Đời sống cộng đoàn theo linh đạo Đa Minh

0

ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN TRONG LINH ĐẠO ĐA MINH

Sau khi đã họa lại chân dung thánh Đa Minh qua ba say mê : say mê Lời Chúa, say mê ơn cứu rỗi các linh hồn và say mê loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc, tác giả muốn đi vào một điểm chính yếu trong linh đạo Đa Minh, đó là đời sống cộng đoàn. Thánh Đa Minh đã thiết lập một đời sống theo gương các Tông đồ, vì đã tìm thấy nơi cộng đoàn tiên khởi những ý tưởng phù hợp cho việc rao giảng Tin Mừng. Vì thế, trong bài viết này xin tìm hiểu đời sống cộng đoàn tiên khởi trong sách Tông đồ Công vụ để liên kết với đời sống cộng đoàn trong linh đạo Đa Minh. Thật vậy, đời sống cộng đoàn tiên khởi là mẫu gương cho chúng ta về đời sống chung, đời sống hiệp thông huynh đệ. Một cộng đoàn qui tụ lại với nhau nhờ chuyên cần với giáo huấn các Tông đồ, tụ họp lại với nhau để cùng nhau cầu nguyện, bẻ bánh ; một cộng đoàn mà trong đó tất cả mọi người đều một lòng, một ý, một con tim, đồng tâm nhất trí để cùng nhau xây dựng Nước Chúa ở trần gian này.

I. Đời sống chung trong sách Tông đồ Công vụ

Trong Công vụ Tông đồ có ba đoạn văn mô tả đời sống của cộng đoàn tiên khởi : 2, 42-47 ; 4, 32-35 và 5, 12-16, với những điểm nhấn khác nhau. Bản văn đầu tiên giới thiệu cho chúng ta những điểm nền tảng của cộng đoàn. Công vụ chương 2 câu 42 nêu lên ba đặc tính nền tảng của cộng đoàn và câu 43, 47 đưa ra một vài nét riêng của cộng đoàn như điềm thiêng, dấu lạ, đồng tâm nhất trí, chuyên cần lui tới Đền thờ, bẻ bánh, cùng nhau chia sẻ của nuôi thân, lòng hân hoan, dạ đơn thành. Một nét độc đáo mà chúng ta gặp thấy nơi ba bản văn trên đó là thành ngữ « họ đồng tâm nhất trí» (2, 46. 47 ; 4, 32 ; 5, 12).

1. Ba điểm nền tảng của cộng đoàn tiên khởi

Cv 2, 42 giới thiệu ba nguyên lý nền tảng của đời sống cộng đoàn. Nguyên lý thứ nhất giáo huấn các tông đồ, liên quan đến sứ điệp và hoạt động của Đức Giêsu, hay nói cách khác liên quan đến con người của Ngài. Nguyên lý thứ hai, những công việc bác ái đã trở thành sự hiệp thông huynh đệ và nguyên lý sau cùng là việc thờ phượng được chia ra làm hai phần bẻ bánh và cầu nguyện. Trong mạch văn chúng ta thấy hiệp thông huynh đệ có được là do có sự chuyên cần giáo huấn các tông đồ và trung thành với việc bẻ bánh, cầu nguyện.

Chúng ta thấy rằng giáo huấn các tông đồ thường liên kết với những điềm thiêng, dấu lạ. Chứng nhân của các tông đồ là lời nói uy quyền, sống động và đơm hoa kết trái trong lòng các tín hữu. Các tông đồ là những chứng nhân của Lời. Họ cũng nói Lời khôn ngoan được hoàn tất trong Chúa Giêsu, sự Khôn ngoan này đã được Đức Maria mang lấy trong tim « hằng suy đi gẫm lại trong lòng » (Lc 2, 19. 51).

Hoa trái đầu tiên của các tông đồ đó là qui tụ chung quanh mình những con người sống hiệp thông huynh đệ. Sự hiệp thông khai mở ba chiều kích của con người : chiều kích thứ nhất, tương quan với Thiên Chúa bằng niềm tin (c. 44), và cầu nguyện đã qui tụ họ lại với nhau (cc. 42-46) ; chiều kích thứ hai, đời sống cá nhân của họ nhằm xây dựng sự đồng tâm nhất trí (c. 42) ; và chiều kích cuối cùng, tương quan của con người với những thực tại vật chất, chính nó làm cho họ dễ dàng chia sẻ những gì mình có (cc. 44-45). Đời sống bác ái diễn tả chiều kích ngôn sứ của sự hiện hữu con người nghĩa là cộng đoàn hoàn hảo trở nên ngôn sứ cho thời cánh chung. Đời sống bác ái là linh hồn của tình hiệp thông huynh đệ.

Thành ngữ đầu tiên của những yếu tố nền tảng của cộng đoàn tiên khởi là « bẻ bánh và cầu nguyện ». « Bẻ bánh ở nhà » diễn tả cử chỉ tạ ơn trung tâm của cuộc sống, chóp đỉnh của những yếu tố làm nên đời sống cộng đoàn tiên khởi. Bản văn Công vụ cho chúng ta hai ví dụ : việc bẻ bánh ở Trôa (Cv 20, 7-12) và trong cơn bảo (Cv 27, 35). Cầu nguyện chung biểu lộ tâm tình tạ ơn cộng đoàn và liên đới với nhau.

Trong bản văn này, chúng ta cũng thấy một điểm nổi bật là sự hiệp thông huynh đệ trong tinh thần và vật chất. Về tinh thần, chuyên cần giáo huấn các tông đồ và việc bẻ bánh, kinh nguyện. Về vật chất, các kẻ tin đều coi mọi sự là của chung, phân phát ai nấy tùy theo nhu cầu. Vì thế, đời sống huynh đệ này đã lôi kéo nhiều người tin theo Chúa.

2. Tất cả làm của chung (4, 32-35)

Thánh sử Luca đã nói rất chi tiết việc để tất cả làm của chung. Thiết nghĩ cộng đoàn tiên khởi sẽ như thế nào nếu họ không cùng nhau ca ngợi Thiên Chúa và nếu họ không biện phân dưới ánh sáng của Đấng Phục Sinh ? Chính vì thế, trung tâm của việc để của chung là: « Với quyền năng lớn lao, các tông đồ đoan chứng về sự sống lại của Chúa Giêsu và ân sủng dồi dào xuống trên họ hết thảy » (c. 33). Điều này cho chúng ta một xác tín rằng chỉ có trong niềm tin chúng ta mới có thể để mọi sự làm của chung ; chỉ trong ân sủng của Thiên Chúa các tín hữu mới từ khước quyền sở hữu tài sản của mình và chia sẻ cho tha nhân.

Qua việc để mọi sự làm của chung, các tông đồ làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh, vì tất cả mọi người trở nên người quản lý của Thiên Chúa. Để mọi sự làm của chung và bán của cải mình có là một dấu chỉ mang tính ngôn sứ và truyền giáo.

Trong bản văn này, các tín hữu hiệp thông với nhau bằng thành ngữ « một lòng một ý ». Sự đồng tâm nhất trí là hoa quả của Thánh Thần. Thánh sử Luca nhận thấy rằng sự hiệp thông này có thể khơi dậy nơi đọc giả thời bấy giờ một định nghĩa thế nào là tình bằng hữu, là để tất cả mọi sự làm của chung và bình đẳng với nhau. Triết học định nghĩa, bạn hữu là chỉ có một tâm hồn, như Aristotle đã nói, bạn hữu bao gồm việc để mọi sự làm của chung. Tuy nhiên thánh Luca cũng lường được vực thẳm chia cắt giữa lý tưởng của các triết gia và hồng ân mà Thiên Chúa làm cho dân của Ngài. Một bên là sự lần mò của ước vọng con người ; một bên là phúc lành của Thiên Chúa với quyền năng Chúa Thánh Thần. Vậy trong bản văn thứ hai sự hiệp thông huynh đệ là dấu chỉ cho thấy dân Thiên Chúa đã hưởng mối phúc lành của Ngài.

II. Đời sống chung trong tinh thần Đa Minh

Như chúng ta ai cũng đã rõ, điểm đầu tiên trong linh đạo Đa Minh là đời sống cộng đoàn, cùng nhau xây dựng một cộng đòan, cùng nhau thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng. Vì mục đích của Dòng là “ơn cứu rỗi các linh hồn”, nên phải chọn những phương tiện nào thích hợp để đạt được mục tiêu ấy. Ngay từ đầu, Dòng Đa Minh đã tổ chức cơ cấu điều hành phù hợp với những đòi hỏi của sứ vụ Tông đồ. Vấn đề này đòi hỏi phải linh động về nhân sự, phải cùng nhau giải quyết những khó khăn, những dự phóng, cùng cộng tác vào việc rao giảng với tinh thần huynh đệ. Vì thế, trong đời sống cộng đoàn một điều không thể thiếu đó là “một lòng một ý” cùng nhau thi hành sứ vụ.

1. Đồng tâm nhất trí

Thế nào là đồng tâm nhất trí ? Đồng tâm nhất trí không có nghĩa là đúc khuôn, đồng bộ nhưng là sự hiệp thông sâu xa trong hiểu biết, hổ tương và tôn trọng lẫn nhau. Sự đồng tâm nhất trí bắt nguồn từ cộng đòan tiên khởi và trở thành điểm chủ đạo của Tu luật thánh Augustin. Sự đồng tâm nhất trí không đơn giản là một sự hiệp nhất theo tình cảm, theo cảm xúc. Nếu dựa trên cảm xúc thì sự đồng tâm nhất trí sẽ như tuyết dưới ánh sáng mặt trời, nhanh tan theo mây khói. Nhưng sách Công vụ cho chúng ta thấy sự đồng tâm nhất trí ở đây là sự hiệp nhất trong tinh thần, sự hiệp nhất bắt nguồn từ Chúa Thánh Thần, Đấng tuôn đổ tình yêu vào lòng chúng ta « vì lòng mến của Thiên Chúa đã được đổ xuống lòng ta bởi Thánh Thần »[1]. Đấng làm nên sự duy nhất trong khác biệt, Đấng đảm bảo, thiết lập, duy trì tình yêu thương và hòa thuận trong cộng đoàn.

Sự đồng tâm nhất trí có được khi các thành viên trong cộng đòan chuyên cần học hỏi Lời Chúa và sống đời sống cầu nguyện. Các thành viên biết tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau nhắc lại lời của thánh Phaolô « Anh em hãy yêu mến nhau trong tình huynh đệ, cùng thi đua tôn trọng lẫn nhau »[2] hay « Anh em hãy vác đỡ gánh nặng cho nhau »[3]. Lời mời gọi của thánh Phaolô nghĩa là gì nếu không phải là chấp nhận những khuyết điểm của tha nhân trong mọi hoàn cảnh, chấp nhận mọi hy sinh do việc người khác không đồng quan điểm với mình, không có một cái nhìn, một lối suy nghĩ giống mình. Bên cạnh đó cũng mời gọi chúng ta « khám phá nơi những người khác phẩm cách của họ »[4].

Vậy đồng tâm nhất trí là tôn trọng tha nhân vô điều kiện, chấp nhận như họ là. Mục đích của việc đồng tâm nhất trí không phải là để không có « mặt nặng, mặt nhẹ » trong cộng đoàn, không có những lớn tiếng trong cộng đoàn, nhưng ngược lại là cùng nhau đi tìm sự thật về chính mình, sự thật về tha nhân và về Thiên Chúa. Ba chiều kích này không thể nào tách rời nhau, luôn liên kết với nhau một cách chặt chẽ. Chấp nhận có hiểu lầm, có cãi vả để chân lý được sáng tỏ như cuộc tranh luận của các Tông đồ ở Giêrusalem « một cuộc tranh luận kịch liệt diễn ra »[5] để xem người ngoại giáo có phải chịu cắt bì khi muốn gia nhập vào Kitô giáo hay không ? Sự tranh luận này không phải là bất cứ cuộc tranh luận nào, nhưng đây đụng chạm đến đức tin, đến truyền thống, nên các Tông đồ sẵn sàng đối đầu với nhau để cuối cùng ai cũng cảm nhận được niềm vui và bình an trong cộng đoàn.

Vậy sự đồng tâm nhất trí rất quan trọng, nó là yếu tố căn bản làm nên đời sống chung, làm nên ơn gọi Đa Minh. Có thể nói Hội Dòng tồn tại hay không, phát triển hay không là do yếu tố nền tảng này. Thế nhưng, để xây dựng sự đồng tâm nhất trí, mỗi chúng ta cần bỏ đi những tiếng xì xèo, những lời phê bình chỉ trích thiếu đức ái, những nhỏ to nơi hành lang không cần thiết, những lời phê phán về những quyết định của Bề Trên. Để tránh đi những tệ nạn trên, đòi hỏi mỗi người phải ý thức trách nhiệm về mọi hành vi, lời nói của mình trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta cần lắng nghe tiếng nói của lương tâm để có được sự đồng tâm nhất trí thật sự trong cộng đoàn. Khi nói đến đồng tâm nhất trí, thiết nghĩ chúng ta không thể nào bỏ qua tính dân chủ trong linh đạo Đa Minh.

2. Tinh thần dân chủ

Đây là một trong những nét đặc biệt của linh đạo Đa Minh, chính tinh thần dân chủ làm cho cộng đoàn trở nên trường học yêu thương, tôn trọng nhau và quí mến nhau trong tình huynh đệ. Tinh thần này không chỉ thể hiện trong cách quản trị của Dòng, nhưng còn thể hiện ở sự bình đẳng. Bình đẳng được hiểu như thế nào ? chắc chắn không phải chỉ là một quyền lợi của mọi người, nhưng còn có một sự tôn trọng lẫn nhau. Sự tôn trọng này đòi hỏi mọi thành viên nhận biết chính mình và tha nhân, có một cái nhìn đúng về mình và tha nhân. Y thức rằng mỗi người đều có một chỗ đứng trong cộng đoàn, chứ không phải là con số làm đông thêm nhân sự của Dòng, mỗi người là một chi thể sống động, có liên hệ đến sự sống còn của Dòng. Mỗi thành viên ý thức trách nhiệm của mình trong cộng đoàn, vì thế cần có những trao đổi để tìm ra những phương thế giúp cộng đoàn thăng tiến.

Trong tinh thần Đa Minh, “việc gì liên quan đến mọi người thì phải được sự chấp thuận của hết mọi người hay là đa số”[6]. Ở đây không có sự phán quyết của Bề trên. Bề trên chỉ là người qui tụ chị em lại để cùng nhau tham khảo ý kiến mang tính cách gia đình và đưa đến những quyết định chung. Trong vấn đề hội họp, chia sẻ để cùng tìm ra phương hướng, đòi hỏi chị em phải trưởng thành nghĩa là biết vượt lên trên những va chạm cá nhân, những căng thẳng không thể tránh được trong những cuộc trao đổi, chấp nhận người khác trong cái khác biệt của họ, thích cho hơn là nhận. Điều không kém phần quan trọng là phải biết kiềm chế những phản ứng vội vàng và tất cả những gì là quá khích, có khả năng chấp nhận lập trường khác một cách can đảm. Làm thế nào những gì đã bàn đến trong cuộc họp, chúng ta không nên nhắc lại dưới hình thức nhóm nhỏ từng hai người một.

Dân chủ không có nghĩa là cào bằng Bề trên cũng như bề dưới, nhưng dân chủ là biết nhìn ra chỗ đứng của mỗi người, trách nhiệm của mỗi người và trong sự tôn trọng lẫn nhau. Vì thế dân chủ sẽ đem lại cho cộng đoàn sự bình an và tình huynh đệ thật sự. Để có được tình huynh đệ chân thành một điều cần thiết cùng nhau tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện.

3. Cùng nhau bẻ bánh và cầu nguyện

Phụng vụ giờ kinh là nét chính yếu của người tu sĩ Đa Minh, do đó giờ kinh phụng vụ phải có một chỗ đứng ưu tiên trong chương trình ngày sống của chúng ta. Đừng viện lý lẽ công việc tông đồ mà bỏ giờ phụng vụ cộng đoàn nhất là giờ Kinh Sáng và Kinh Chiều. Giờ kinh phụng vụ sốt sắng sẽ là sức mạnh nuôi dưỡng đời sống tông đồ trong một ngày sống. Qua đây cho thấy việc chuẩn bị không kém phần quan trọng, chúng ta cầu nguyện sốt sắng không phải là đọc thật chậm, nhưng miệng đọc lòng suy, đặt hết tâm trí vào lơi kinh tiếng hát. Vì ý thức rằng chúng ta đang cùng nhau hát lên ca ngợi Thiên Chúa.

Đời sống cầu nguyện phải là trung tâm điểm của người tu sĩ Đa Minh, và chính việc cầu nguyện chi phối mọi hoạt động của chúng ta, hay nói cách khác chúng ta phải tập cho mình có một đời sống cầu nguyện liên lỉ như thánh Đa Minh. Người cầu nguyện không chỉ bằng tâm trí mà còn bằng thân xác, bằng tất cả con người của mình. Noi gương thánh Đa Minh chúng ta cầu nguyện trong mọi lúc, mọi hoàn cảnh. Chính đời sống cầu nguyện làm cho tai chúng ta mở ra để đón nhận lời cứu độ, cho mắt chúng ta được nhìn thấy những nhu cầu của tha nhân, cho con tim chúng ta mở ra với hết mọi người, đặc biệt là người nghèo khổ. Vậy chúng ta phải làm sao để nuôi dưỡng lòng khao khát kết hợp mật thiết với Chúa và cố gắng sống sự thân mật này qua việc hiến dâng toàn thân cho Thiên Chúa.

Thế nhưng nhìn vào thực tế một xã hội ngày càng phát triển, nhiều tu sĩ đã đồng hóa đời tu với thế giới nghĩa là coi trọng việc phục vụ và dấn thân nghề nghiệp của họ cho những việc từ thiện, việc đại sự mà coi nhẹ đời sống cầu nguyện ; hay họ cho rằng « làm việc là cầu nguyện » « Phụng vụ đích thực được tìm ngay trong đời sống ». Thử hỏi Giáo Hội có cần những tu sĩ như thế không ? đối với người tu sĩ Giáo hội cần họ có cảm nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa để làm chứng Ngài hiện hữu và yêu thương giữa một thế giới đang loại trừ Thiên Chúa ra khỏi đời sống của họ. Vì thế, là tu sĩ chúng ta phải xác định lại mục đích của đời mình và ý thức rằng một tu sĩ là một người chuyên chăm cầu nguyện, “một người cổ động cảm nghiệm Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại”, chứ không chỉ đơn giản là người cầu nguyện cho nhân loại. Cha thánh Đa Minh là mẫu gương tuyệt vời cho mỗi người chúng ta, người đã nói với Chúa và nói về Chúa trong suốt cả cuộc đời của mình.

4. Cùng nhau thi hành sứ vụ

Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ để « các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng »[7], và Chúa Giêsu sai các môn đệ đi từng hai người một « Người gọi nhóm mười hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một »[8]. Hai đoạn văn này gợi lên khía cạnh cộng đoàn của sứ vụ. Đâu là sứ vụ của Hội Dòng chúng ta ? lần giở Nội Quy Tổng hội 2011 chúng ta thấy các hình thức sinh hoạt tông đồ của Dòng là « Cầu nguyện, hy sinh và chứng tá đời sống ; Loan báo Tin Mừng cho muôn dân ; giáo dục đức tin và văn hóa cho thiếu nhi và thanh thiếu niên ; tham gia các hoạt động thăng tiến con người, đặc biệt quan tâm đến người nghèo khổ, bệnh tật, và những người bị áp bức ». Với bốn hình thức hoạt động tông đồ này Dòng đã thực hiện được đến đâu ? Theo đoàn sủng Dòng thì hoạt động tông đồ phải đi đôi và có thể nói là hệ quả của đời sống chiêm niệm chứ không thể nào đi ngược lại. Do đó bốn hình thức này chỉ đạt được khi một cộng đoàn cùng nhau sống đời cầu nguyện cá nhân và phụng vụ đạt đến đỉnh cao của nó. Nếu không, chúng ta sẽ đảo lộn tất cả các giá trị, các bậc thang, lấy phương tiện làm mục đích và mục đích làm phương tiện. Nói như thế nghĩa là việc phân chia thời gian cho cầu nguyện phải ưu tiên lên trước và các việc tông đồ sẽ xoay quanh trục chính này, nếu không đời sống của chúng ta sẽ như những công nhân viên chức. Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta làm được bao nhiêu việc, nhưng làm những công việc đó với một tâm tình nào ?

Mỗi tu sĩ có được tự chọn cho mình một sứ vụ hay không ? Chúng ta đã trao phó đời mình trong Hội Dòng vào ngày tuyên khấn, một cách nào đó chúng ta trao dâng đời sống để được sai đi thi hành sứ vụ của Dòng. Như thế chính Hội Dòng sai chúng ta đi đến những nơi mà chúng ta không chọn. Công việc chúng ta là làm việc nhân danh Hội Dòng, những thành quả chúng ta làm được là thành quả chung của chị em trong cộng đoàn, chứ không phải riêng ai. Nếu ý thức được điều đó những công việc của chúng ta sẽ rất khác, khác ở chỗ không tự mình quyết định điều gì khi chưa có ý kiến của chị em ; khác ở chỗ cùng nhau nâng đỡ trong sứ vụ, vì thế chúng ta sẽ không cảm thấy cô đơn ; khác ở chỗ cùng nhau thi hành thánh ý Chúa qua Hội Dòng.

Lời kết

Qua một vài nét phát họa về đời sống chung theo tinh thần Đa Minh dưới ánh sáng Tin Mừng, chúng ta xác tín rằng việc đồng tâm nhất trí trong cộng đoàn rất quan trọng. Nhưng để có được sự nên một trong tâm hồn và tâm trí đòi hỏi mỗi người trong cộng đoàn phải nổ lực cộng tác bằng đời sống học hỏi Lời Chúa, lấy Lời Chúa làm ánh sáng soi đường chỉ lối cho chúng ta trong mọi tình huống của cuộc sống. Lời Chúa trở thành kim chỉ nam cho người tu sĩ Đa Minh khi chúng ta đưa Lời ấy vào trong giờ cầu nguyện phụng vụ và cá nhân. Khi chúng ta tràn ngập trong tâm hồn tình yêu Thiên Chúa thì chúng ta mới trở nên những người tông đồ mang trong mình nhiệt huyết, một tình yêu vô vị lợi. Vì theo qui luật của tình yêu khi nhận lãnh chúng ta không thể nào giữ riêng cho mình, nhưng có một động lực đẩy chúng ta đến với tha nhân.

Đời sống chung được xây dựng trên nền tảng Lời Chúa, cùng nhau bẻ bánh, cùng nhau để mọi sự làm của chung. Thế nhưng đó là lý tưởng mà chúng ta khao khát còn trên thực tế đời sống chung vẫn là một vấn đề nan giải. Có thể nói chúng ta chỉ thấy được một cộng đoàn hoàn hảo trong cuộc sống trên thiên quốc ; nói như thế không phải làm cho chúng ta nản chí, nhưng thấy được những phấn đấu của mình có những giới hạn của nó, chỉ mang lại kết quả khi đặt dưới sự can thiệp của Thiên Chúa.

 Nt. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP.



[1] Rm 5, 5.

[2] Rm 12, 10.

[3] Gal 6, 2.

[4] Theo Chúa Kitô, Học viện Đa Minh, 2006, t. 2, tr, 63.

[5] Cv 15.

[6] Guy Bedouelle – Alain Quilici, Anh em giang thuyet, Hoc vien Da Minh, 2003, tr.110.

[7] Mc 3, 14.

[8] Mc 6, 7.

Comments are closed.