : AAS 57 (1967), tr. 540-543.

[29] x. Propositio 18.

[30] Ibidem.

[31] Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 29.

[32] x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Fides et Ratio (14-9-998), 13 : AAS 91 (1999), tr. 15-16.

[33] T. Giêrônimô, Comm. in Is., Prol. : PL 24, 17 ; x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, số 25.

[34] x. Propositio 31.

[35] Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 9 ; x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, số 7. 33. 52.

[36] Propositio 19.

[37] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 52.

[38] x. Công đồng Vaticanô, Hiến chế tín lý về mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, số 21.

[39] Vì mục đích như thế, Thượng Hội Đồng đã kêu gọi soạn thảo những trợ giúp mục vụ, dựa trên Sách Bài Đọc phân chia theo ba năm, giúp nối kết một cách nội tại sự công bố các bài đọc đã được soạn trước với giáo lý đức tin : x. Propositio 19.

[40] x. Propositio 20.

[41] Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 78.

[42] x. ibidem, số 78-79.

[43] x. Propositio 22.

[44] Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 79d.

[45] Ibidem, 79c.

[46] Xét đến các thói quen cổ xưa và đáng kính cùng với những ước muốn của các Nghị Phụ thượng hội đồng, tôi đã đề nghị các Bộ có thẩm quyền nghiên cứu khả năng đặt việc chúc bình an vào lúc khác, ví dụ trước khi dâng lễ vật lên bàn thờ. Hơn nữa việc lựa chọn như thế làm nhớ lại một cách ý nghĩa lời khuyên răn của Chúa Giêsu về sự hòa giải cần có trước khi dâng lễ vật cho Thiên Chúa (x. Mt 5,23tt) : x. Propositio 23.

[47] x. Thánh bộ Phượng tự và Kỷ luật các Bí tích, Huấn thị Redemptionis Sacramentum (25-3-2004), số 80-96 : AAS 96 (2004), tr. 574-577.

[48] x. Propositio 34.

[49] x. Propositio 35.

[50] x. Propositio 24.

[51] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 14-20 ; 30tt ; 48tt ; Thánh bộ Phượng tự và Kỷ luật các Bí tích, Huấn thị Redemptionis Sacramentum (25-3-2004), số 36-42 : AAS 96 (2004), tr. 561-564.

[52] Số 48.

[53] Ibidem.

[54] x. Thánh bộ Giáo sĩ và các Thánh bộ khác của Giáo triều, Huấn thị về vài vấn đề cộng tác của giáo dân trong tác vụ của các linh mục Ecclesiae de mysterio (15-8-1997) : AAS 89 (1997), tr. 852-877.

[55] x. Propositio 33.

[56] Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 92.

[57] x. ibidem, số 94.

[58] x. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về tông đồ giáo dân Apostolicam actuositatem, số 24 ; Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 95-111 ; Thánh bộ Phượng tự và Kỷ luật các Bí tích, Huấn thị Redemptionis Sacramentum (25-3-2004), số 43-47 : AAS 96 (2004), tr. 564-566 ; Propositio 33 : “Những thừa tác vụ này phải được cắt đặt theo một sự uỷ thác đặc biệt và theo những nhu cầu thực tế của cộng đoàn cử hành. Những người được uỷ thác những công việc phục vụ lâu dài có tính phụng vụ phải được chọn lựa cách kỹ lưỡng, được đào tạo chu đáo và được huấn luyện thường xuyên. Sự bổ nhiệm phải có thời hạn. Những người này phải được cộng đoàn biết đến và cũng phải nhận được lòng biết ơn từ phía cộng đoàn”.

[59] x. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 37-42.

[60] x. Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma, số 386-399.

[61] AAS 87 (1995), 288-314.

[62] Tông huấn hậu thượng hội đồng Ecclesia in Africa (14-9-1995), số 55-71 : AAS 88 (1996), tr. 34-47 ; Tông huấn hậu thượng hội đồng Ecclesia in America (22-1-1999), số 16.40.64.70-72 : AAS 91 (1999), tr. 752-753 ; 775-776 ; 799 ; 805-809 ; Tông huấn hậu thượng hội đồng Ecclesia in Asia (6-11-1999), số 21-22 : AAS 92 (2000), tr. 482-487 ; Tông huấn hậu thượng hội đồng Ecclesia in Oceania (22-11-2001), số 16 : AAS 94 (2002), tr. 382-384 ; Tông huấn hậu thượng hội đồng Ecclesia in Europa (28-6-2003), số 58-60 : AAS 95 (2003), tr. 685-686.

[63] x. Propositio 26.

[64] x. Propositio 35 ; Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 11.

[65] x. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1388 ; Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, số 55.

[66] x. Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17-4-2003), số 34 : AAS 95 (2003), tr. 456.

[67] Ví dụ, T. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, III, q. 80, a.1,2 ; T. Têrêsa Chúa Giêsu, Đường hoàn thiện, chương 35. Giáo thuyết này được chính thức xác nhận bởi Công đồng Trentô, phiên họp XIII, c. VIII.

[68] x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Ut unum sint (25-5-1995), số 8 : AAS 87 (1995), tr. 925-926.

[69] x. Propositio 41 ; Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về hiệp nhất Unitatis redintegratio, số 8, 15 ; Gioan Phaolô II, Thông điệp Ut unum sint (25-5-1995), số 46 : AAS 87 (1995), tr. 948 ; Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17-4-2003), số 45-46 : AAS 95 (2003), tr. 463-464 ; Bộ Giáo Luật, đ. 844 §§ 3-4 ; Bộ Giáo Luật cho các Giáo Hội Đông Phương, đ. 671 §§ 3-4 ; Hội đồng Giáo hoàng về Hiệp nhất các kitô hữu, Chỉ nam để áp dụng các nguyên tắc và tiêu chuẩn về đại kết (25-3-1993), số 125, 129-131 : AAS 85 (1993), tr. 1087, 1088-1089.

[70] X. số 1398-1401.

[71] X. số 293.

[72] x. Uỷ ban Giáo hoàng về truyền thông xã hội, Huấn thị mục vụ về truyền thông xã hội nhân sinh nhật lần thứ 20 của “Communio et progressio”, Aetatis novae (22-02-1992) : AAS 84 (1992), tr. 447-468.

[73] x. Propositio 29.

[74] x. Propositio 44.

[75] x. Propositio 48.

[76] Sự hiểu biết này cũng có thể được tích lũy trong những năm đào tạo các ứng sinh lên chức linh mục, trong chủng viện, bằng những sáng kiến thích hợp : x. Propositio 45.

[77] x. Propositio 37.

[78] x. Hiến chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium, các số 36 và 54.

[79] Propositio 36.

[80] x. ibidem.

[81] x. Propositio 32.

[82] x. Propositio 14.

[83] Propositio 19.

[84] x. Propositio 14. (189)

[85] x. Bênêđíctô XVI, Bài giảng giờ Kinh Chiều I ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (3-6-2006) : AAS 98 (2006), tr. 509.

[86] x. Propositio 34.

[87] Enarrationes in Psalmos 98,9 CCL XXXIX, 1385 ; x. Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho giáo triều Rôma (22-12-2005) : AAS 98 (2006), tr. 44-45.

[88] x. Propositio 6.

[89] Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho giáo triều Rôma (22-12-2005) : AAS 98 (2006), tr. 45.

[90] x. Propositio 6 ; Thánh bộ Phượng tự và Kỷ luật các Bí tích, Hướng dẫn về lòng đạo đức bình dân và phụng vụ. Nguyên tắc và hướng dẫn (17-12-2001), số 164-165, Vatican, 2002 ; Thánh bộ Nghi lễ, Huấn thị Eucharisticum Mysterium (25-5-1967) : AAS 57 (1967), tr. 539-573.

[91] x. Relatio post disceptationem, số 11 : L’Osservatore Romano, 14-10-2005, tr. 5.

[92] x. Propositio 28.

[93] x. số 314.


[1] VII, 10, 16 : PL 32, 742.

[2] Bênêđíctô XVI, Bài giảng tại cánh đồng Marienfeld (21-8-2005 : AAS 97 (2005), tr. 891 ; x. Bài giảng canh thức lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (3-6-2006) : AAS 98 (2006), tr. 505.

[3] x. Relatio post disceptationem, 6.47 : L’Osservatore Romano, 14-10-2005, tr. 5-6 ; Propositio 43.

[4] De civitate Dei, X,6 : PL 41,284 (202)

[5] x. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1368.

[6] T. Irênê, Adversus Haereses IV,20,7 : PG 7, 1037.

[7] Ad Magnes., 9, 1 : PG 5, 670.

[8] x. I Apologia, 67,1-6 : PG 6,430tt. 427, 430.

[9] x. Propositio 30.

[10] x. AAS 90 (1998), tr. 713-766.

[11] Propositio 30.

[12] Bài giảng (19-3-2006) : AAS 98 (2006), tr. 324.

[13] Toát yếu Học thuyết Xã hội của Hội Thánh ghi nhận cách đúng đắn : “Được liên kết với sự cần thiết của lao động, sự nghỉ ngơi mở ra cho con người viễn tượng về một sự tự do tròn đầy hơn, đó là sự tự do của ngày sabát vĩnh cửu (x. Dt 4,9-10). Sự nghỉ ngơi cho phép con người nhớ đến và sống lại những kỳ công của Thiên Chúa, từ cuộc Tạo dựng cho đến công trình Cứu chuộc, nhận ra chính mình như là tác phẩm của Chúa (x. Ep 2,10) và tạ ơn Đấng là tác giả của sự sống mình” (số 258).

[14] x. Propositio 10.

[15] x. ibidem.

[16] x. Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho các Giám mục vùng Québec, Canađa, trong cuộc viếng thăm ad limina apostolorum (11-5-2006) : x. L’Osser-vatore Romano, 12-5-2006, tr. 5.

[17] Số 10 : AAS 71 (1979), tr. 414-415.

[18] Bênêđíctô XVI, Buổi tiếp kiến ngày 29 tháng 3 năm 2006 : L’Osser-vatore Romano, 30-3-2006, tr. 4.

[19] Propositio 39.

[20] x. Relatio post disceptationem, số 30 : L’Osservatore Romano, 14-01-2005, tr. 6.

[21] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 39-42.

[22] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Christifideles Laici (30-12-1988), số 14-16 : AAS 81 (1989), tr. 409-413 ; 416-418.

[23] x. Propositio 39.

[24] x. ibidem.

[25] Sách Nghi thức Giám mục, Phong chức Giám mục, linh lục, phó tế, Nghi thức phong chức linh mục, số 135.

[26] x. Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Pastores dabo vobis (25-3-1992), số 19-33 ; 70-81 : AAS 84 (1992), tr. 686-712 ; 778-800.

[27] Propositio 38.

[28] Propositio 39. x. Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Vita consecrata (25-3-1996), số 95 : AAS 88 (1996), tr. 470-471.

[29] Bộ Giáo luật, đ. 663, § 1.

[30] x. Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng Vita consecrata (25-3-1996), số 34 : AAS 88 (1996), tr. 407-408.

[31] Thông điệp Veritatis splendor (6-8-1993), số 107 : AAS 85 (1993), tr. 1216-1217.

[32] Bênêđíctô XVI, Thông điệp Deus caritas est – Thiên Chúa là Tình Yêu (25-12-2005), số 14 : AAS 98 (2006), tr. 229.

[33] x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium vitae (25-3-1995) : AAS 87 (1995), tr. 401-522 ; Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho Học viện Giáo hoàng về sự sống (27-2-2006) : AAS 98 (2006), tr. 264-265.

[34] x. Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Lưu ý về giáo lý liên quan đến sự dấn thân và thái độ của những người công giáo trong đời sống chính trị (24-11- 2002) : AAS 96 (2004), tr. 359-370.

[35] x. Propositio 46.

[36] AAS 97 (2005), tr. 711.

[37] Propositio 42.

[38] x. Sự tử đạo của thánh Polycarpe, XV,1 : PG 5, 1039. 1042.

[39] T. Inhaxiô thành Antiôkia, Thư gửi giáo đoàn Rôma, IV,1 : PG 5,690.

[40] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh Lumen gentium, số 42.

[41] x. Propositio 42 ; x. Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên ngôn Dominus Iesus về tính duy nhất và tính phổ quát cứu độ của Đức Giêsu Kitô và của Hội Thánh (6-8-2000), số 13-15 : AAS 92 (200), tr. 754-756.

[42] x. Propositio 42.

[43] Bênêđíctô XVI, Thông điệp Deus caritas est – Thiên Chúa là Tình Yêu (25-12-2005), số 18 : AAS 98 (2006), tr. 232.

[44] Ibidem, số 14.

[45] Tại Thượng Hội Đồng Giám Mục, chúng tôi đã cảm động lắng nghe những chứng từ rất có ý nghĩa liên quan đến hiệu quả của bí tích trong việc hoà giải. Về điều này, Đề nghị số 49 khẳng định : “Nhờ những buổi cử hành Thánh Thể, những người đang mâu thuẩn với nhau đã có thể tụ họp lại bên Lời Chúa, lắng nghe lời loan báo tiên tri về sự hoà giải nhờ ơn tha thứ nhưng không, đón nhận ơn hoán cải cho phép hiệp thông vào cùng một bánh và một chén”.

[46] x. Propositio 48.

[47] Bênêđíctô XVI, Thông điệp Deus caritas est – Thiên Chúa là Tình Yêu (25-12-2005), số 24 : AAS 98 (2006), tr. 239.

[48] x. Propositio 48.

[49] x. Bênêđíctô XVI, Diễn văn cho ngoại giao đoàn cạnh Toà Thánh (9-01-2006) : AAS 98 (2006) tr. 127.

[50] Ibidem.

[51] x. Propositio 48. Trong viễn cảnh này, cuốn Toát yếu Học thuyết Xã hội của Hội Thánh tỏ ra đặc biệt hữu ích.

[52] x. Propositio 43.

[53] x. Propositio 47.

[54] x. Propositio 17.

 

Comments are closed.