Thông Điệp SOLLICITUDO REI SOCIALIS – Quan Tâm Đến Vấn Đề Xã Hội

0

Thông điệp SOLLICITUDO REI SOCIALIS

(QUAN TÂM ĐẾN VẤN ĐỀ XÃ HỘI)
CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN-PHAOLÔ II
Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thông điệp
POPULORUM PROGRESSIO
CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHAOLÔ VI
bản dịch của Lm. Fx. Hoàng Đình Mai
          
Phép lành
  Anh em đáng kính,
  Các con thân mến,
  Gửi lời chào thăm  và phép lành Tòa Thánh.
I- NHẬP ĐỀ
1. Bằng nhiều cách khác nhau, Giáo hội tích cực quan tâm đến vấn đề xã hội, nghĩa là đến những gì nhằm thực sự phát triển con người và xã hội, để bản thân con người được trọng kính và thăng tiến trong mọi chiều kích. Một trong những phương thế được ưu tiên sử dụng trong những thời gian gần đây đó là các Đức Giáo Hoàng Rôma đã lấy Huấn Quyền của mình mà trình bày vấn đề bằng cách dựa vào thông điệp Rerum Novarum của Đức Lêo XIII (1), đôi khi công bố  những văn kiện khác về xã hội trùng hợp với những dịp kỷ niệm hàng năm của thông điệp đầu tiên này (2).
Nhờ những lần can thiệp ấy, các Đức Giáo Hoàng đã làm nổi bật những khía cạnh mới trong học thuyết xã hội của Giáo hội. Như thế, khởi đầu nhờ sự đóng góp đáng kể của Đức Lêô XIII, được Huấn Quyền tiếp tục làm cho thêm phong phú, một bộ môn học thuyết hợp thời đã được hình thành, ăn khớp với nhau để Giáo hội lần lượt giải thích những biến cố xảy ra trong dòng lịch sử dưới ánh sáng của toàn bộ Lời Chúa được Đức Kitô mạc khải (3) và với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần (x Ga 14,16-26; 16,13-15). Bằng cách ấy, Giáo hội cố gắng hướng dẫn con người để họ dựa vào những suy tư của lý trí và sự đóng góp của những khoa nhân văn mà đáp trả ơn gọi trở thành những người có trách nhiệm xây dựng xã hội trần thế.
2- Toàn bộ giáo huấn quan trọng này về xã hội, vừa làm khuôn mẫu vừa làm nổi bật thông điệp Populorum Progressio, đã được vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Phaolô VI, công bố ngày 26 tháng 3 năm 1967.
Chỉ cần nhắc lại những cuộc kỷ niệm nối tiếp nhau trong năm nay, dưới những hình thức khác nhau và trong nhiều đoàn hội phần đạo cũng như phần đời, để thấy rằng thông điệp này luôn hợp thời. Cùng với mục đích ấy, Ủy ban Giáo Hoàng “Công Lý và Hòa Bình” năm ngoái đã gửi một thư luân lưu cho các Thượng Hồi Đồng các Giáo hội Đông Phương và cho các Hội Đồng Giám Mục để xin đóng góp ý kiến và đề nghị về cách thức tốt đẹp nhất để đánh dấu dịp kỷ niệm thông điệp, hầu làm phong phú, và nếu cần, làm sáng tỏ giáo huấn của thông điệp. Chính Ủy ban này, nhân dịp hai mươi năm, đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm mà tôi đã tham dự với bài phát biểu kết thúc (5). Giờ đây, cũng vì lưu tâm tới nội dung những câu trả lời dành cho thư luân lưu nói trên, tôi nghĩ nên khép lại năm 1987 bằng một thông điệp bàn về những chủ đề của Populorum Progressio.
3- Từ đó, chủ yếu tôi nhắm vào hai mục tiêu rất quan trọng : một mặt để tỏ lòng trọng kính đối với văn kiện lịch sử của Đức Phaolô VI và giáo huấn của ngài; mặt khác theo đúng đường lối đã được các vị tiền nhiệm đáng kính trên ngai tòa Phêrô đề ra, để khẳng định lại tính cách  liên tục về học thuyết xã hội của Giáo hội, cũng như về sự đổi mới không ngừng của học thuyết này. Thực vậy, tính cách liên tục và đổi mới mang lại cho giáo huấn của Giáo hội một giá trị bền vững.
Hai đặc tính trên làm nổi bật giáo huấn của Giáo hội về vấn đề xã hội. Một đàng giáo huấn này có tính cách bền vững vì nó đồng nhất trong “gợi ý căn bản”, trong “các nguyên tắc suy tư”, trong “các tiêu chuẩn phán đoán”, trong “các chỉ dẫn nền tảng cho hoạt động” (6), và nhất là trong mối liên hệ chính yếu với Tin Mừng của Chúa;  đàng khác, giáo huấn đó luôn mới mẻ vì có những thích nghi cần thiết và phù hợp với những đổi thay của hoàn cảnh lịch sử và với sự tiếp nối không ngừng của những biến cố dệt nên đời sống của con người và xã hội.
4- Tôi xác tín rằng giáo huấn của thông điệp Populorum Progressio, được gửi đến cho con người và xã hội vào những năm sáu mươi, vẫn còn là một lời kêu gọi mạnh mẽ cho  lương tâm con người hôm nay, vào những năm cuối của thập niên tám mươi. Khi cố gắng phác họa những nét lớn của thế giới hiện nay – luôn theo đúng quan điểm của lý do gợi ý cho văn kiện này tức là “sự phát triển các dân tộc”, một chủ đề khó mà khai thác hết – tôi dự tính sẽ kéo dài âm vang bằng cách liên kết giáo huấn này với  những áp dụng có thể trong thời buổi lịch sử hiện nay của chúng ta, vốn không kém phần bi thảm hơn so với cách đây hai mươi năm.
Chúng ta biết rõ thời gian luôn trôi đi cùng một nhịp điệu, tuy nhiên, người ta có ấn tượng rằng nó liên tục gia tăng chuyển động, nhất là vì những hiện tượng chúng ta đang sống xảy đến một cách dồn dập và phức tạp. Do đó, bộ mặt thế giới, suốt hai mươi năm qua, tuy vẫn giữ được một số những nét căn bản bền vững, nhưng đã trải qua những đổi thay đáng kể và đưa ra những khía cạnh hoàn toàn mới.
Vào lúc sắp bước sang ngàn năm thứ ba của Kitô giáo, được đánh dấu bởi niềm khắc khoải chờ mong, như trong một “Mùa Vọng” mới (7), tác động một cách nào đó tới mọi người, đem lại cơ hội đào sâu giáo huấn, để nêu lên những viễn tượng của thông điệp.
Nhờ nghiên cứu thần học về thực tại hiện nay, bài suy tư này có mục đích nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có một quan niệm phong phú và đa dạng hơn về sự phát triển, dựa theo các đề nghị của thông điệp và đưa ra một vài kiểu mẫu thực hành.
II- TÍNH CÁCH MỚI MẺ CỦA THÔNG ĐIỆP POPULORUM PROGRESSIO
5- Ngay khi được công bố, văn kiện của Đức Thánh Cha Phaolô VI đã được dư luận chung chú ý tới vì tính cách mới mẻ của nó. Văn kiện đã chứng tỏ một cách cụ thể và rõ ràng những đặc tính liên tục và đổi mới đã nêu trên, trong học thuyết xã hội của Giáo hội. Vì thế nhờ đọc kỹ thông điệp, ý định khám phá lại những khía cạnh của giáo huấn ấy sẽ là sợi dây dẫn vào những suy tư này.
Thế nhưng trước hết tôi muốn dừng lại ở thời điểm công bố : Năm 1967. Ngay sự kiện Đức Thánh Cha Phaolô VI quyết định công bố một thông điệp về xã hội vào năm ấy là một lời mời gọi phải nghiên cứu văn kiện trong mối tương quan với Công Đồng Chung Vatican II, vừa kết thúc vào ngày 8 tháng 12 năm 1965.
6- Chúng ta phải nhìn thấy trong hoàn cảnh này một cái gì khác hơn là một sự gần gũi đơn giản về thời gian. Thông điệp Populorum Progressio, một cách nào đó, trở nên như một văn kiện áp dụng giáo huấn của Công Đồng.  Và điều đó, không hẳn vì thông điệp thường xuyên trích dẫn các bản văn Công Đồng (8), cho bằng vì thông điệp xuất phát từ mối ưu tư của Giáo hội đã từng gợi ý cho toàn bộ công việc của Công Đồng – cách riêng cho hiến chế mục vụ Gaudium et Spes – trong việc phối hợp và khai triển nhiều chủ đề trong giáo huấn về xã hội.
Vì thế có thể nói được rằng thông điệp Populorum Progressio là như một đáp ứng lời kêu gọi mà Công Đồng đã bày tỏ  ở ngay đầu hiến chế Gaudium et Spes: “Những vui mừng và hy vọng, những ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo túng, và của tất cả những ai đau khổ, cũng là những vui mừng và hy vọng, những ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Đức Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (9). Những lời đó cho thấy lý do căn bản đã gợi ý cho văn kiện quan trọng của Công Đồng, khởi đi từ việc nhận định về tình trạng nghèo khổ và chậm phát triển mà hàng triệu người đang phải sống.
Sự nghèo khổ và chậm tiến ấy, dưới những tên gọi khác, chính là “những ưu sầu và lo lắng” của ngày hôm nay, “nhất là của những người nghèo” : trước cảnh tượng bao la về nỗi đớn đau và khổ cực, Công Đồng muốn mở ra những chân trời của niềm vui mừng và hy vọng. Đó cũng chính là mục tiêu mà thông điệp của Đức Phaolô VI nhắm tới, hoàn toàn trung thành với gợi ý của Công Đồng.
7- Ngay cả trong việc sắp xếp các chủ đề, vẫn theo truyền thống cao quí học thuyết xã hội của Giáo hội, thông điệp đã  trực tiếp lấy lại cách trình bày mới mẻ cũng như cách tổng hợp phong phú mà Công Đồng đã gạn lọc, nhất là trong hiến chế Gaudium et Spes.
Về những gì liên quan tới nội dung và các chủ đề thông điệp đã lấy lại, cần phải nhấn mạnh : “là chuyên viên về các vấn đề con người”, Giáo hội ý thức mình có bổn phận phải tìm hiểu “những dấu chỉ của thời đại và giải thích theo ánh sáng Tin Mùng” (10); đồng thời cũng ý thức sâu xa về sứ mạng “phục vụ” của mình, khác với chức năng của nhà nước, ngay cả khi Giáo hội lo lắng đến số phận của những con người trong hoàn cảnh cụ thể (11); nhắc lại những bất bình trong tình huống của những con người này (12); xác nhận giáo huấn của Công Đồng về “của cải dành cho mọi người” (13) vốn là âm vang trung thành với truyền thống ngàn đời của Giáo hội; quí chuộng văn hóa và văn minh kỹ thuật khi chúng góp phần vào việc giải phóng con người (14), mà không quên nhìn nhận những giới hạn của chúng (15); sau hết, về chủ đề phát triền, vốn là chủ đề của thông điệp, cần nhấn mạnh đến “bổn phận rất nghiêm trọng” đòi buộc các nước đã phát triển hơn “phải giúp đỡ các nước đang phát triển” (16).  Ngay cả quan niệm về phát triển được thông điệp đưa ra cũng trực tiếp xuất phát từ cách thức đặt vấn đề  của hiến chế mục vụ (17).
Những tham khảo rõ ràng từ hiến chế mục vụ cũng như những tham khảo khác đều dẫn tới kết luận thông điệp được trình bày như một áp dụng giáo huấn của Công Đồng về xã hội đối với vấn đề phát triển và chậm phát triển của các dân tộc.
8- Như vậy, việc phân tích ngắn gọn giúp chúng ta dễ thẩm định hơn tính cách mới mẻ của thông điệp, có thể được thu tóm vào ba yếu tố.
Yếu tố thứ nhất dựa vào chính sự việc có một văn kiện xuất phát từ thẩm quyền cao nhất của Giáo hội Công giáo và được dành cho chính Giáo hội cũng như cho “mọi người thiện chí” (18), bàn về một đề tài, mà mới nhìn qua, chỉ có tính cách kinh tế và xã hội : việc phát triển các dân tộc. Chữ “phát triển” ở đây là thuật ngữ được vay mượn từ khoa xã hội và kinh tế. Dưới khía cạnh này, thông điệp Populorum Progressio hoàn toàn đi theo đường hướng của thông điệp Rerum Novarum bàn về “thân phận giới thợ thuyền”. Xét theo bề mặt, hai chủ đề  này xem ra có phần xa lạ đối với những điều lợi ích quan trọng và chính đáng của Giáo hội, được coi như một thể chế tôn giáo, chủ đề “phát triển” còn xa lạ hơn cả chủ đề “ thân phận giới thợ thuyền”.
Phải nhận rằng khi tiếp nối thông điệp của Đức Lêô XIII, văn kiện của Đức Phaolô VI đã có công nhấn mạnh tới đặc tính đạo đức và văn hóa trong cách đặt vấn đề liên quan đến phát triển, cũng như tới tính cách chính đáng và cần thiết trong việc Giáo hội can thiệp vào lãnh vực này.
Ở đây, học thuyết xã hội Kitô giáo một lần nữa đã biểu lộ đặc tính áp dụng Lời Chúa vào đời sống con người và xã hội cũng như vào những thực tại trần gian liên hệ, bằng cách đưa ra “những nguyên tắc suy tư”, “những tiêu chuẩn phán đoán”, và “những chỉ dẫn hành động”. Như vậy, trong văn kiện của Đức Phaolô VI, người ta tìm lại được ba yếu tố trên với khuynh hướng chủ yếu là thực hành, nghĩa là nhắm tới đời sống luân lý.
Do đó, khi Giáo hội quan tâm đến việc “phát triển các dân tộc”, thì không thể bị kết án là vượt quá lãnh vực thẩm quyền của mình và lại càng không vượt quá sự ủy nhiệm Chúa đã trao phó.
9- Yếu tố thứ hai biểu lộ tính cách mới mẻ của thông điệp Populorum Progressio hệ tại việc mở ra một chân trời rộng lớn cho điều người ta thường gọi là “vấn đề xã hội”.
Thực ra thông điệp Mater et Magistra của Đức Gioan XXIII đã có được tầm nhìn rộng lớn trên (21) và Công Đồng đã dội lại tiếng vang trong hiến chế Gaudium et Spes (22). Tuy nhiên, giáo huấn về xã hội của Giáo hội chưa xác quyết một cách hoàn toàn minh bạch rằng vấn đề xã hội có chiều kích toàn cầu (23) và đã không rút ra từ xác quyết ấy và từ việc phân tích kèm theo một “chỉ dẫn hành động”, như  Đức Thánh Cha Phaolô VI đã làm trong thông điệp của ngài.
Một lập trường rõ rệt như vậy cho thấy một nội dung hết sức phong phú cần phải nêu lên.
Trước hết, phải loại bỏ một sự hiểu lầm có thể xảy ra. Thừa nhận vấn đề xã hội có chiều kích toàn cầu không có nghĩa là phủ nhận đích điểm hay tầm mức quan trọng của nó trong phạm vi quốc gia và địa phương. Trái lại, điều đó có nghĩa là những vấn đề trong các xí nghiệp hay trong phong trào thợ thuyền và nghiệp đoàn của một nước hay một vùng nhất định nào đó không được coi như những hiện tượng riêng rẽ, chẳng liên hệ với nhau, nhưng chúng ngày càng tùy thuộc vào những yếu tố có tầm ảnh hưởng vượt quá phạm vi của vùng hay biên giới của quốc gia.
Điều đáng buồn là dưới góc độ kinh tế, số các nước đang phát triển lại vượt xa số các nước đã phát triển : những đám người không của cải và những tiện ích do sự phát triển đem lại thì đông hơn nhiều so với những người được hưởng dùng.
Vì thế, chúng ta đang đứng trước một vấn đề nghiêm trọng, đó là sự phân chia không đồng đều những phương tiện sinh sống, vốn được dành cho mọi người ngay từ đầu; đối với những phúc lợi do những phương tiện ấy mang lại cũng thế. Và điều đó xảy ra mà không thể qui trách nhiệm cho các dân tộc kém may mắn, cũng không phải do một thứ định mệnh gắn liền với những điều kiện thiên nhiên hay với toàn bộ hoàn cảnh.
Khi tuyên bố vấn đề xã hội có chiều kích toàn cầu, thông điệp của Đức Phaolô VI trước hết nêu lên một sự kiện thuộc phạm vi luân lý, có nền tảng trong việc phân tích khách quan về thực tại. Theo chính lời lẽ của thông điệp, “mỗi người phải ý thức” về sự việc ấy (24), vì điều đó liên quan trực tiếp tới lương tâm, là nguồn gốc của những quyết định luân lý.
Trong khuôn khổ ấy, sự mới mẻ của thông điệp không hệ tại việc khẳng định đặc tính  lịch sử, tính cách phổ quát của vấn đề xã hội, cho bằng hệ tại việc thẩm định luân lý về thực tại đó. Như vậy, những người có trách nhiệm về các công việc chung, những người dân trong những nước giàu, mỗi người với tư  cách riêng, đặc biệt nếu là Kitô hữu, họ đều có bổn phận luân lý – tùy mức độ trách nhiệm của mình – trong những quyết định của cá nhân hay của chính phủ, phải lưu tâm đến mối liên hệ toàn cầu, đến sự lệ thuộc lẫn nhau (25) giữa thái độ của họ với sự khốn cùng và chậm tiến của hàng triệu con người. Nói một cách rất chính xác, thông điệp của Đức Phaolô VI giải thích đòi buộc luân lý là “bổn phận của tình liên đới”, và mặc dù có nhiều hoàn cảnh đổi thay trên thế giới, xác quyết này ngày hôm nay vẫn còn giữ nguyên hiệu lực và giá trị như khi được viết ra.
Mặt khác, vẫn không đi ra ngoài khuôn khổ cái nhìn luân lý ấy, sự mới mẻ của thông điệp còn hệ tại cách thức trình bày vấn đề tự căn bản, nghĩa là chính quan niệm về phát triển đã thay đổi đáng kể khi người ta nhìn nó trong viễn tượng các nước trên thế giới lệ thuộc lẫn nhau. Sự phát triển đích thực không thể chỉ là việc đơn thuần tích lũy của cải và gia tăng tài sản cũng như tiện ích, nếu sự phát triển ấy bị trả giá bằng việc làm cho dân chúng bị chậm tiến và không đếm xỉa gì tới những chiều kích xã hội, văn hóa và tinh thần của con người (26).
10- Dưới khía cạnh thứ ba. thông điệp mang lại một yếu tố mới mẻ cho toàn bộ học thuyết xã hội của Giáo hội và cho chính quan niệm về phát triển.  Sự mới mẻ này được biểu lộ ở một câu trong đoạn kết của văn kiện và có thể được coi như là công thức tóm lược văn kiện, cũng như  mang lại cho văn kiện tính cách lịch sử : “Phát triển là tên gọi mới của hòa bình” (27).
Thực ra, nếu vấn đề xã hội có được một chiều kích toàn cầu, là vì sự đòi hỏi của công lý chỉ có thể được đáp ứng ở mức độ ấy. Không biết đến đòi hỏi ấy là chuốc lấy nguy cơ làm nảy sinh khuynh hướng phản kháng bằng bạo lực từ phía những nạn nhân của bất công, vốn là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh đã từng xảy ra. Dân chúng vì không được phân chia một cách công bằng những của cải, mà ngay từ đầu đã được dành cho mọi người, nên có thể tự hỏi : tại sao lại không dùng bạo lực để đáp trả những kẻ đã đối xử với chúng ta bằng bạo lực trước ? Và nếu người ta xem xét tình trạng này dựa vào sự phân chia thế giới thành những khối ý thức hệ – vốn đã có trong năm 1967 – với những ảnh hưởng và những ràng buộc về kinh tế và chính trị phát sinh từ đó, thì mối nguy hiểm còn to lớn hơn nữa.
Thêm vào nhận định đầu tiên ấy về nội dung đầy ấn tượng của lời lẽ trong thông điệp, một nhận định khác được văn kiện ám chỉ (28) : đó là làm sao biện minh được sự kiện những số tiền khổng lồ có thể và phải được dùng để gia tăng sự phát triển các dân tộc, thì trái lại đã được dùng để làm giàu cho những cá nhân hay những phe nhóm, hoặc được dành để tăng thêm kho vũ khí, trong các nước đã phát triển cũng như trong các nước đang  phát triển, làm đảo ngược những ưu tiên chính đáng ? Và điều đó càng thêm nghiêm trọng nếu người ta quan tâm tới những khó khăn thường làm cản trở việc chuyển thẳng những khoản tiền dành để giúp các nước đang cần đến. Nếu “sự phát triển là tên gọi mới của hòa bình”, thì chiến tranh và những chuẩn bị quân sự là những kẻ thù lớn nhất của việc phát triển toàn diện các dân tộc.
Như vậy, theo sự diễn tả của Đức Phaolô VI, chúng ta được mời gọi nhìn lại quan niệm về phát triển, quan niệm này quả thật không trùng hợp với việc chỉ tìm thỏa mãn những nhu cầu vật chất bằng cách tăng thêm của cải, mà không đếm xỉa tới những khổ đau của đa số, mặc cho tính ích kỷ của cá nhân và quốc gia dẫn dắt. Thư thánh Giacôbê nhắc nhở chúng ta một cách chính xác : “Chẳng phải là bởi đó mà sinh ra những chiến tranh và xung đột sao ? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong các chi thể của anh em đó sao ? Anh em ham muốn mà không có” (Gc 4,1-2).
Trái lại, trong một thế giới khác, hằng lo lắng đến lợi ích chung của toàn thể nhân loại, nghĩa là lưu tâm đến sự phát triển về tinh thần và nhân bản của mọi người, chứ không tìm kiếm lợi ích cá nhân, thì hòa bình sẽ là điều có thể, như hoa trái của một “nền công lý hoàn chỉnh hơn giữa loài người” (29).
Sự mới mẻ ấy của thông điệp cũng có một giá trị bền vững và hiện đại, khi người ta nghĩ đến não trạng của con người ngày nay, rất nhạy bén về mối liên hệ chặt chẽ giữa việc tôn trọng công lý và việc thiết lập một nền hòa bình đích thực.
III- TOÀN CẢNH THẾ GIỚI NGÀY NAY
11- Giáo huấn căn bản của thông điệp Populorum Progressio vào thời điểm lúc bấy giờ đã có được một tiếng vang đáng kể vì tính cách mới mẻ của nó. Không thể nói được rằng bối cảnh xã hội chúng ta đang sống hôm nay hoàn toàn giống như bối cảnh xã hội cách đây hai mươi năm. Vì thế  giờ đây tôi muốn dừng lại ở một vài đặc điểm của thế giới hiện đại và trình bày vắn tắt để rồi đào sâu giáo huấn thông điệp của Đức Phaolô VI, vẫn từ quan điểm “phát triển các dân tộc”.
12- Sự kiện thứ nhất cần phải nêu lên, đó là niềm hy vọng vào sự phát triển, lúc đó thật mạnh mẽ, mà ngày nay dường như còn lâu mới thực hiện được.
Về vấn đề này, thông điệp đã không ảo tưởng. Ngôn từ cứng cỏi, đôi khi bi thảm của thông điệp chỉ muốn nhấn mạnh đến tính cách nghiêm trọng của tình thế và đề nghị cho lương tâm mọi người bổn phận cấp bách phải góp phần giải quyết. Trong những năm ấy, người ta lạc quan cho rằng chẳng cần phải cố gắng quá sức cũng có thể xóa bỏ được tình trạng trì trệ về kinh tế của các dân tộc ít được ưu đãi, đem lại cho họ những hạ tầng cơ sở và giúp họ trong tiến trình kỹ nghệ hóa.
Trong bối cảnh lịch sử thời đó, ngoài những cố gắng của mỗi nước, Tổ Chức Liên Hiệp Quốc đã đưa ra sáng kiến dành hai thập niên liên tiếp cho việc phát triển (30). Thực vậy, những biện pháp song phương và đa phương được áp dụng để giúp cho nhiều nước, một số đã được độc lập từ lâu, một số khác – đông hơn – mới trở thành Quốc gia sau tiến trình xóa bỏ chế độ thuộc địa. Về phần mình, Giáo hội cảm thấy có bổn phận phải đào sâu những vấn đề do tình huống mới đặt ra, với ý định nâng đỡ những cố gắng trên bằng cách đem lại cho chúng một “cái hồn”, nhờ nguồn cảm hứng có tính cách tôn giáo và nhân bản.
13- Không thể nói được rằng những sáng kiến về tôn giáo, nhân bản, kinh tế và kỹ thuật khác nhau ấy là vô ích, bởi vì chúng đã đạt được một số những thành quả. Nhưng nói chung, nếu xét tới những yếu tố khác nhau, người ta không thể phủ nhận rằng tình hình thế giới hiện nay đã tạo nên một ấn tượng nặng phần tiêu cực, xét theo phương diện phát triển.
Vì thế, tôi muốn lưu ý tới một số những chỉ dẫn có tính cách tổng quát, mà không loại trừ những yếu tố đặc thù khác. Không đi sâu vào việc phân tích các con số hay các bản thống kê, nhưng chỉ nhìn vào thực trạng có vô số người, nam cũng như nữ, trẻ con, người lớn cũng như người già, tắt một lời những con người cụ thể và độc nhất đang quằn quại dưới sức nặng không thể mang nổi của khổ đau.  Họ là hàng triệu con người đã mất đi niềm hy vọng, vì tại nhiều nơi trên trái đất, tình trạng của họ thực sự đã trở nên nghiêm trọng. Trước thảm cảnh cùng cực và thiếu thốn của biết bao nhiêu anh chị em chúng ta, thì chính Chúa Giêsu đang đến chất vấn chúng ta (Mt 25,31-46).
14- Nhận định tiêu cực đầu tiên là luôn có một hố sâu lan rộng, phân cách giữa các vùng được gọi là phía Bắc đã phát triển và các vùng phía Nam đang phát triển. Cách gọi mang tính cách địa lý này chỉ có giá trị như một hướng dẫn, bởi vì ai cũng biết ranh giới giữa giàu và nghèo nằm ngay bên trong những xã hội, dù đã phát triển hay đang phát triển. Thực vậy, trong các nước giàu  cũng có những bất bình đẳng xã hội tới mức cùng khổ, đồng thời trong các nước kém phát triển cũng thường thấy những biểu lộ của tính ích kỷ và phô trương của cải vừa làm cho kinh ngạc lại vừa tai tiếng.
Tại một số nơi trên thế giới, đặc biệt tại các vùng phát triển phía Bắc thì dư thừa của cải và những tiện nghi, trong khi đó phía Nam lại sống trong một sự chậm tiến không thể chấp nhất được và chính vùng địa lý chính trị này lại là nơi sinh sống của phần lớn nhân loại.
Khi nhìn vào sự chênh lệch của các lãnh vực khác nhau – sản xuất và phân phối lương thực, vệ sinh, sức khỏe và nhà ở, nước uống, điều kiện làm việc, nhất là đối với phụ nữ, tuổi thọ và những chỉ dẫn về xã hội cũng như kinh tế – bức tranh toàn thể hiện ra làm người ta thất vọng, dù xem xét tự bản chất hay so sánh nó với những dữ kiện tương ứng tại những nước đã phát triển hơn. Lúc bấy giờ tự nhiên người ta buột miệng thốt lên tiếng “hố sâu”.
Có thể đây không phải là từ ngữ thích hợp nhất để diễn tả đúng cái thực tại theo nghĩa có thể mang lại cảm tưởng về một hiện tượng dậm chân tại chỗ. Không phải vậy. Trong tiến trình của các nước đã phát triển  và đang phát triển, những năm vừa qua người ta đã chứng kiến một sự gia tăng tốc độ khác nhau, tạo thêm những chênh lệch, khiến các nước đang phát triển, đặc biệt các nước nghèo nhất, thấy mình bị rơi vào một một tình trạng trì trệ rất nghiêm trọng.
Còn phải nói thêm về những khác biệt văn hóa và những  hệ thống giá trị giữa các nhóm dân cư, không luôn đi đôi với mức độ phát triển kinh tế, nhưng góp phần tạo nên những chênh lệch.
Đó là những yếu tố và những khía cạnh làm cho vấn đề xã hội trở nên phức tạp hơn nhiều, chính vì vấn đề này đã mang một tầm vóc toàn cầu.
Khi quan sát các vùng khác nhau trên thế giới, bị phân cách bởi hố sâu ngày càng lan rộng, khi nhận thấy mỗi vùng dường như đều theo đuổi đường lối của mình với những cách thực hiện riêng biệt, người ta hiểu được tại sao trong ngôn ngữ thông thường lại nói tới nhiều thế giới bên trong một thế giới duy nhất của chúng ta : thế giới thứ nhất, thế giới thứ hai, thế giới thứ ba, và hơn nữa thế giới thứ tư (31). Những cách diễn tả này chắc chắn không nhằm đưa ra một sắp hạng đầy đủ tất cả các nước, nhưng không phải là không có ý nghĩa : chúng cho thấy một nhận thức mơ hồ rằng sự hợp nhất của thế giới, hay nói cách khác sự hiệp nhất của nhân loại, đã bị vi phạm nặng nề. Cách nói như vậy, với ít nhiều giá trị khách quan, chắc chắn phải ẩn chứa một nội dung luân lý, mà Giáo hội không thể thờ ơ, vì Giáo hội là “bí tích”, có nghĩa vừa là dấu chỉ vừa là phương tiện (…) hợp nhất của nhân lọai (32).
15-  Bức tranh vừa nêu lên sẽ không đầy đủ nếu ngoài “những chỉ dẫn về kinh tế và xã hội” của tình trạng kém phát triển, người ta không thêm vào những chỉ dẫn khác cũng mang tính cách tiêu cực và đáng được quan tâm hơn nữa, bắt đầu từ những chỉ dẫn thuộc lãnh vực văn hóa. Đó là nạn mù chữ, tình trạng khó khăn hay không thể đạt tới những mức độ học vấn cao hơn, không có khả năng tham dự vào việc xây dựng đất nước mình, những hình thức bóc lột và đàn áp về kinh tế, xã hội, chính trị và ngay cả về tôn giáo đối với  con người cũng như đối với các quyền lợi của con người, mọi hình thức kỳ thị, đặc biệt là sự kỳ thị đáng ghê tởm hơn cả dựa trên việc phân biệt chủng tộc. Thật đáng tiếc nếu tìm thấy một vài vết thương này tại những vùng phía Bắc phát triển hơn thì chắc chắn những vết thương này lại thường xảy ra hơn, dai dẳng hơn và khó trừ diệt hơn tại những nước đang phát triển và chậm tiến.
Phải lưu ý rằng, trong thế giới ngày nay quyền đưa ra sáng kiến về kinh tế là một trong những quyền thường bị bóp nghẹt hơn cả. Thế nhưng đó lại là một quyền quan trọng, không phải chỉ đối với cá nhân, mà còn đối với lợi ích chung nữa. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng chối bỏ hay hạn chế quyền này nhân danh một sự “bình đẳng” giả mạo của mọi người trong xã hội, nếu không tiêu hủy quyền này trong thực tế, thì cũng tiêu hủy óc sáng kiến, nghĩa là cá tính sáng tạo của người công dân. Kết quả đó không phải là một sự bình đảng  chân thực, nhưng là một sự “san bằng xuống dưới”. Sáng kiến sáng tạo được thay thế bằng tính thụ động, lệ thuộc và phục tùng bộ máy quan liêu, như một cơ quan duy nhất có quyền “tổ chức” và “quyết định” – nếu không phải là cơ quan sở hữu – về toàn bộ của cải và các phương tiện sản xuất, đặt mọi người vào cái thế phải phục tùng dường như tuyệt đối, giống như thói quen lệ thuộc của người công nhân vô sản đối với tư bản chủ nghĩa. Điều đó làm cho người ta cảm thấy bị tước đoạt hay bị thất vọng, để rồi thờ ơ với sinh hoạt quốc giá, thúc đẩy nhiều người bỏ xứ ra đi hay cổ võ cho một thứ di dân “tâm lý”.
Một tình trạng như vậy cũng kéo theo những hậu quả về phương diện “quyền của mỗi nước”. Thực vậy, thường xảy ra khi một nước bị mất đi tư cách pháp nhân của mình, nghĩa là mất đi “chủ quyền” của mình về kinh tế, chính trị, xã hội, và một cách nào đó, cả về văn hóa nữa, vì trong một cộng đồng quốc gia mọi lãnh vực đó của đời sống được liên kết với nhau.
Ngoài ra còn phải nhắc lại rằng không một đoàn thể xã hội nào, chẳng hạn như một đảng phái, có quyền chiếm đoạt vai trò chỉ đạo duy nhất, vì điều đó dẫn tới việc hủy diệt nhân cách đích thực của xã hội và của những cá nhân thành viên của quốc gia, như đã xảy ra trong mọi chế độ độc tài. Trong tình trạng ấy, con người và dân tộc trở thành những “đồ vật”, cho dù có mọi lời tuyên bố ngược lại và những lời hứa hẹn bảo đảm.
Ở đây cần phải thêm rằng, trong thế giới ngày nay, có nhiều hình thức nghèo khổ khác. Thực vậy, một số những thiếu thốn hay mất mát không đáng được gọi là nghèo khổ hay  sao ? Việc chối bỏ hay hạn chế những quyền của con người – chẳng hạn như quyền tự do tôn giáo, quyền được tham dự vào việc xây dựng xã hội, quyền tự do gia nhập hay thành lập những nghiệp đoàn, hay đưa ra những sáng kiến về mặt kinh tế – những việc đó chẳng phải đã làm cho con người ra nghèo khổ, nếu không muốn nói là còn nghèo khổ hơn so với việc bị tước đoạt của cải vật chất hay sao ? Và một sự phát triển không công nhận đầy đủ những quyền ấy có thực là một sự phát triển mang chiều kích nhân bản hay không ?
Tóm lại, ngày nay tình trạng chậm phát triển không chỉ về kinh tế, mà còn về văn hóa, chính trị và một cách rất đơn giản là chậm tiến về con người như thông điệp Progressio Populorum đã nêu lên cách đây hai mươi năm. Vậy ở đây cần phải tự hỏi xem thực tại đáng buồn ngày hôm nay chẳng phải là kết quả, ít nữa một phần, của một quan niệm quá hẹp hòi, chỉ biết đến khía cạnh kinh tế của việc phát triển đó sao.
16- Phải nhìn nhận rằng tình trạng đã trở nên rất nghiêm trọng, mặc dù trong hai thập niên vừa qua đã có những cố gắng đáng khen ngợi của những nước đã phát triển hơn hay đang phát triển, và của các Tổ chức quốc tế để tìm ra một lối thoát cho tình trạng này, hay ít nữa chữa trị được một vài triệu chứng.
Tình trạng ngày càng trở nên nghiêm trọng như thế được qui trách nhiệm cho nhiều nguyên nhân. Phải kể đến những thiếu sót thực sự và nặng nề từ phía các nước đang phát triển, và đặc biệt từ phía những người nắm giữ quyền hành về kinh tế và chính trị. Tuy nhiên không phải vì vậy mà người ta có thể làm bộ như không nhìn thấy trách nhiệm của những nước đã phát triển, đã luôn không hiểu, hay ít ra đã không hiểu đầy đủ rằng mình có bổn phận phải giúp đỡ những nước còn xa cách với thế giới sung túc của họ.
Tuy nhiên, cần phải tố cáo những cơ chế  kinh tế, tài chánh và xã hội, mặc dầu do ý muốn của con người điều khiển, nhưng lại thường hoạt động một cách dường như máy móc, làm cho tình trạng cách biệt giữa những người giàu và những người nghèo trở nên khắc nghiệt hơn. Những cơ chế này, được các nước phát triển hơn điều khiển – trực tiếp hay gián tiếp – do chính sự hoạt động của mình thường ưu đãi những lợi ích của các nước điều khiển, nhưng cuối cùng đã bóp nghẹt hay chi phối nền kinh tế của các nước kém phát triển hơn. Trong phần sau, chúng ta cần phải phân tích kỹ lưỡng những cơ chế này dưới khía cạnh đạo đức và luân lý.
Thông điệp Populorum Progressio dự đoán những hệ thống  như thế có thể làm cho những người giàu lại giàu thêm, trong khi vẫn cầm giữ những người nghèo trong cảnh khốn cùng (33). Dự đoán này được xác nhận với sự xuất hiện của thế giới thứ tư.
17-  Mặc dầu tình trạng xã hội trên thế giới dường như đã bùng nổ và điều này được diễn tả trong cách nói quy ước về thế giới thứ nhất, thứ hai, thứ ba và cả thế giới thứ tư nữa. Sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần luôn rất chặt chẽ, và nếu bị tách khỏi những đòi hỏi đạo đức, thì sẽ kéo theo những hậu quả tai hại cho những nước yếu kém nhất. Hơn nữa, sự sự lệ thuộc lẫn nhau ấy, do một thứ động lực từ bên trong và dưới sự thúc đẩy của những cơ chế mà người ta chỉ có thể gọi là tàn  ác, tạo nên những hậu quả tiêu cực cả ở những nước giàu có. Ngay trong nội bộ những nước này, người ta cũng tìm thấy những biểu hiệu đặc biệt  của tình trạng kém phát triển, dù ở mức độ thấp hơn. Vậy điều hiển nhiên là sự phát triển hoặc phải trở nên chung cho mọi nước trên thế giới, hoặc phải chịu một tiến trình thoái hóa ngay cả trong những miền vốn tiến bộ đều đặn. Đặc biệt hiện tượng này là triệu chứng của bản chất sự phát triển đích thực : hoặc là mọi nước trên thế giới đều được tham gia vào sự phát triển, hoặc là không còn sự phát triển đích thực nữa.
Trong số những triệu chứng đặc thù của tình trạng kém phát triển ngày càng đe dọa các dân tộc đã phát triển, có hai triệu chứng đặc biệt cho thấy tình trạng bi đát. Trước hết là cơn khủng hoảng về nhà ở. Trong năm quốc tế những người vô gia cư do Tổ chức Liên Hiệp Quốc đề xướng, sự quan tâm hướng tới hàng triệu con người không có một nơi cư ngụ xứng đáng, hay không có ngay cả một nơi để ở, nhằm thức tỉnh lương tâm và tìm ra một giải pháp cho vấn đề nghiêm trọng này, vốn đã để lại những hậu quả tiêu cực cho cá nhân, gia đình và xã hội (34).
Tình trạng không đủ nhà ở được ghi nhận ở khắp nơi và phần lớn là do hiện tượng đô thị hóa liên tục gia tăng (35). Ngay cả những dân tộc phát triển nhất cũng cho thấy cảnh tượng đáng buồn của những cá nhân và những gia đình phải thực sự đấu tranh để sống còn, không mái nhà, hay với một nơi trú ngụ tạm bợ đến nỗi cũng chẳng khá hơn gì.
Tình trạng thiếu nhà ở tự bản chất là một vấn đề rất nghiêm trọng, phải được coi như là dấu chỉ và tổng hợp của cả một chuỗi những thiếu thốn về kinh tế, xã hội, văn hóa hay đơn giản là thiếu thốn về phương diện nhân bản, và nếu để ý tới tính cách phổ biến của hiện tượng này, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra rằng mình còn lâu mới đạt được sự phát triển đích thực các dân tộc.
18- Một triệu chứng khác, chung cho phần lớn các quốc gia, đó là hiện tượng thất nghiệp và d? thừa nhân công.
Ai mà chẳng thấy tính cách thời sự và nghiêm trọng ngày càng gia tăng của một hiện tượng như vậy tại các nước  kỹ nghệ hóa (36) ? Nếu hiện tượng đó đáng báo động tại các nước đang phát triển với tỷ lệ dân số tăng cao và đông đảo giới trẻ, thì tại các nước có nền kinh tế phát triển mạnh, các nguồn cung cấp việc làm dường như bị hạn chế, và khả năng có được việc làm giảm đi thay vì gia tăng.
Cùng với một chuỗi những hậu quả tiêu cực ở mức độ cá nhân và xã hội, từ chỗ bị tổn hại đến chỗ đánh mất sự tự trọng mà bất kỳ người đàn ông hay đàn bà nào cũng cần phải có, hiện tượng đó mời gọi chúng ta tự hỏi một cách nghiêm túc về mô hình phát triển đã được thực hiện trong hai mươi năm qua. Điều mà thông điệp Laborem exercens đã nói tới đến nay vẫn  mang tính cách thời sự hơn bao giờ hết : “Phải nhấn mạnh rằng yếu tố cấu tạo và đồng thời việc kiểm chứng đầy đủ nhất về sự tiến bộ trong tinh thần công lý và hòa bình mà Giáo hội công bố và không ngừng cầu nguyện {…}chính là liên tục khẳng định lại giá trị lao động của người, dưới khía cạnh mục đích khách quan cũng như dưới khía cạnh phẩm giá của chủ thể mọi lao động tức là con người”. Trái lại, “người ta không khỏi sửng sốt  trước sự kiện đáng ngạc nhiên có một qui mô rộng lớn” : đó là “có những đám người thất nghiệp, những đám người không được sử dụng đúng khả năng {…}. Sự kiện này chắc hẳn chứng tỏ bên trong mỗi cộng đồng chính trị cũng như qua các mối liên hệ giữa các cộng đồng  ở mức độ lục địa và toàn cầu – về những gì liên quan tới việc tổ chức lao động và công nhân – có một cái gì bất ổn, và điều bất ổn đó chính là những điểm nguy kịch nhất và quan trọng nhất về phương diện xã hội” (37).
Vì tính cách phổ quát và theo một nghĩa nào đó, vì tính cách tăng thêm nhiều, hiện tượng này cũng như hiện tượng trước, do hậu quả tiêu cực của nó, tạo nên một dấu chỉ rất đặc biệt về tình trạng và phẩm chất của việc phát triển các dân tộc  mà hôm nay chúng ta phải đối đầu.
19- Một hiện tượng khác, cũng tiêu biểu cho giai đoạn gần đây – dù không thấy được ở mọi nơi – nhưng chắc hẳn cũng là điểm đặc biệt của sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các nước đã phát triển và các nước kém phát triển. Đó là vấn đề nợ nần quốc tế mà Ủy ban Giáo Hoàng “Công Lý và Hòa Bình” đã dành trọn một văn kiện để trình bày (38).
Ở đây không thể yên lặng bỏ qua mối liên hệ chặt chẽ giữa vấn đề này,  mà tính cách nghiêm trọng luôn gia tăng đã được thông điệp Populorum Progressio tiên đoán, với việc phát triển các dân tộc (39).
Lý do thúc đẩy các dân tộc đang phát triển chấp nhận được cung cấp thật nhiều vốn là vì hy vọng có thể đầu tư vào những hoạt động phát triển. Do đó, việc sẵn sàng cung cấp vốn và việc nhận vốn với danh nghĩa vay mượn có thể được coi như một góp phần vào chính sự phát triển, tự bản chất đó là điều đáng mong ước và chính đáng, mặc dù đôi khi việc vay mượn ấy thiếu thận trọng và trong một số trường hợp bị coi là vội vã.
Hoàn cảnh đã đổi thay, tại những nước mắc nợ cũng như trên thị trường tài chánh quốc tế, phương tiện được dự liệu để góp phần vào việc phát triển lại biến thành một cơ chế có kết quả trái ngược. Sở dĩ như vậy vì một đàng để trả nợ, các nước vay nợ buộc phải chuyển ra nước ngoài những số vốn cần thiết để phát triển, hay ít nữa để duy trì mức sống của họ, đàng khác cũng vì lý do ấy, họ không thể nhận được những nguồn vốn mới cũng cần thiết.
Do cơ chế đó, phương tiện dành cho “sự phát triển các dân tộc” đã biến thành một cái  thắng, và trong một số trường hợp, biến thành một yếu tố  làm tăng thêm tình trạng kém phát triển.
Như văn kiện mới đây của Ủy Ban Giáo Hoàng “Công Lý và Hòa Bình” đã nói đến (40), những nhận định trên phải giúp suy nghĩ  về tính cách đạo đức của việc lệ thuộc lẫn nhau giữa các dân tộc, và để tiếp nối những quan tâm trên, cũng cần phải suy nghĩ về những đòi hỏi và những điều kiện cộng tác vào sự phát triển, do các nguyên tắc đạo đức gợi lên.
20- Ở đây nếu xét đến những nguyên nhân  làm trì trệ nghiêm trọng tiến trình phát triển, đi ngược lại với những chỉ dẫn của thông điệp Populorum Progressio, nguồn đem lại biết bao hy vọng, thì chúng ta phải đặc biệt lưu ý tới những nguyên nhân chính trị của tình trạng hiện nay.
Trước toàn bộ những yếu tố hẳn là phức tạp đang xảy ra cho chúng ta, thì không thể làm một cuộc phân tích đầy đủ ở đây. Thế nhưng, không được thinh lặng bỏ qua một sự kiện nổi bật của bối cảnh chính trị đem lại nét đặc thù cho giai đoạn lịch sử sau thế chiến thứ hai và là một yếu tố quan trọng trong diễn biến phát triển các dân tộc.
Chúng tôi muốn nói đến sự hiện diện của hai khối đối nghịch, thường được gọi bằng những tên theo qui ước là Đông và Tây, hay Phương Đông và Phương Tây. Lý do của cách gọi trên không phải chỉ thuần túy chính trị, mà còn là địa lý chính trị, như người ta thường nói. Mỗi khối cố gắng đồng hóa hay qui tụ chung quanh mình những nước khác hay những nhóm các nước, tùy theo mức độ liên kết hay tham gia khác nhau.
Sự đối nghịch trước hết mang tính cách chính trị, theo nghĩa mỗi khối tìm thấy bản sắc của mình trong một hệ thống tổ chức xã hội và thi hành quyền bính, có khuynh hướng không thể hòa hợp với khối kia; tiếp đến sự đối nghịch chính trị bắt nguồn từ sự đối nghịch sâu xa hơn, thuộc ý thức hệ.
Thực vậy, bên Tây Phương có một hệ thống, xét theo lịch sử khởi đi từ những nguyên tắc của chủ nghĩa tư bản tự do như đã được phát triển ở thế kỷ trước với công cuộc kỹ nghệ hóa; bên Đông Phương có một hệ thống khởi đi từ chủ nghĩa tập sản Macxít, nảy sinh từ cách giải thích tình trạng của các giai cấp vô sản theo lối hiểu riêng về lịch sử. Vì dựa vào hai định kiến khác nhau về con người, tự do và vai trò xã hội, nên mỗi ý thức hệ đều đưa ra và cổ võ trên bình diện kinh tế những hình thức trái ngược nhau về cách tổ chức lao động và các cơ cấu sở hữu, nhất là trong lãnh vực được gọi là những phương tiện sản xuất.
Trong khi mở rộng những hệ thống và những trung tâm quyền lực trái ngược nhau với những hình thức tuyên truyền và thuyết phục riêng của mình, thì đương nhiên sự đối nghịch về ý thức hệ dần dần biến thành sự đối nghịch về quân sự, làm nảy sinh hai khối cường quốc vũ trang, khối này nghi ngờ và lo sợ khối kia chiếm ưu thế.
Đến lượt mình, các quan hệ quốc tế cũng không thể không chịu ảnh hưởng “lối lý luận theo các khối” và những “phạm vi ảnh hưởng” riêng biệt. Nảy sinh từ khi kết thúc thế chiến thứ hai, tình trạng căng thẳng giữa hai khối đã chi phối suốt bốn mươi năm tiếp theo, khi thì mang tính cách “chiến tranh lạnh”, khi thì mang tính cách “chiến tranh ủy nhiệm” nhờ khai thác những tranh chấp địa phương hay để người ta phải sống trong bất ổn và lo âu trước mối đe dọa của một cuộc chiến tranh công khai và toàn diện.
Nếu ngày nay, một nguy cơ như vậy dường như đã rời xa, dù chưa hoàn toàn biến mất, và nếu người ta đã đạt được thỏa hiệp đầu tiên về việc phá hủy một loại trang bị hạt nhân nào đó, thì sự hiện diện và đối nghịch giữa hai khối vẫn còn là một yếu tố có thực và đáng quan ngại, tiếp tục chi phối toàn bộ thế giới.
21- Người ta có thể nhận thấy điều đó, và với một hậu qủa hết sức tiêu cực, trong những mối quan hệ quốc tế liên quan tới các nước đang phát triển. Thực vậy người ta biết rằng mối căng thẳng giữa Phương Đông và Phương Tây phát sinh từ một đối nghịch, không phải giữa hai mức độ phát triển khác nhau, nhưng đúng hơn, là giữa hai quan niệm về chính sự phát triển con người và các dân tộc, cả hai đều thiếu sót và cần phải được sửa đổi tận gốc rễ. Sự đối nghịch ấy được chuyển vào bên trong những nước này, góp phần khơi rộng hố sâu vốn đã có trên bình diện kinh tế giữa Bắc và Nam, đồng thời là một hậu quả của khoảng cách phân chia hai thế giới  phát triển hơn và kém phát triển.
Đó là một trong những lý do khiến học thuyết xã hội của Giáo hội có thái độ phê phán đối với chủ nghĩa tư bản tự do cũng như đối với chủ nghĩa tập sản Macxít. Thực vậy, theo quan điểm phát triển, đương nhiên người ta sẽ tự hỏi bằng cách nào và tới mức độ nào hai hệ thống trên có thể biến đổi hay thích nghi, để hỗ trợ hay thúc đẩy  một sự phát triển thực sự cũng như toàn diện của con người và của các dân tộc trong xã hội hiện nay. Bởi vì những biến đổi và những thích nghi ấy rất cấp bách và cần thiết vì lợi ích phát triển chung cho mọi người.
Các nước mới được độc lập đang cố gắng để có được một bản sắc văn hóa và chính trị, cần sự đóng góp hữu hiệu và không vụ lợi của các nước giàu có và phát triển hơn, họ thấy mình bị liên lụy – đôi khi còn bị lôi cuốn – vào những xung đột ý thức hệ, làm nảy sinh những chia rẽ trong nước không thể tránh được, đến nỗi trong một số trường hợp gây nên những cuộc nội chiến thực sự. Và điều đó xảy ra chỉ vì những vốn đầu tư và viện trợ giúp phát triển thường bị sử dụng sai mục đích và bị lạm dụng để nuôi dưỡng những tranh chấp, ở ngoài và trái với lợi ích của các nước phải được thừa hưởng. Nhiều nước trong số này ngày càng ý thức hơn về nguy cơ trở thành nạn nhân của một chế độ thực dân mới và tìm cách tránh né. Chính một ý thức  như vậy đã khai sinh ra Phong trào quốc tế các nước không liên kết, mặc dầu có những khó khăn, những do dự và đôi khi cả những mâu thuẫn nữa. Về phương diện tích cực, phong trào này muốn khẳng định một cách hữu hiệu quyền mỗi dân tộc được có bản sắc, nền độc lập và an ninh riêng của mình, cũng như có quyền được thụ hưởng những phúc lợi dành cho mọi người, trên cơ sở bình đẳng và liên đới.
22- Sau những suy nghĩ trên, chúng ta có thể có được một cái nhìn sáng tỏ hơn về bức tranh của hai mươi năm qua và hiểu rõ hơn những tương phản tồn tại ở phía Bắc, nghĩa là Đông Phương và Tây Phương, như nguyên nhân, dĩ nhiên không phải là nguyên nhân cuối cùng, của việc chậm trễ hay trì trệ ở phía Nam.
Các nước đang phát triển, thay vì trở nên những quốc gia tự trị, nhằm tiến tới việc được phân chia một cách công bằng những của cải và lợi ích dành cho mọi người, thì lại trở nên những bộ phận của một guồng máy, những phần tử của một bánh xe khổng lồ. Điều đó cũng thường được thấy trong lãnh vực các phương tiện truyền thông xã hội, mà phần lớn thời gian được những trung tâm đặt tại phía Bắc thế giới quản trị, không quan tâm đúng mức tới những ưu tiên và những vấn đề riêng, đồng thời không tôn trọng bản sắc văn hóa của những nước đang phát triển; cũng thường thấy những phương tiện truyền thông trái lại đang áp đặt một cái nhìn méo mó về đời sống cũng như con nguời và như vậy không đáp ứng được những đòi hỏi của một sự phát triển đích thực.
Mỗi khối, bằng cách riêng của mình, đều che dấu kỹ lưỡng khuynh hướng “đế quốc” theo cách nói thông thường, hay khuynh hướng thực dân mới dưới nhiều hình thức; đó là cơn cám dỗ mà người ta dễ rơi vào, như lịch sử, ngay cả lịch sử gần đây đã cho thấy.
Chính tình trạng bất thường này – hậu qủa của một cuộc chiến tranh và nỗi bận tâm quá đáng về nền an ninh riêng của  mình – đã hãm lại đà liên đới hợp tác giữa mọi người vì lợi ích chung của nhân loại, nhất là gây thiệt hại cho các dân tộc hiếu hòa, vì thấy quyền mình được hưởng những của cải dành cho mọi người bị ngăn chặn.
Nhìn dưới góc cạnh này, sự phân chia thế giới hiện nay là một ngăn trở trực tiếp cho việc biến đổi thực sự những hoàn cảnh chậm tiến tại các nước đang phát triển và tại các nước kém mở mang. Nhưng các dân tộc không mãi cam chịu số phận mình. Hơn thế nữa, chính những nhu cầu của một nền kinh tế bị bóp nghẹt bởi những chi phí quân sự, cũng như bởi chế độ quan liêu và sự thiếu hiệu quả từ bên trong, hình như bây giờ lại cổ võ cho những tiến trình có thể làm cho tình trạng đối nghịch bớt căng thẳng và dễ dàng thiết lập một cuộc đối thoại hữu ích và một sự hợp tác đích thực vì hòa bình.
23- Theo Thông điệp Populorum Progressio các tài nguyên và vốn đầu tư cho việc sản xuất vũ khí phải được dùng để làm giảm bớt nỗi thống khổ của dân nghèo (41), việc công bố trên làm cho lời mời gọi phải vượt lên trên tình trạng đối nghịch giữa hai khối trở nên cấp bách hơn.
Ngày nay, trong thực tế các tài nguyên này được sử dụng  để làm cho khối này có thể thắng được khối kia và như thế bảo đảm nền an ninh của riêng mình. Đối với những nước này, dưới khía cạnh lịch sử, kinh tế và chính trị, có khả năng nắm giữ vai trò lãnh đạo, một sai lầm như thế, tự căn bản là một khuyết điểm, gây khó khăn cho việc chu toàn đầy đủ bổn phận liên đới giữa họ với các dân tộc đang khao khát được phát triển toàn diện.
Cần phải xác định ở đây, mà không bị coi là thái quá rằng vai trò lãnh đạo giữa các dân tộc chỉ có thể được biện minh bằng khả năng và ước muốn góp phần vào lợi ích chung một cách rộng rãi và quảng đại.
Một nước, với ít nhiều ý thức, nhượng bộ cho sự cám dỗ tự khép mình, bằng cách trốn tránh các trách nhiệm do địa vị vượt trội của mình trong liên minh với các dân tộc, sẽ thiếu sót nghiêm trọng một bổn phận đạo đức chính xác. Bổn phận ấy có thể dễ dàng nhận ra trong cảnh huống lịch sử, khiến các tín hữu cảm đoán được những sắp đặt của Thiên Chúa quan phòng, dùng các quốc gia để thực hiện những ý định của mình, cũng như “làm tiêu tan những dự tính của muôn dân” (x TV 33, [32}, 10).
Trong khi phương Tây đem lại ấn tượng là đang đi tới những hình thức ngày càng thêm cô lập và ích kỷ, và phương Đông, vì những lý do còn đang tranh cãi, dương như không biết đến bổn phận phải cộng tác vào những cố gắng làm giảm bớt nỗi thống khổ của các dân tộc, thì người ta không phải chỉ đứng trước một sự phản bội những mong đợi chính đáng của nhân loại, với những hậu quả không thể lường trước được, mà còn đứng trước việc xóa bỏ thực sự đối với một đòi buộc luân lý.
24- Trước những nhu cầu chính đáng của con người và trước việc sử dụng những phương tiện thích hợp để thỏa mãn những nhu cầu ấy, nếu việc sản xuất vũ khí là một xáo trộn nặng nề đang ngự trị trong thế giới hiện nay, thì việc buôn bán vũ khí cũng vậy. Phải thêm rằng việc đó còn bị luân lý kết án một cách nghiêm khắc hơn. Như người ta biết, đây là một cuộc buôn bán không biên giới, có thể băng qua những rào cản của các khối. Cuộc buôn bán ấy biết cách vượt lên trên sự phân cách giữa Đông phương và Tây phương, nhất là sự phân cách chống đối giữa Bắc và Nam, đến nỗi – điều này nghiêm trọng hơn – len lỏi vào những miền khác tạo nên khu vực phía nam thế giới. Như vậy, chúng ta đứng trước một hiện tượng khác thường : trong khi những viện trợ kinh tế và những chương trình phát triển bị ngăn chặn do những rào cản về ý thức hệ không thể vượt qua và những rào cản về quan thuế và thị trường, thì vũ khí, bất luận từ đâu, vẫn được lưu hành một cách tự do hầu như tuyệt đối trong các miền khác nhau trên thế giới. Và như tài liệu mới đây của Ủy ban giáo hoàng “ Công Lý và Hòa Bình” về nợ nần quốc tế (42) cho hay : mọi người đều biết rằng trong một số trường hợp các nước chưa phát triển đã sử dụng vốn vay mượn từ các nước phát triển để mua vũ khí.
Cần phải thêm vào đó một nguy cơ khủng khiếp, mà mọi người đều biết, do việc  tích lũy các vũ khí hạt nhân một cách không thể tưởng tượng nổi, kết luận đương nhiên là tình hình thế giới hiện nay, kể cả thế giới kinh tế,  thay vì tỏ ra quan tâm  tới một sự phát triển đích thực đem đến cho mọi người một cuộc sống “xứng hợp với con người hơn” – như thông điệp Populorum Progressio (43) mong muốn – thì hình như lại xô đẩy chúng ta tiến mau hơn đến cái chết.
Những hậu quả của một tình trạng như vậy được nhận thấy nơi vết thương ngày càng thêm trầm trọng, vết thương đặc thù và tiêu biểu cho những mất quân bình và xung đột  của thế giới hiện nay, là có hàng triệu người tị nạn do chiến tranh, thiên tai, bách hại và kỳ thị đủ mọi loại đã cướp mất của họ nhà cửa, công việc, gia đình và quê hương. Thảm kịch của những đám đông ấy phản chiếu trên khuôn mặt tiều tụy của những người đàn ông, đàn bà và con trẻ không tìm thấy được một mái ấm trong một thế giới phân rẽ và thờ ơ.
Người ta cũng không thể nhắm mắt trước một vết thương đau đớn khác của thế giới hôm nay : hiện tượng khủng bố, được hiểu như một quyết tâm tiêu diệt và phá hủy không phân biệt người và của, tạo nên một bầu khí sợ hãi và bất an, thường kèm theo việc bắt cóc con tin. Để bênh vực cho hành động bất nhân ấy, dù có đưa ra một ý thức hệ nào chăng nữa, hay viện cớ xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, thì các hành động khủng bố vẫn không bao giờ có thể được biện minh. Càng không thể được biện minh, như thường xảy ra hiện nay, khi những quyết định và những hành động như vậy đôi lúc trở thành những cuộc thảm sát thực sự, cũng như việc bắt cóc những người vô tội và không liên quan tới những xung đột, chỉ nhằm mục đích tuyên truyền cho phe nhóm mình bênh vực, hay tệ hơn nữa, những hành động ấy mặc nhiên trở thành mục đích, theo kiểu người ta giết chỉ đơn thuần để mà giết. Trước một cảnh tượng hãi hùng như thế cũng như trước biết bao nhiêu đau khổ, những lời tôi đã nói cách đây vài năm và tôi còn muốn lặp lại, vẫn giữ nguyên giá trị : “Kitô giáo cấm (…) sử dụng những đường lối hận thù, tàn sát những người không được bảo vệ và những phương pháp khủng bố” (44).
25- Ở đây cũng phải nói qua về vấn đề dân số và về cách thức bàn đến vấn đề này hiện nay, như Đức Phaolô VI đã chỉ vẽ trong thông điệp của ngài (45) và như chính tôi cũng đã trình bày một cách đầy đủ trong tông huấn Familiaris Consortio (46).
Người ta không thể chối bỏ, nhất là tại khu vực phía Nam hành tinh, vấn đề dân số tự bản chất đã tạo nên những khó khăn cho việc phát triển. Cũng nên thêm ngay rằng,  tại khu vực phía Bắc, vấn đề này được đặt ngược lại : đều đáng bận tâm, đó là việc giảm sút tỷ lệ sinh sản kèm theo sự lão hóa của dân chúng như một hậu quả đương nhiên, làm cho không thể đổi mới ngay cả về mặt sinh học. Hiện tượng này có thể gây cản trở cho việc phát triển.  Cũng không thể xác quyết được rằng những khó khăn loại  này chỉ xuất phát từ việc gia tăng dân số, cũng không thể chứng minh được rằng mọi gia tăng dân số đều không thể đi đôi với việc phát triển có trật tự.
Đàng khác, thật đáng lo sợ khi nhận thấy nhiều nước đã phát động những chiến dịch có hệ thống để chống lại việc sinh sản, do sáng kiến của nhà nước, không những ngược lại với bản sắc văn hóa và tôn giáo của những nước ấy mà còn ngược lại với bản chất của sự phát triển đích thực. Những chiến dịch này thường bị áp lực và được vốn ngọai quốc tài trợ, và ở nơi này hay nơi khác, người ta còn coi đó là điều kiện cho việc giúp đỡ và viện trợ về  kinh tế cũng như tài chánh. Trong mọi trường hợp, đó là một sự hoàn toàn thiếu tôn trọng quyền tự do quyết định của những người liên hệ, nam cũng như nữ, thường bị áp lực quá sức chịu đựng, kể cả những ép buộc về kinh tế, khiến họ phải quy phục những hình thức đàn áp mới. Chính những đám dân nghèo nhất lại bị ngược đãi, và điều này đôi khi làm phát sinh khuynh hướng chủ nghĩa chủng tộc, hoặc khuyến khích việc áp dụng một số những hình thức ưu sinh, cũng là một thứ chủ nghĩa chủng tộc.
Sự kiện trên đáng bị lên án thật nghiêm khắc, đó là là dấu chỉ của một quan niệm sai lạc và xấu xa về sự phát triển đích thực của con người.
26- Một bức toàn cảnh, chủ yếu là tiêu cực, về tình trạng đích  thực của sự phát triển trong thế giới hiện nay sẽ không đầy đủ nếu không ghi nhận đồng thời cũng có những khía cạnh tích cực.
Điểm tích cực đầu tiên là có nhiều người, nam cũng như nữ, ý thức đầy đủ về phẩm giá của mình và của mỗi con người. Ý thức ấy được biểu lộ, chẳng hạn qua việc khắp nơi người ta quan tâm mạnh mẽ đến việc tôn trọng nhân quyền, cũng như qua việc dứt khoát bác bỏ những vi phạm. Người ta ghi nhận một dấu chỉ nói lên điều ấy nơi những hiệp hội tư nhân mới được thành lập, một số đã có được tầm mức quốc tế, và hầu hết đều có mục đích theo dõi kỹ lưỡng và khách quan những biến cố xảy ra trên thế giới trong một lãnh vực tế nhị như vậy.
Trên bình diện này, phải nhìn nhận ảnh hưởng của Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền được Tổ chức Liên Hiệp Quốc công bố cách đây gần bốn mươi năm. Ngay việc bản Tuyên ngôn ra đời và dần dần được cộng đồng quốc tế chấp nhận đã là một dấu chỉ cho thấy ý thức ngày càng thêm vững mạnh. Vẫn trong lãnh vực nhân quyền, cũng cần phải nói như vậy về các văn kiện pháp lý của Tổ chức Liên Hiệp Quốc hay của các Tổ chức quốc tế khác (47).
Sự ý thức chúng ta nói tới không phải chỉ là việc làm của những cá nhân mà còn là việc làm của các quốc gia và các dân tộc, những thực thể có một bản sắc văn hóa nhất định, vốn đặc biệt nhạy cảm đối với việc duy trì, tự do quản lý và phát huy di sản quí báu của mình.
Đồng thời, trong thế giới bị phân chia và bị xáo trộn bởi mọi thứ tranh chấp, người ta thấy gia tăng niềm xác tín về một sự hoàn toàn lệ thuộc lẫn nhau, và vì thế cũng gia tăng sự cần thiết của  tình liên đới muốn đảm nhận và biểu lộ sự lệ thuộc ấy trên bình diện luân lý. Ngày nay, có lẽ còn hơn cả thời xưa, con người hiểu rằng mình có một vận mệnh chung phải cùng nhau xây dựng nếu muốn cho mọi người thoát khỏi thảm họa. Với nỗi lo âu, sợ hãi và những hiện tượng đào thoát như ma túy, tiêu biểu cho thế giới hiện đại, người ta thấy lớn dần ý tưởng cho rằng lợi ích mà tất cả chúng ta được mời gọi đến và hạnh phúc mà chúng ta mong ước chỉ có thể đạt được nếu mọi người cùng cố gắng và thi hành, không trừ một ai, điều này đòi phải loại bỏ tính ích kỷ của riêng mình.
Ở đây cũng phải ghi nhận rằng, mặc dù mọi cám dỗ hủy diệt sự sống, từ việc phá thai đến việc tạo nên cái chết êm dịu, thì việc lo lắng sống chung hòa bình là như dấu chỉ của việc tôn trọng sự sống, và một lần nữa , ý thức rằng hòa binh không thể chia cắt được; đó là việc làm của mọi người, hay của không ai cả. Một nền hòa bình luôn đòi hỏi phải hết sức tôn trọng công lý và do đó, cũng phải phân phối công bằng những thành quả của sự phát triển đích thực.
Trong những triệu chứng tích cực của thời buổi hiện nay, còn phải ghi nhận một ý thức rộng rãi hơn về những giới hạn của các tài nguyên sẵn có, việc cần thiết phải tôn trọng sự toàn vẹn và những nhịp điệu của thiên nhiên cũng như phải cân nhắc trong việc lên kế hoạch phát triển, thay vì hy sinh chúng theo một số quan niệm có tính cách mỵ dân. Điều đó ngày nay người ta gọi là sự quan tâm tới sinh thái.
Cũng phải công bằng nhìn nhận rằng những vị cầm quyền, những người làm chính trị, kinh tế, những nghiệp đoàn, những nhà khoa học và những viên chức quốc tế  – trong đó nhiều người chịu ảnh hưởng của niềm tin tôn giáo – họ cố gắng tìm cách chữa trị những tai họa của thế giới, dù bản thân phải hy sinh nhiều, và với tất cả những phương tiện có thể, họ cống gắng lo cho một số người ngày càng đông, nam cũng như nữ, được hưởng  thành quả của hòa bình và một cuộc sống xứng đáng hơn (48).
Các Tổ chức lớn quốc tế và một số tổ chức cấp miền đã đóng góp nhiều vào công việc đó bằng cách liên kết những cố gắng của mình để việc can thiệp được hữu hiệu hơn.
Cũng để góp phần mà một vài nước thuộc thế giới thứ ba, dù còn phải gánh chịu nhiều điều kiện tiêu cực, đã đạt được một sự tự túc nào đó về lương thực, hay một mức độ kỹ nghệ hóa khả dĩ tồn tại một cách xứng đáng và bảo đảm công ăn việc làm cho lớp người lao động.
Vậy trong thế giới hiện đại, không phải tất cả đều là tiêu cực, và không thể khác được, vì Chúa Cha quan phòng luôn yêu thương chăm sóc đến cả những lo lắng thường ngày của chúng ta (x Mt 6,25-32; 10,23-31; Lc 12,6-7.22-30); hơn nữa, những giá trị tích cực chúng ta đã nêu lên chứng tỏ có một nỗi bận tâm mới về luân lý, nhất là những gì liên quan tới những vấn đề lớn của con người như phát triển và hòa bình.
Thực tại này làm tôi phải suy nghĩ về bản chất đích thực của sự phát triển các dân tộc theo đường hướng thông điệp chúng ta mừng kỷ niệm và bằng cách tỏ lòng mộ mến giáo huấn của thông điệp ấy.
IV. SỰ PHÁT TRIỂN ĐÍCH THỰC VỀ CON NGƯỜI
27- Thông điệp mời gọi chúng ta nhìn vào thế giới hiện đại để trước hết nhận thấy rằng sự phát triển không phải là một tiến trình theo đường thẳng, dường như máy móc và không có giới hạn, cứ với một số điều kiện, nhân loại sẽ phải tiến nhanh tới một thứ hoàn thiện mơ hồ nào đó (49).
Một quan niệm như thế, được liên kết  với khái niệm về “tiến bộ” do những suy tư đặc biệt của nền triết học ánh sáng hơn là với khái niệm về “phát triển”, được hiểu theo nghĩa chuyên về kinh tế và xã hội (50), dường như ngày nay đang  bị xét lại một cách nghiêm chỉnh, nhất là sau kinh nghiệm bi đát của hai trận thế chiến, của cuộc tàn sát đã được tính toán, và phần nào đã được thực hiện đối với toàn bộ những vùng dân cư, của hiểm họa nguyên tử đang đè nặng. Thay vì ngây thơ lạc quan một cách máy móc, người ta có lý để lo âu cho vận mạng nhân loại.
28- Nhưng đồng thời, quan niệm về “kinh tế’ hay “kinh tế chủ nghĩa”, liên kết với từ ngữ phát triển, đã đi vào khủng hoảng. Thực vậy, ngày nay người ta hiểu rõ hơn rằng việc đơn thuần tích lũy của cải và những tiện ích, mặc dù cho đa số, cũng không đủ đem lại cho con người hạnh phúc. Và do đó, việc có sẵn nhiều mối lợi thực sự mà khoa học và kỹ thuật trong những thời gian gần đây đã mang lại, kể cả nghành công nghệ thông tin, cũng không đưa tới sự giải thoát khỏi mọi hình thức nô lệ. Trái lại, kinh nghiệm của những năm mới đây nhất  cho thấy nếu tất cả những nguồn tài nguyên và tiềm năng được dành cho con người sử dụng mà không được quản trị theo một ý hướng đạo đức và một quyết tâm hướng tới lợi ích đích thực của nhân loại,  thì sẽ dễ dàng quay lại chống đối hầu làm khổ con người.
Một nhận xét gây ngạc nhiên về thời kỳ mới đây nhất sẽ rất hữu ích : bên cạnh những nỗi thống khổ, không thể chấp nhận được, do tình trạng kém phát triển gây nên, chúng ta chứng kiến một loại phát triển quá độ, cũng không thể chấp nhận được vì giống như tình trạng trên, nó đi ngược lại với lợi ích và hạnh phúc đích thật. Thực vậy, sự phát triển quá độ, khiến một số tầng lớp xã hội có quá nhiều mọi thứ của cải vật chất, dễ dàng làm con người trở thành nô lệ cho sự “chiếm hữu” và hưởng thụ tức khắc, không còn một chân trời nào khác ngoài việc tăng thêm nhiều vật dụng hay liên tục thay thế những vật dụng đã có bằng những thứ khác hoàn hảo hơn. Người ta gọi đó là văn minh “tiêu dùng”, kèm theo biết bao nhiêu đồ “bỏ đi” và “phế thải”. Một vật đã có và nay đã lỗi thời, bị xếp vào hàng “phế thải” vì có một vật khác hoàn hảo hơn, không đếm xỉa gì tới giá trị trường tồn  nơi vật ấy hay để cho một người khác nghèo túng hơn.
Tất cả chúng ta đều có thể nắm bắt được bằng tay những hậu quả đáng buồn của việc mù quáng chạy theo sự tiêu dùng thuần túy : trước hết đó là một hình thức duy vật tầm thường, và đồng thời là một sự hoàn toàn không được thỏa mãn, vì người ta hiểu ngay rằng càng có thì lại càng muốn thêm, trong khi những khát vọng sâu xa nhất vẫn chưa được thỏa mãn, có thể còn bị bóp nghẹt, nếu không được bảo vệ chống lại những lời quảng cáo dồn dập và việc không ngừng cung cấp đầy quyến dũ những sản phẩm tiêu dùng.
Thông điệp của Đức Phaolô VI đã nêu lên sự khác biệt , mà ngày nay thường rất được nhấn mạnh (51), đó là sự khác biệt giữa cái “có” và cái “là”,  sự khác biệt này đã được Công Đồng Vatican II diễn tả trước với những ngôn từ chính xác (52). “Có” những đồ vật và của cải tự nó không làm cho con người nên hoàn thiện, nếu không góp phần cho cái “là” của mình thêm trưởng thành và phong phú, nghĩa là góp phần vào việc thực hiện ơn gọi làm người của mình.
Chắc hẳn, sự khác biệt giữa “là” và “có”, nguy cơ liên quan đến việc thuần túy tăng thêm hay thuần túy thay thế những vật dụng đã có đối với giá trị của cái “là”, nhất thiết không được biến thành một sự mâu thuẫn. Một trong những bất công to lớn nhất của thế giới hiện đại chính là việc một số tương đối ít người lại có được nhiều của cải, trong khi nhiều người hầu như chẳng có gì. Đó là sự bất công trong việc phân phối sai trật của cải và những tiện ích vốn được dành cho mọi người.
Vậy đây là bức tranh : có những người – một số ít nhưng lại có nhiều – không thực sự đạt tới cái “là”, bởi vì do một đảo ngược bậc  thang giá trị, họ bị sự tôn thờ cái “có” ngăn cản, và có những người – dù nhiều nhưng lại có ít hay chẳng có gì – cũng không thực hiện được ơn gọi căn bản làm người của họ, bởi vì họ thiếu cả những của cải sơ đẳng nhất.
Điều xấu không hệ tại nơi cái “có, nhưng nơi việc chiếm hữu một cách không tôn trọng phẩm chất và bậc thang giá trị những của cải mình có, phẩm chất và bậc thang giá trị ấy bắt nguồn từ việc đặt của cải vào cái thế phụ thuộc và sử dụng chúng cho cái “là” của con người và cho ơn gọi đích thực của con người.
Như vậy, thật rõ ràng nếu sự phát triển cần có một chiều kích kinh tế vì nó phải giúp cho tuyệt đại đa số dân cư trên thế giới  có được những của cải cần thiết để “là”, thì sự phát triển ấy cũng không bị giới hạn vào chiều kích này, bằng không nó sẽ quay lại chống đối những kẻ mà người ta muốn giúp đỡ.
Đức Phaolô VI đã mô tả những đặc tính của một sự phát triển toàn diện, “nhân bản” hơn”, có thể giữ được vẻ cao quí ơn gọi đích thực của người nam cũng như người nữ, mà không chối bỏ những đòi hỏi kinh tế.
29- Một sự phát triển không phải chỉ có tính cách kinh tế mà còn phải được đánh giá và định hướng theo thực tại và ơn gọi của con người một cách toàn diện, nghĩa là theo một thông số riêng từ bên trong. Dĩ nhiên sự phát triển ấy cần đến những của cải vật chất và những sản phẩm của kỹ nghệ, liên tục được phong phú hơn nhờ tiến bộ của khoa học và kỹ thuật. Và việc luôn có mới những của cải vật chất , để đáp ứng những nhu cầu, mở ra một chân trời mới. Nguy cơ lạm dụng sự tiêu dùng và việc xuất hiện những nhu cầu giả tạo không được ngăn cản người ta quí trọng và sử dụng những của cải mới và những tài nguyên mới đã được trao cho chúng ta; chúng ta phải nhìn thấy ở đó một ơn huệ của Thiên Chúa  và một sự đáp trả ơn gọi của con người, được thực hiện đầy đủ trong Đức Kitô.
Tuy nhiên để theo đuổi sự phát triển đích thực không bao giờ được quên thông số ấy vốn nằm trong bản tính riêng của con người được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài (x St 1,26). Trong bài tường thuật thứ hai về công cuộc tạo dựng, bản tính có xác và có hồn được tượng trưng bằng hai yếu tố : đất được Thiên Chúa dùng để làm nên thân xác con người, và sinh khí được thổi vào lỗ mũi (x St 2,7).
Như vậy  con người có một sự tương hợp nào đó với các tạo vật khác : được mời gọi sử dụng chúng, chăm sóc chúng và, vẫn theo bài tường thuật của sách Sáng thế (2,15), con người được đặt vào vườn địa đàng, có nhiệm vụ canh tác và gìn giữ vườn, Thiên Chúa để con người trổi vượt trên mọi tạo vật khác, bắt chúng phải ở dưới quyền thống trị của con người (x St 1,25-26). Nhưng đồng thời con người phải phục tùng ý muốn của Thiên Chúa, Đấng ấn định cho con người những giới hạn đối với việc sử dụng và thống trị các sự vật (x St 2,16-17), cùng hứa ban cho con người ơn bất tử ( x St 2,9; Kn 2,23). Như vậy, vì là hình ảnh của Thiên Chúa, con người cũng có một sự tương hợp với Ngài.
Từ giáo huấn trên, người ta thấy rằng sự phát triển không chỉ hệ tại việc sử dụng, thống trị và chiếm hữu không giới hạn các sự vật Thiên Chúa dựng nên và các sản phảm do kỹ thuật con người làm ra, nhưng  đúng hơn hệ tại việc bắt sự chiếm hữu, thống trị và sử dựng phải tùy thuộc vào việc con người được dựng nên giống Thiên Chúa và được mời gọi trở nên bất tử. Đó là thực tại siêu việt của con người mà chúng ta thấy được ngay từ ban đầu cho một đôi nam nữ (St 1,2), và như vậy là tự căn bản có đặc tính xã hội.
30- Theo Kinh Thánh, khái niệm phát triển không phải chỉ mang ý nghĩa “thế tục” hay “phàm trần”, nhưng còn là một diễn tả mới mẻ về một chiều kích chính yếu của ơn gọi làm người, mà vẫn giữ được đặc tính kinh tế-xã hội.
Thực vậy, có thể nói con người không được dựng nên trong trạng thái bất động và bất biến. Hình ảnh đầu tiên được Kinh Thánh trình bày cho thấy rõ con người là như tạo vật và hình ảnh, được xác định trong thực tại thâm sâu của mình bởi nguồn gốc và sự tương hợp làm nên con người. Thế nhưng tất cả những điều đó đem vào trong con người, nam cũng như nữ, mầm mống và đòi hỏi một bổn phận nguyên thủy phải chu toàn, hoặc bởi mỗi cá nhân riêng rẽ hoặc bởi từng đôi. Hiển nhiên bổn phận “thống trị” trên các tạo vật khác, “canh tác thửa vườn”, phải được chu toàn trong khuôn khổ vâng phục lề luật của Thiên Chúa và do đó trong sự kính trọng hình ảnh đã lãnh nhận, nền tảng rõ ràng của quyền thống trị được nhìn nhận nơi con người có liên quan với việc hoàn thiện bản thân mình (x St 1,26-30; 2,15-16; Kn 9,2-3).
Khi con người không vâng lời Thiên Chúa và từ chối tuân phục quyền bính của Ngài, thì thiên nhiên nổi dậy chống lại con người và không còn nhìn nhận con người là như chủ tể của mình nữa, bởi vì con người đã làm lu mờ hình ảnh Thiên Chúa nơi mình. Lời mời gọi chiếm hữu và sử dụng những phương tiện được dựng nên vẫn luôn có giá trị, nhưng sau khi đã phạm tội, việc thi hành trở nên khó khăn và chất đầy đau khổ (x St 3,17-19).
Thực vậy, chương tiếp theo của sách Sáng Thế cho chúng ta thấy dòng dõi Cain  xây một “thành phố”, lo chăn nuôi, chuyên tâm vào nghệ thuật (âm nhạc) và kỹ thuật (luyện kim), đồng thời người ta bắt đầu “kêu cầu danh Chúa” (x St 4,17-26).
Kể cả sau khi con người rơi vào vòng tội lỗi, Kinh Thánh đã trình bày lịch sử nhân loại là lịch sử của những thành tựu liên tục, luôn bị đặt lại vấn đề và bị đe dọa bởi tội lỗi, vẫn được tái diễn, được thêm phong phú và lan rộng như một đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa mà ngay từ đầu đã được dành riêng cho người nam cũng như người nữ (x St 1,26-28) và được khắc ghi trong hình ảnh họ đã lãnh nhận.
Ít là đối với những ai tin vào Lời Thiên Chúa,thật là hợp lý khi kết luận rằng sự “phát triển” hôm nay phải được coi như một thời điểm của lịch sử đã bắt đầu cùng với công cuộc tạo dựng và liên tục bị đe dọa vì không trung thành với ý định của Đấng Tạo Hóa, nhất là vì bị cám dỗ thờ ngẫu tượng, nhưng tự căn bản vẫn phù hợp với những nguyên tắc của nó. Người nào muốn từ khước nhiệm vụ, tuy khó khăn nhưng đầy phấn khởi, phải cải thiện số phận của mỗi người và của mọi người, viện cớ là đã quá mệt mỏi vì  phải đấu tranh và cố gắng không ngừng để vượt qua bản thân, hay vì đã từng bị thất bại phải trở lại điểm khởi hành, người đó sẽ không đáp trả lại ý định của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa. Từ quan điểm trên, trong thông điệp Laborem exercens, tôi đã dựa vào ơn gọi lao động của con người, để nhấn mạnh ý tưởng chính con người luôn nắm vai trò chủ chốt trong công cuộc phát triển (54).
Hơn thế nữa, chính Chúa Giêsu trong dụ ngôn những nén vàng, đã nhấn mạnh đến thái độ nghiêm khắc dành cho kẻ đã dám chôn vùi ơn huệ đã nhận lãnh : “ Hỡi tên đầy tớ xấu xa và biếng nhác! Ngươi biết ta gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát…Vậy các ngươi hãy lấy nén vàng của nó và trao cho người đã có mười nén” (Mt 25,26-28). Là những người đã lãnh nhận những ơn huệ của Thiên Chúa để sinh lời, chúng ta có bổn phận phải “gieo” và phải “gặt”. Nếu không làm như vậy, thì ngay cả cái chúng ta đang có cũng sẽ bị lấy đi.
Việc đào sâu những lời nghiêm khắc trên có thể thúc đẩy chúng ta hiến thân một cách quyết liệt hơn cho bổn phận cộng tác vào việc phát triển toàn diện con người : “phát triển toàn diện con người và toàn thể mọi người”, vốn là bổn phận cấp bách cho mọi người ngày hôm nay.
31- Niềm tin vào Đức Kitô, Đấng Cứu Độ,  vừa mang đến một soi sáng từ bên trong về bản chất của việc phát triển, vừa là một hướng dẫn trong việc cộng tác. Qua bức thư thánh Phaolô gửi tín hữu Côlôsê, chúng ta đọc thấy rằng Đức Kitô là “Trưởng Tử giữa mọi tạo vật và mọi sự được tạo dựng do Ngài và cho Ngài (Cl 1,15-16). Thực vậy, tất cả đều “tồn tại nơi Ngài” vì “Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Ngài  cũng như muốn nhờ Ngài mà làm cho muôn vật được giao hòa với mình” (Cl 1,20).
Trong kế hoạch trên đây của Thiên Chúa, khởi đầu từ vĩnh cửu trong Đức Kitô, “hình ảnh” trọn hảo của Chúa Cha, và đạt được tuyệt  đỉnh nơi Đấng, là “Trưởng Tử giữa các kẻ chết” (Cl 1,15.18), lịch sử của chúng ta được ghi khắc trong kế hoạch ấy, được mang dấu ấn những cố gắng của chúng ta cá nhân cũng như tập thể để nâng cao thân phận con người, lướt thắng những trở ngại không ngừng nảy sinh trên con đường của chúng ta, chuẩn bị cho chúng ta tham dự vào sự viên mãn “hiện diện nơi Chúa” và được thông ban cho “Thân Thể Ngài, là Giáo hội” (Cl 1,18, x Eph 1,22-23) (55), trong khi tội lỗi không ngừng theo đuổi chúng ta và làm phương hại những thành tựu của con người, thì  nó đã bị đánh bại và được chuộc lại nhờ việc “hòa giải” Đức Kitô đã thực hiện (x Cl 1,20).
Ở đây, các viễn tượng được mở rộng. Người ta tìm lại được giấc mơ về một sự “tiến bộ không cùng”, được biến đổi tận gốc rễ nhờ một nhãn quan mới do đức tin Kitô giáo mở ra, đảm bảo với chúng ta rằng một sự tiến bộ như thế chỉ có thể vì Chúa Cha đã quyết định ngay từ đầu cho con người tham dự vào vinh quang của Ngài trong Đức Kitô phục sinh, “Trong Ngài chúng ta được cứu độ, nhờ máu Ngài, được tha thứ tội lỗi” (Eph 1,7), và trong Ngài, Chúa Cha đã muốn chiến thắng tội lỗi và bắt nó phục tùng lợi ích lớn lao nhất của chúng ta (56), hoàn toàn vượt trên tất cả những gì mà tiến bộ có thể thực hiện được.
Vậy – trong khi chúng ta vùng vẫy giữa những tăm tối và những thiếu thốn của tình trạng kém phát triển và phát triển thái quá – chúng ta có thể nói được rằng một ngày kia “cái thân xác hư nát này sẽ mặc lấy sự bất tử” (x 1Co 15,54), khi Chúa “trao vương quyền lại cho Thiên Chúa Cha” (1Co 15,24) và mọi công trình và mọi hành động xứng đáng nơi con người sẽ được cứu chuộc.
Hơn thế nữa, sự nhận thức do đức tin sẽ cho thấy rõ những lý do thúc đẩy Giáo hội phải quan tâm tới sự phát triển, phải coi nó như một bổn phận của thừa tác mục vụ, phải khuyến khích mọi người suy nghĩ về bản chất và những đặc tính của sự phát triển đích thực về con người. Nhờ những cố gắng của mình, một đàng Giáo hội muốn phục vụ chương trình của Thiên Chúa nhằm làm cho mọi sự qui về sự viên mãn ở trong Đức Kitô (x Cl 1,19) và chính Ngài đã thông ban cho Thân Thể Ngài, đàng khác Giáo hội muốn đáp trả ơn gọi căn bản của mình là “bí tích”, nghĩa là “dấu chỉ và phương tiện cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và cho sự hợp nhất tất cả nhân lọai” (57).
Nhận thức trên đã gợi ý cho một số Giáo Phụ, với lối trình bày độc đáo, đã đưa ra một quan niệm về ý nghĩa của lịch sử và  của lao động nơi con người, như được hướng tới một mục đích cao cả hơn và luôn được xác định bằng mối liên hệ với công  trình của Đức Kitô. Nói cách khác, có thể tìm thấy trong giáo huấn của các Giáo Phụ một cái nhìn lạc quan về lịch sử và lao động, nghĩa là về giá trị trường tồn những thành tựu đích thực của con người, vì được Đức Kitô cứu chuộc và được dành cho Nước Chúa đã hứa (58).
Như vậy trong lời giảng dạy và trong cách thực hành cổ xưa nhất, Giáo hội tin tưởng rằng do ơn gọi đòi buộc, – chính Giáo hội, các thừa tác viên và mỗi thành phần của Giáo hội – phải làm giảm bớt nỗi khốn cùng của những người đang đau khổ, dù gần hay xa, và phải làm việc đó không những với “của dư thừa” mà còn với “của cần thiết”. Trong trường hợp túng thiếu, không được dành ưu tiên cho việc trang trí dư thừa tại những ngôi thánh đường và cho những đồ thờ phượng quí giá; trái lại, có thể buộc phải bán đi những của cải đó để có đồ ăn, thức uống, áo quần và nhà ở cho những kẻ thiếu thốn (59). Ở đây, như đã ghi nhận, chúng ta thấy có một bậc thang giá trị trong khuôn khổ quyền tư hữu – giữa cái “có” và cái “là” – nhất là khi “cái có” của một vài người có thể làm thiệt hại cho “cái là” của nhiều người khác.
Dựa vào hiến chế mục vụ “Gaudium et Spes, trong thông điệp của mình, Đức Phaolô VI đã đi theo đường lối giáo huấn trên. Về phần tôi, tôi còn muốn nhấn mạnh về tính cách nghiêm trọng và khẩn cấp của nó, bằng cách cầu xin Chúa ban cho tất cả các Kitô hữu sức mạnh để được trung thành đem ra áp dụng thực hành.
32- Nghĩa vụ hiến thân cho việc phát triển các dân tộc không phải chỉ là một bổn phận cá nhân, lại càng không mang tính cách cá nhân chủ nghĩa, như có thể được thực hiện chỉ bằng những cố gắng riêng rẽ của mỗi người. Đó là một mệnh lệnh cho mọi người và cho mỗi người nam và như nữ, cũng như cho các đoàn thể và các quốc gia, cách riêng nó đòi buộc Giáo hội công giáo, các Giáo hội khác và các Cộng đồng giáo hội mà chúng ta hoàn toàn sẵn sàng cộng tác vào lãnh vực này. Trong ý nghĩa đó, như chúng tôi, những người công giáo, mời gọi các anh em Kitô hữu tham dự vào những sáng kiến của chúng tôi, cũng vậy chúng tôi tuyên bố sẵn sàng cộng tác vào những sáng kiến của họ, vui mừng đón nhận những lời mời gọi được gửi đến cho chúng tôi. Trong công cuộc tìm kiếm sự phát triển toàn diện con người, chúng tôi cũng có thể làm được nhiều cùng với các tín hữu thuộc các tôn giáo khác, như đã được làm ở nhiều nơi.
Thực vậy, cộng tác vào việc phát triển toàn bộ con người và toàn thể mọi người là một bổn phận của tất cả đối với tất cả, và đồng thời phải là việc chung cho khắp bốn phương : Đông và Tây, Bắc và Nam, hay theo từ ngữ thường dùng, là bổn phận chung cho các “thế giới” khác nhau. Trái lại, nếu người ta tìm cách thực hiện chỉ từ một phía, chỉ trong một thế giới, việc đó gây thiệt hại cho những người khác; và ở đâu việc đó bắt đầu, cũng như những người khác bị quên lãng, thì ở đấy việc đó sẽ bành trướng quá và dẫn tới hư hỏng.
Các dân tộc hay các quốc gia cũng có quyền được phát triển toàn diện, như đã nói, nếu phát triển bao gồm những khía cạnh kinh tế và xã hội, thì cũng phải bao gồm cả bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc vàviệc hướng tới siêu việt. Không bao giờ được lấy nhu cầu phát triển làm lý do để áp đặt cho những người khác nếp sống và niềm tin tôn giáo riêng của mình.
33- Một mô hình phát triển không tôn trọng và không cổ võ cho những quyền lợi của con người, cá nhân và xã hội, kinh tế và chính trị, kể cả những quyền lợi của các quốc gia và các dân tộc, thì sẽ không thật sự xứng đáng với con người.
Có thể ngày nay còn hơn cả trong dĩ vãng, người ta nhận thấy rõ ràng hơn sự mâu thuẫn nội tại của một cuộc phát triển bị giới hạn vào một khía cạnh kinh tế mà thôi. Nó dễ làm cho con người cùng với  những nhu cầu sâu xa nhất bị lệ thuộc vào những đòi hỏi của việc kế hoạch hóa kinh tế hay việc độc quyền chiếm hữu lợi nhuận.
Mối liên kết  nội tại giữa công cuộc phát triển đích thực và việc tôn trọng những quyền lợi của con người một lần nữa lại biểu lộ đặc tính luân lý : không thể thực sự nâng cao con người, phù hợp với ơn gọi tự nhiên và lịch sử của mỗi người, bằng cách chỉ sử dụng những của cải và những tiện ích dư thừa, hay bằng cách sẵn sàng giúp đỡ những cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh.
Khi những cá nhân và những cộng đồng không thấy các đòi hỏi về luân lý, văn hóa và tinh thần được tôn trọng một cách nghiêm túc, vốn đặt nền tảng trên phẩm giá con người và trên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, bắt đầu từ gia đình và các đoàn hội tôn giáo, tất cả những thứ còn lại – như của cải sẵn có, khả năng dồi dào về kỹ thuật áp dụng vào đời sống thường ngày, một mức độ an toàn nào đó về vật chất – đều được coi là không đủ và về lâu về dài, còn trở nên đáng khinh. Chính Chúa đã xác quyết rõ ràng trong Tin Mừng khi lưu ý mọi người về bậc thang giá trị : “ Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16,26).
Theo những đòi hỏi riêng của con người, đàn ông hay đàn bà, trẻ em, trưởng thành hay già cả, thì một sự phát triển đích thực phải bao gồm, nhất là nơi những người tích cực  tham gia và có trách nhiệm trong tiến trình này, một ý thức sống động về giá trị các quyền lợi của mọi người và của mỗi người, cũng như sự cần thiết phải tôn trọng quyền của mỗi người được sử dụng đầy đủ những lợi ích mà khoa học và kỹ thuật đã mang lại.
Trên bình diện nội bộ của mỗi nước, việc tôn trọng mọi quyền nắm giữ một vai trò rất quan trọng, đặc biệt quyền được sống ở mọi giai đoạn của cuộc đời, những quyền của gia đình, xét như một cộng đồng xã hội căn bản, hay như một “tế bào của xã hội”, sự công bằng trong các liên hệ về lao động, các quyền liên quan mật thiết tới đời sống của cộng đồng chính trị, những quyền đặt nền tảng trên ơn gọi siêu việt của con người, bắt đầu bằng quyền tự do được tuyên xưng và thi hành niềm tin tôn giáo riêng của mình.
Trên bình diện quốc tế, bình diện những mối quan hệ giữa các quốc gia hay theo ngôn ngữ thông thường là giữa các “thế giới” khác nhau, cần phải tôn trọng trọn vẹn bản sắc của mỗi dân tộc, với những đặc tính lịch sử và văn hóa của họ. Như thông điệp Populorum Progressio đã mong ước, cũng cần phải thừa nhận mỗi dân tộc đều có cùng một quyền được “ngồi vào bàn tiệc”, thay vì như Lagiarô nằm ngoài cửa, trong khi “mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta” (x Lc 16,21). Các dân tộc cũng như các cá nhân phải được hưởng sự bình đẳng căn bản (62), vốn đã là nền tảng, chẳng hạn như cho Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, một sự bình đẳng làm nền tảng cho quyền mọi người được tham dự vào tiến trình phát triển toàn diện.
Để trở nên toàn diện, sự phát triển phải được thực hiện trong khuôn khổ của tình liên đới và tự do, không bao giờ được hy sinh cái này cho cái kia vì bất cứ lý do nào. Đặc tính luân lý của việc phát triển và sự cần thiết phải thăng tiến được nổi bật khi người ta hết sức nghiêm chỉnh tôn trọng mọi đòi hỏi thuộc phạm vị chân lý và sự thiện, là phạm vi của con người thụ tạo. Ngoài ra, người Kitô hữu, vì đã học biết nhìn thấy nơi con người hình ảnh của Thiên Chúa  được mời gọi thông phần vào chân lý và sự thiện là chính Thiên Chúa, nên họ không quan niệm việc dấn thân cho  sự phát triển và cho việc thực hiện phát triển mà lại không nhìn nhận và tôn trọng phẩm giá duy nhất của “hình ảnh” đó. Nói cách khác, sự phát triển đích thực phải được xâydựng trên tình yêu Thiên Chúa và tha nhân,  phải làm cho những mối liên hệ giữa các cá nhân và xã hội được dễ dàng. Đó là nền “văn minh tình thương” mà Đức Thánh Cha Phaolô VI luôn nói đến.
34- Đặc tính luân lý của việc phát triển không thể loại trừ lòng tôn trọng đối với các vật làm nên thế giới hữu hình mà người Hy Lạp, để phân biệt khi ám chỉ rất đúng về trật tự, đã gọi là vũ trụ. Những thực tại này cũng đòi phải được tôn trọng dựa vào ba nhận định cần suy nghĩ chín chắn.
Nhận định thứ nhất là nên ý thức nhiều hơn rằng không thể xử dụng một cách vô thưởng vô phạt những loại thụ tạo khác nhau – các vật hữu sinh hay vô sinh, động vật, thảo mộc, khoáng chất – như người ta muốn, theo những nhu cầu kinh tế riêng của mình. Trái lại, phải để ý tới bản tính của mỗi vật và những mối liên hệ với  của chúng  trong một hệ thống có trật tự là “vũ trụ”.
Nhận định thứ hai dựa trên việc ngày càng nhận thấy một cách rõ ràng hơn, tính cách giới hạn của các tài nguyên thiên nhiên, trong đó một số không thể phục hồi được, như người ta thường nói. Việc sử dụng những tài nguyên như chúng không thể cạn kiệt, với một quyền bá chủ  tuyệt đối, sẽ đe dọa nghiêm trọng khả năng cung cấp không những cho thế hệ hiện tại, mà nhất là cho những thế hệ tương lai.
Nhận định thứ ba liên quan trực tiếp đến những ảnh hưởng mà một mô hình phát triển nào đó mang lại về phẩm chất cuộc sống trong những vùng kỹ nghệ hóa. Tất cả chúng ta đều biết việc kỹ nghệ hóa thường gây ra như hậu quả, trực tiếp hay gián tiếp, sự ô nhiễm môi trường, với những ảnh hưởng nghiêm trọng cho sức khỏe dân chúng.
Một lần nữa, thật hiển nhiên là sự phát triển, ý muốn kế hoạch hóa hướng dẫn phát triển, việc sử dụng và cách thức sử dụng các tài nguyên không thể tách rời khỏi sự tôn trọng những đòi hỏi luân lý. Một trong những đòi hỏi ấy chắc chắn đặt ra những giới hạn cho việc sử dụng vạn vật hữu hình. Quyền bá chủ được Đấng Tạo Hóa trao ban cho con người không phải là một quyền hành tuyệt đối và người ta có thể nói tới một thứ tự do “sử dụng và lạm dụng”, hay định đoạt những sự vật như mình muốn. Giới hạn được Đấng Tạo Hóa đặt ra ngay từ ban đầu và được diễn tả một cách tượng trưng bằng lệnh cấm không được “ăn trái cây” (x St 2,16-17),  cho thấy một cách khá rõ trong khuôn khổ vạn vật hữu hình, chúng ta phải tuân giữ những qui luật không chỉ có tính cách sinh học, mà còn có tính cách luân lý, mà nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt.
Một ý niệm đúng đắn về phát triển không thể bỏ qua những nhận định kể trên – liên quan đến việc sử dụng những yếu tố thiên nhiên, việc tái tạo những tài nguyên và những hậu quả  của việc kỹ nghệ hóa một cách vô trật tự – một lần nữa đặt ra cho chúng ta chiều kích luân lý nhờ đó phân biệt được sự phát triển. (63).
V. MỘT CÁCH NHÌN NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN ĐẠI THEO QUAN ĐIỂM THẦN HỌC
35- Được soi dẫn nhờ đặc tính luân lý, yếu tố chính yếu của việc phát triển, chúng ta phải xem xét các trở ngại trong cùng một cái nhìn ấy. Như vậy, trong những năm vừa qua kể từ khi thông điệp của Đức Phaolô VI được công bố, nếu công cuộc phát triển không được thực hiện – hay chỉ được thực hiện trong một mức độ khiêm tốn, cách không đều đặn, nếu không muốn nói là cách mâu thuẫn – thì những nguyên nhân không phải chỉ có tính cách kinh tế. Như đã nói ở trên, những động cơ chính trị cũng đã can thiệp. Thực vậy, những quyết định làm gia tăng hay kìm hãm “công cuộc phát triển của các dân tộc” không gì khác hơn là những yếu tố chính trị. Để khắc phục những cơ chế xấu đã được nhắc tới trên kia, và để thay thế bằng những cơ chế mới, công bằng hơn và thích hợp hơn với lợi ích chung của nhân loại, cần phải có một quyết tâm hữu hiệu về chính trị. Tiếc thay, sau khi đã phân tích tình hình, phải kết luận rằng quyết tâm này đã không đủ.
Trong một văn kiện mục vụ, như thông điệp này, sẽ không đầy đủ nếu việc phân tích chỉ hoàn toàn xét tới những nguyên nhân kinh tế và chính trị của sự chậm phát triển (và đối lại cũng phải xét đến điều được gọi là phát triển thái quá). Vì vậy, cần phải  nhận rõ những nguyên nhân thuộc phạm vi luân lý can thiệp để kìm hãm tiến trình phát triển và ngăn cản việc thực hiện đầy đủ, những nguyên nhân ấy xét theo khía cạnh cư xử của những con người, được coi như là có trách nhiệm,
Cũng vậy, khi có được những phương tiện khoa học và kỹ thuật giúp các dân tộc tiến tới một sự phát triển đích thực nhờ vào những quyết định cụ thể và cần thiết trong phạm vi chính trị, người ta chỉ vượt qua được những trở ngại quan trọng, nhờ vào những lập truờng chủ yếu có tính cách luân lý, mà đối với các tín hữu, nhất là đối với các Kitô hữu, những lập trường này được bắt nguồn từ những nguyên lý đức tin, với sự trợ giúp của ơn Chúa.
36- Vì vậy, phải nhấn mạnh rằng một thế giới bị phân chia thành những khối, do những ý thức hệ cứng nhắc chi phối với nhiều hình thức đế quốc thay vì lệ thuộc lẫn nhau và liên đới cùng nhau, thì chỉ có thể là một thế giới phục tùng “những cơ cấu tội lỗi”. Tất cả những yếu tố tiêu cực đi ngược lại với ý thức chân thực về lợi ích chung của nhân loại và bổn phận phải cổ võ cho lợi ích chung ấy, mang lại cảm tưởng là đã tạo nên, nơi những cá nhân cũng như nơi những nơi những chế độ, một trở ngại thoạt nhìn thì rất khó vượt qua. (64).
Nếu tình trạng hiện nay cho thấy những khó khăn khác nhau, thì đây là lúc phải nói tới những “cơ cấu tội lỗi”, như tôi đã trình bày trong tông huấn Reconciliatio et paenitentia, những cơ cấu này bắt nguồn từ tội lỗi cá nhân và do đó luôn liên kết với với những hành vi cụ thể của những con người, làm nảy sinh ra chúng, củng cố chúng và gây khó khăn cho việc loại trừ chúng (65). Như vậy, những cơ cấu ấy được tăng cường, được tràn lan và trở thành nguồn gốc của những tội lỗi khác, đồng thời chi phối cách sống của con người.
“Tội lỗi” và những “cơ cấu tội lỗi” là những phạm trù ít được áp dụng vào tình trạng thế giới hiện nay. Tuy nhiên, không dễ gì mà hiểu được cách sâu xa thực tại xuất hiện dưới mắt chúng ta,  mà không chỉ rõ gốc rễ những tội ác đang tác động chúng ta.
Quả thật, người ta có thể nói tới thái độ “ích kỷ” và “thiển cận”, người ta có thể nghĩ đến “những tính toán chính trị sai lầm”, “những quyết định kinh tế thiếu khôn ngoan”. Và trong mỗi phê phán về giá trị người ta đều nêu lên một yếu tố có tính cách đạo đức và luân lý. Thân phận con người tự nó khó mà phân tích được một cách sâu xa những hành vi và những thiếu sót của những con người mà không thêm vào, bằng cách này hay cách khác, những phê phán hay những qui chiếu thuộc phạm vi đạo đức.
Tự bản chất, phê phán này mang tính cách tích cực, nhất là nếu được liên kết chặt chẽ cho tới cùng và được dựa trên niềm tin vào một Thiên Chúa và lề luật Ngài truyền phải làm lành tránh dữ.
Đó chính là sự khác biệt giữa kiểu phân tích theo chính trị-xã hội và việc qui chiếu chính xác vào “tội lỗi” và “những cơ cấu tội lỗi”. Theo ý niệm này, cần phải quan tâm tới ý muốn của Thiên Chúa chí thánh với dự định của Ngài về con người, với sự công thẳng và lòng thương xót của Ngài. Thiên Chúa, Đấng giàu lòng thưong xót, Đấng cứu độ con người, chủ tể và tác giả của sự sống, đòi buộc con người phải có những thái độ rõ rệt, được diễn tả qua hành động hay qua những thiếu sót đối với tha nhân.. Điều này liên quan tới “bia đá thứ hai” của mười điều răn (x Xh 20,12-17, Tl 5,16-21); vì không tuân giữ những điều răn này, người ta xúc phạm đến Thiên Chúa và gây thiệt hại cho tha nhân bằng cách đem vào thế giới những qui định và những trở ngại vượt khỏi những hành động của một cá nhân cũng như vượt khỏi quãng thời gian ngắn ngủi của đời mình. Như vậy, người ta cũng vi phạm trong quá trình phát triển các dân tộc mà sự trì trệ hay chậm chạp phải được hiểu theo sự soi dẫn trên.
37- Người ta có thể thêm vào việc phân tích tổng quát thuộc phạm vi tôn giáo này một số những nhận định riêng biệt để thấy được rằng trong số những hành vi hay những thái độ trái với ý muốn của Thiên Chúa và lợi ích của tha nhân, cũng như những “cơ cấu” chúng đưa tới, có hai yếu tố mà ngày nay được coi là đặc thù nhất : một đàng là ước muốn thái quá về lợi nhuận, một đàng là khát vọng quyền lực với mục đích áp đặt ý muốn của mình trên người khác. Để định nghĩa một cách chính xác hơn về mỗi thái độ người ta có thể dùng cách diễn tả “bằng mọi giá”. Nói cách khác, chúng ta phải đối diện với việc tuyệt đối hóa những thái độ của con người với tất cả những hậu quả từ đó mà ra.
Dẫu rằng tự bản chất hai thái độ ấy có thể tách biệt nhau, có thái độ này thì không có thái độ kia, nhưng trong toàn cảnh dưới mắt chúng ta, cả hai đều được liên kết bất khả phân ly, dù thái độ này hay thái độ kia vượt trội hơn.
Dĩ nhiên không phải chỉ những cá nhân mà cả những quốc gia và những khối đều có thể là nạn nhân của hai thái độ tội lỗi trên. Điều đó còn giúp làm phát sinh thêm  “những cơ cấu tội lỗi” mà tôi đã nói đến.  Nếu để ý xem xét một số những hình thức “đế quốc” hiện thời dưới ánh sáng những tiêu chuẩn luân lý, người ta sẽ khám phá ra rằng đằng sau một số những quyết định, mà bên ngoài chỉ hoàn toàn dựa vào những lý do kinh tế hay chính trị, đều ẩn dấu những hình thức đích thực của việc tôn thờ ngẫu tượng như tiền bạc, ý thức hệ, giai cấp, kỹ thuật.
Sỡ dĩ tôi muốn đưa vào đây kiểu phân tích trên nhất là để cho thấy đâu là bản chất đích thực của sự dữ  mà người ta phải đối đầu trong vấn đề phát triển các dân tộc; đó là sự dữ  mang tính cách luân lý, do nhiều tội lỗi đã tạo nên những “cơ cấu tội lỗi”. Chẩn đoán sự dữ như thế giúp xác định một cách chính xác, trên bình diện nếp sống của con người, đường nẻo phải theo để vượt thắng sự dữ.
38- Đó là một con đường dài và phức tạp, hơn thế nữa lại luôn bất ổn, hoặc vì những dự định và những thực hiện của con người, hoặc vì những đổi thay không thể đoán trước được. Tuy nhiên, cần phải có can đảm để lên đường và khi đã đi được một vài bước hay đã vượt qua được một phần hành trình, thì phải đi tới cùng.
Trong toàn bộ những suy nghĩ trên, quyết định lên đường và tiếp tục bước đi, trước hết mang một giá trị luân lý mà người tín hữu nam cũng như nữ nhận biết như là ý muốn của Thiên Chúa, nền tảng duy nhất và đích thực của một nền đạo đức đòi buộc một cách tuyệt đối.
Ước gì những người nam và nữ  dù không có một niềm tin rõ rệt vẫn xác tín rằng những trở ngại cho việc phát triển tòan diện không phải chỉ thuộc phạm vi kinh tế, mà còn tùy thuộc vào những thái độ sâu thẳm hơn được diễn tả, đối với con người, bằng những giá trị có tính cách tuyệt đối. Vì thế, phải hy vọng rằng những người có trách nhiệm, bằng cách này hay cách khác, lo cho anh em đồng loại có được một cuộc sống xứng đáng với con người hơn, thì dù có niềm tin tôn giáo hay không, họ cũng nhận thức đầy đủ về sự cần thiết phải gấp rút thay đổi những thái độ tinh thần vốn là đặc điểm những mối liên hệ của con người với bản thân, với tha nhân, với những cộng đồng nhân loại dù xa xôi nhất và với thiên nhiên; sở dĩ như vậy là vì những giá trị cao cả hơn như ích lợi chung, hay để lấy lại cách diễn tả thích đáng của thông điệp Populorum Progressio, là “sự phát triển của toàn bộ con người và của toàn thể mọi người” (66).
Đối với các Kitô hữu, cũng như đối với tất cả những ai hiểu biết ý nghĩa thần học chính xác của danh từ “tội lỗi”, thì thay đổi cách cư xử, não trạng hay nếp sống được gọi là “hoán cải”, theo ngôn ngữ Kinh Thánh (x Mc 1,15; Lc 13,3.5; Is 30,15). Cuộc hoán cải này nói lên một cách chính xác mối tương quan với Thiên Chúa, với lỗi phạm, với những hậu quả của nó và như vậy với tha nhân, cá nhân hay cộng đồng. Thiên Chúa, Đấng “cầm trong tay trái tim của những kẻ quyền thế” (67) và trái tim của  mọi con người, theo lời đã hứa, Ngài có thể dùng Thánh Thần biến đổi “những trái tim bằng đá” thành “những trái tim bằng thịt” (x Ed 36,26).
Trên con đường hoán cải được mong ước, dẫn tới việc lướt thắng những trở ngại  luân lý cho việc phát triển, người ta có thể nhấn mạnh tới ý thức ngày càng gia tăng về sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các cá nhân và các quốc gia, như  giá trị tích cực và luân lý. Sự kiện có những người nam và nữ, ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới, cảm thấy bản thân mình có liên quan tới những bất công và những vi phạm nhân quyền xảy ra tại những nước xa xôi mà chắc chắn họ chưa bao giờ đặt chân đến, đó là một dấu chỉ khác cho thấy một thực tại đã được tiềm ẩn trong lương tâm, như vậy là mang một ý nghĩa luân lý.
Trước hết, do sự lệ thuộc lẫn nhau, được cảm nhận như một hệ thống cần thiết cho những quan hệ trong thế giới hiện đại, cùng với những yếu tố cấu thành mang tính cách kinh tế, văn hóa, chính trị và tôn giáo, được nâng lên hàng phạm trù luân lý. Khi sự lệ thuộc lẫn nhau được nhìn nhận như vậy, thì câu trả lời thích hợp là tình liên đới, như  một thái độ luân lý và xã hội, đồng thời như một “nhân đức”. Vậy tình liên đới không phải là một tình cảm thương xót mơ hồ hay xúc động hời hợt trước những khổ đau mà biết bao nhiêu người  gần hay xa phải chịu. Trái lại, đó là một quyết tâm mạnh mẽ và bền bỉ phải làm việc cho ích lợi chung, nghĩa là cho lợi ích của mọi người và của mỗi người vì tất cả chúng ta đều thực sự có trách nhiệm đối với mọi người. Một quyết tâm như vậy được xây dựng trên niềm xác tín chắc chắn rằng việc phát triển toàn diện đang bị lòng ham hố lợi nhuận và khao khát quyền lực làm cản trở như đã nói. Chỉ có thể vượt thắng được những thái độ và những “cơ cấu tội lỗi” – dĩ nhiên là với sự trợ giúp của ơn Chúa – nhờ vào một thái độ hoàn toàn trái ngược : cố gắng lo cho lợi ích của tha nhân, theo ý nghĩa của Tin Mừng, bằng cách sẵn sàng “bị mất đi” cho người khác thay vì bóc lột họ, sẵn sàng phục vụ họ thay vì đàn áp họ bởi lợi lộc riêng tư của mình (x Mt 10,40-42; 20,25; Mc 10,42-45; Lc 22,25-27).
39- Việc thực thi tình liên đới bên trong mọi xã hội hoàn toàn có giá trị khi các phần tử nhìn nhận nhau như những con người. Những ai có khả năng hơn, vì có nhiều của cải và nhiều ti?n  ích hơn, phải cảm thấy có trách nhiệm đối với những người khác yếu kém hơn và phải sẵn sàng chia sẻ với họ những gì mình có. Về phần những người yếu kém hơn, cũng trong chiều hướng của tình liên đới, không được giữ một thái độ hoàn toàn tiêu cực  hay phá hoại  tổ chức xã hội, nhưng phải làm những gì thuộc về mình nhằm lợi ích của mọi người, trong khi vẫn bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình. Tới lượt mình, các nhóm trung gian cũng không được quan tâm tới những lợi ích riêng tư một cách ích kỷ, nhưng phải tôn trọng những lợi ích của người khác.
Trong thế giới hiện nay, người ta tìm thấy như những dấu chỉ tích cực của việc gia tăng ý thức về tình liên đới giữa người nghèo với nhau, là các việc họ làm để nâng đỡ lẫn nhau, những cuộc biểu tình công khai trên lãnh vực xã hội mà không dùng tới bạo động, nhưng bằng cách đòi hỏi những nhu cầu và những quyền lợi của mình trước sự bất lực và thối nát của chính quyền. Nhờ việc dấn thân theo Tin Mừng, Giáo hội cảm thấy được mời gọi đứng về phía những đám đông nghèo khổ, công nhận những đòi hỏi của họ là chính đáng, góp phần giải quyết những đòi hỏi ấy, mà không quên đi lợi ích của cá nhân trong khuôn khổ lợi ích chung.
Tương tự như thế, tiêu chuẩn đó cũng được áp dụng trong những quan hệ quốc tế. Sự lệ thuộc lẫn nhau phải biến thành tình liên đới, được xây dựng trên nguyên tắc của cải được tạo thành phải dành cho mọi người, những gì do kỹ nghệ làm ra bằng cách chế biến các nguyên liệu với sự đóng góp của công sức lao động, cũng phải phục vụ một cách đồng đều cho lợi ích của mọi người.
Vượt lên trên mọi hình thức đế quốc chủ nghĩa và ý  muốn bảo vệ quyền bá chủ của mình, các quốc gia hùng mạnh nhất và giàu có nhất  phải ý thức về trách nhiệm luân lý đối với các quốc gia khác, hầu tạo được một hệ thống đích thực mang tính cách quốc tế, được chi phối bởi nguyên tắc mọi dân tộc phải được bình đẳng và mọi khác biệt chính đáng của họ phải được tôn trọng. Các nước yếu kém nhất về kinh tế hoặc đang ở ranh giới của sự sống còn, với sự  giúp đỡ của các dân tộc khác và của cộng đồng quốc tế, chính họ cũng phải có thể đóng góp vào lợi ích chung nhờ những kho tàng nhân bản và văn hóa của họ, bằng không sẽ bị mất đi vĩnh viễn.
Tình liên đới giúp chúng ta nhìn tha nhân – con người, dân tộc hay quốc gia – không phải là như bất kỳ một dụng cụ nào mà người ta ít tốn kém khi khai thác khả năng lao động và sức mạnh dẻo dai nơi thân xác họ, để rồi loại bỏ khi không còn phục vụ được nữa, nhưng là như  “đồng loại của chúng ta”, một “trợ tá” (x St 2,18-20), khiến chúng ta phải cho tham dự, ngang hàng với chúng ta, vào bàn tiệc cuộc đời mà Thiên Chúa đã kêu gọi mọi người. Từ đó, việc quan trọng là phải  thức tỉnh lương tâm tôn giáo nơi những cá nhân và nơi các dân tộc.
Như vậy phải loại bỏ sự bóc lột, đàn áp và tiêu diệt người khác. Trong tình trạng thế giới bị phân chia thành những khối kình chống nhau, những sự kiện trên được nối kết lại tạo thành nguy cơ chiến tranh và quá lo lắng cho nền an ninh, rất nhiều khi làm tổn thương đến quyền tự chủ, quyền tự do quyết định và đến cả sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia yếu kém nhất để rồi rơi vào những nơi được gọi là “vùng ảnh hưởng”, hay “vòng đai an toàn”.
Các “cơ cấu tội lỗi” và các tội lỗi do các cơ cấu ấy gây nên, cũng hoàn toàn chống lại nền hòa bình và sự phát  triển, bởi vì theo sự diễn tả nổi tiếng  trong thông điệp của Đức Phaolô VI thì phát triển chính là “tên gọi mới của hòa bình” (68).
Như vậy tình liên đới chúng ta đề nghị là con đường hòa bình và đồng thời cũng là con đường phát triển. Thực vậy, nền hòa bình thế giới là điều không thể hiểu được nếu những người có trách nhiệm không đi tới chỗ nhìn nhận rằng sự lệ thuộc lẫn nhau tự nó đòi phải vượt lên trên khuynh hướng chính trị theo khối, phải từ bỏ mọi hình thức đế quốc về kinh tế, quân sự hay chính trị, và phải biến sự nghi ngờ lẫn nhau thành sự cộng tác. Sự cộng tác này chính là hành vi đặc biệt của tình liên đới giữa những cá nhân và những quốc gia.
Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Piô XII, đã lấy câu “Opus justitiae pax” hòa bình là kết quả của công lý, làm khẩu hiệu. Ngày nay, người ta có thể nói một cách cũng xác đáng và mạnh mẽ dựa theo Kinh Thánh (Is 32,17; Gc 3,18) rằng : Opus solidaritatis pax, hòa bình là kết quả của tình liên đới.
Mục tiêu của hòa bình, mà mọi người đều mong ước, chắc chắn sẽ đạt được nhờ việc thực thi công bằng xã hội và quốc tế, nhưng cũng nhờ việc thực thi các nhân đức giúp chúng ta biết chung sống với nhau và dạy chúng ta biết sống hòa hợp để xây dựng một xã hội mới và một thế giới tốt đẹp hơn trong tinh thần hợp nhất, bằng cách biết cho và biết nhận.
40- Chắc hẳn tình liên đới là một nhân đức Kitô giáo. Từ phần khai triển trên, người ta có thể thoáng thấy nhiều điểm giống nhau giữa tình liên đới và tình yêu thương, vốn là dấu chỉ đặc biêt của các môn đệ Đức Kitô (x Ga 13,35)
Dưới ánh sáng đức tin, tình liên đới phải vượt lên trên bản chất của mình, để mang lấy những chiều kích đặc thù của Kitô giáo là hoàn toàn vô vị lợi, tha thứ và hòa giải. Lúc đó tha nhân không phải chỉ là một con người với những quyền lợi và sự bình đẳng căn bản đối với mọi người, mà còn trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được máu Đức Kitô cứu chuộc và là đối tượng hoạt động của Chúa Thánh Thần. Vì vậy, tha nhân phải được yêu thương ngay khi còn là thù địch, bằng tình yêu thương mà Chúa đã yêu thương họ và người ta phải sẵn sàng hy sinh cho họ, dù phải hy sinh đến cùng  : “Hiến mạng sống cho anh em mình” (x 1Ga 3,16).
Lúc đó ý thức về tình phụ tử chung của Thiên Chúa, về tình huynh đệ của mọi người trong Đức Kitô, “những người con trong Chúa Con”, về sự hiện diện và họat động ban sự sống của Chúa Thánh Thần, đem lại cho cái nhìn của  chúng ta về thế giới một tiêu chuẩn mới để giải thích. Bên trên những mối liên hệ nhân đạo và tự nhiên , vốn rất mạnh mẽ và chặt chẽ, ánh sáng đức tin còn cho thấy rõ một kiểu mẫu mới để hợp nhất nhân lọai, mà tình liên đới phải dựa vào đó như động lực cuối cùng. Kiểu mẫu hợp nhất tuyệt vời này, phản ảnh đời sống thân mật của Thiên Chúa Ba Ngôi, chính là điều người Kitô hữu chúng ta diễn tả qua từ ngữ  “hiệp thông”.
Sự hiệp thông đặc biệt của Kitô giáo, được duy trì một cách cẩn thận, được mở rộng và được phong phú nhờ sự trợ giúp của Chúa, chính là linh hồn của ơn gọi kêu mời Giáo hội trở nên “bí tích” theo ý nghĩa đã trình bày.
Vậy tình liên đới phải góp phần vào việc thực hiện ý định của Thiên Chúa trên bình diện cá nhân cũng như trên bình diện xã hội  của quốc gia và quốc tế. Những “cơ chế xấu xa” và những “cơ cấu tội lỗi” chúng ta đã nói đến, chỉ có thể bị đánh bại bằng việc thực thi tình liên đới mang tính cách nhân bản và Kitô giáo, mà Giáo hội không ngừng mời gọi và cổ võ. Chỉ bằng cách này nhiều tiềm năng tích cực mới được hoàn toàn giải phóng để làm lợi cho phát triển và hòa bình.
Nhiều vị thánh được Giáo hội tôn phong đã cống hiến những chứng tá tuyệt vời về tình liên đới và có thể dùng làm gương mẫu trong những hoàn cảnh khó khăn hiện nay. Trong số các vị đó, tôi muốn nhắc tới thánh Phêrô Claver đã phục vụ các nô lệ tại Carthagène thuộc Nam Mỹ, và thánh Maximiliano Kolbe đã hiến mạng sống mình cho một người tù không quen biết trong trại tập trung Auschwitz-Oswiecim.
VI- MỘT VÀI ĐƯỜNG HƯỚNG RIÊNG
41- Giáo hội không có những giải đáp kỹ thuật dành cho vấn đề chậm phát triển như Đức Thánh Cha Phaolô VI đã tuyên bố trong thông điệp của mình (69). Thực vậy, Giáo hội không đưa ra những hệ thống hay những chương trình kinh tế và chính trị, Giáo hội không tỏ ra thiên về hệ thống này hay hệ thống kia, miễn sao phẩm giá con người được tôn trọng một cách chính đáng và được cổ võ cũng như thấy mình có được không gian cần thiết để chu tòan tác vụ của mình giữa trần gian.
Thế nhưng Giáo hội vốn “am tường về nhân loại” (70) và điều đó thúc đẩy Giáo hội cần phải mở rộng sứ mạng tôn giáo của mình tới những lãnh vực khác nhau, trong đó người nam và người nữ đang hoạt động để tìm kiếm hạnh phúc, luôn tương đối, có thể ở trần gian, một cách phù hợp với phẩm giá con người của họ.
Theo gương những vị tiền nhiệm, tôi phải lặp lại rằng những gì liên quan tới phẩm giá của con người và của các dân tộc, chẳng hạn như việc phát triển đích thực, không thể được thu gọn chỉ vào vấn đề “kỹ thuật”. Thu gọn như thế, việc phát triển sẽ mất đi nội dung đích thực của nó và người ta sẽ phản bội con người và các dân tộc mà mình phải phục vụ.
Đó là lý do tại sao Giáo hội ngày hôm nay, cũng như cách đây hai mươi năm, và trong tương lai vẫn còn phải lên tiếng nói về bản chất, về những điều kiện, những đòi hỏi và những mục đích của việc phát triển đích thực, cũng như về những trở ngại ngăn chặn việc phát triển. Làm như thế, Giáo hội chu toàn sứ mạng phúc âm hóa của mình, vì Giáo hội góp phần đầu tiên vào việc giải quyết vấn đề cấp bách của việc phát triển khi công bố chân lý về Đức Kitô, về Giáo hội và về con người, bằng cách áp dụng chân lý ấy vào một hoàn cảnh cụ thể (71).
Phương tiện Giáo hội dùng để đạt được mục đích chính là học thuyết xã hội của mình. Trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay để giúp trình bày những vấn đề một cách đúng đắn, cũng như để tìm ra giải pháp tốt đẹp nhất, thì rất cần phải có một sự hiểu biết chính xác hơn và cần phải quyết tâm phổ biến sâu rộng hơn  “toàn bộ những nguyên tắc suy tư và những tiêu chuẩn phê phán cũng như những hướng dẫn cho hành động” được đề ra qua lời giảng dạy của mình (72).
Như vậy, người ta sẽ thấy ngay rằng những vấn đề phải đối phó trước hết có tính cách luân lý và ngay cả việc phân tích chính vấn đề phát triển cũng như những phương tiện để vượt qua những khó khăn hiện nay đều không thể loại trừ chiều kích chính yếu này.
Học thuyết xã hội của Giáo hội không phải là một “con đường thứ ba” giữa “chủ nghĩa tư bản tự do” và “chủ nghĩa “tập thể Marxiste”, cũng không phải là một giải pháp khả thi trong số những giải pháp mang tính cách ít triệt để hơn; học thuyết ấy tự bản chất làm thành một loại riêng. Đó không phải là một ý thức hệ, nhưng là việc trình bày chính xác những kết quả suy tư nghiêm chỉnh về những thực tại phức tạp  của đời sống con người trong xã hội và trong bối cảnh quốc tế, dưới ánh sáng đức tin và truyền thống của Giáo hội. Mục tiêu chính yếu của học thuyết này là giải thích những thực tại ấy, bằng cách xét xem chúng có phù hợp hay trái ngược với đường hướng giáo huấn của Tin Mừng về con người và về ơn gọi, vừa có tính cách trần thế lại vừa có tính cách siêu việt; như vậy học thuyết này có mục đích hướng dẫn cách cư xử của người Kitô hữu. Vì thế nó không đi vào lãnh vực ý thức hệ, nhưng đi vào lãnh vực thần học và đặc biệt là thần học luân lý.
Việc giảng dạy và phổ biến học thuyết xã hội là một phần trong sứ mạng phúc âm hóa của Giáo hội. Và vì là một học thuyết nhằm hướng dẫn cách cư xử của con người, nên đương nhiên cũng đòi hỏi mỗi người phải “dấn thân cho công lý” tùy theo vai trò, ơn gọi và hoàn cảnh của mình.
Việc chu toàn tác vụ phúc âm hóa trong lãnh vực xã hội là một phần trong chức vụ tiên tri của Giáo hội, cũng bao gồm cả việc tố giác những tội ác và những bất công. Tuy nhiên, nên nhấn mạnh việc loan báo bao giờ cũng quan trọng hơn việc tố giác và việc tố giác này không thể loại trừ việc loan báo vốn đem lại cho việc tố giác một nền tảng đích thực và một sức cổ võ mạnh mẽ nhất.
42- Học thuyết xã hội của Giáo hội, ngày nay hơn cả trong dĩ vãng, có bổn phận mở ra một viễn tượng quốc tế theo chiều hướng của Công Đồng Vaticanô II (73), của các thông điệp gần đây (74) và cách riêng của thông điệp chúng ta đang mừng kỷ niệm trong lúc này (75). Vậy không phải là việc thừa nếu chúng ta xét lại và đào sâu dưới sự soi dẫn ấy về những chủ đề, những đường hướng đặc biệt mà Huấn Quyền đã lặp lại trong những năm gần đây.
Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến một trong những điểm ấy: sự chọn lựa hay tình yêu thương dành cho những người nghèo. Đó là một chọn lựa, hay một hình thức đặc biệt dành ưu tiên trong việc thực thi đức ái Kitô giáo mà tất cả truyền thống Giáo hội đã minh chứng. Điều đó liên quan tới đời sống của mỗi Kitô hữu, với tư cách là người bắt chước đời sống của Đức Kitô, nhưng cũng được áp dụng cho những trách nhiệm xã hội của chúng ta và như vậy cho cách chúng ta sống, cho những quyết định chúng ta đưa ra một cách đúng đắn về vấn đề tư hữu và sử dụng của cải.
Thế nhưng ngày nay, vì vấn đề xã hội mang chiều kích thế giới (76), thì tình yêu thương được ưu tiên, cũng như những quyết định mà tình yêu thương ấy gợi lên cho chúng ta, cũng phải bao gồm cả những đám đông không kể xiết những người đói khát, những người ăn xin, những người không nơi nương tựa, những người không thuốc men và trên hết là những người không còn hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn; phải nhìn nhận rằng có  những thực tại như vậy. Không biết đến những thực tại ấy là tự đồng hóa mình với “người giàu có yến tiệc linh đình” làm bộ không nhận ra Lagiarô, người ăn xin, đang nằm gần cửa nhà ông (x Lc 16,19-31). (77).
Đời sống thường ngày đòi chúng ta phải để ý tới những thực tại này, cũng như để ý tới những quyết định thuộc phạm vi chính trị và kinh tế. Đồng thời, những vị hữu trách tại các quốc gia và những Tổ chức quốc tế, trong khi có bổn phận phải dành ưu tiên cho chiều kích nhân bản đích thực trong những kế hoạch của mình, thì cũng phải nhớ dành vị trí thứ nhất cho hiện tượng nghèo túng đang gia tăng. Tiếc thay, con số những người nghèo túng, thay vì giảm đi, thì lại cứ gia tăng không phải chỉ trong những nước kém phát triển, mà còn trong những nước đã phát triển, điều đó gây ô nhục không kém.
Cần phải nhắc lại một lần nữa nguyên tắc đặc thù của học thuyết xã hội Kitô giáo : của cải trên thế giới  tự nguồn gốc được dành cho mọi người (78). Quyền tư hữu có giá trị và cần thiết, nhưng không được hủy bỏ giá trị của nguyên tắc này. Thực vậy, “một món nợ xã hội” đè nặng trên quyền tư hữu, nghĩa là nơi quyền tư hữu, người ta nhận thấy, như phẩm chất nội tại, một chức năng xã hội được xây dựng và được minh chứng một cách chính xác bởi nguyên tắc của cải phải được dành cho mọi người. Và trong việc dấn thân cho người nghèo, không được sao nhãng hình thức đặc biệt của sự nghèo túng, đó là bị tước mất những quyền lợi căn bản của con người, cách riêng quyền tự do tôn giáo, và mặt khác quyền được có sáng kiến về kinh tế.
43- Sự quan tâm tích cực đến những người nghèo – theo cách diễn tả rất sâu xa, là “những người nghèo của Chúa” (80)  – phải được thể hiện ở mọi mức độ, bằng những hành động cụ thể, để chắc chắn đạt được một loạt những cải tổ cần thiết.  Tùy theo những hoàn cảnh riêng biệt, người ta ấn định những cải tổ cấp bách nhất và những phương tiện để thực hiện, nhưng không được quên những cải tổ mà tình trạng mất quân bình trên phạm vi quốc tế đòi hỏi như đã mô tả ở trên.
Về vấn đề này, tôi muốn đặc biệt nhắc lại : việc cải tổ hệ thống thương mại quốc tế, đã bị chủ trương bảo vệ mậu dịch và trao đổi song phương đang thịnh hành thao túng; việc cải tổ hệ thống tiền tệ và tài chánh quốc tế, mà ngày nay người ta đều đồng ý là không đầy đủ; vấn đề trao đổi kỹ thuật và cách sử dụng hữu hiệu; sự cần thiết phải coi lại cơ cấu các Tổ chức quốc tế hiện có,  trong khuôn khổ một trật tự của công pháp quốc tế.
Hệ thống thương mại quốc tế ngày nay thường dẫn đến việc phân biệt các sản phẩm của những nền kỹ nghệ mới ra đời tại các nước đang phát triển, trong khi làm nản lòng những nhà khai thác các tài nguyên thô. Đàng khác, vẫn có một thứ phân chia quốc tế về lao động, theo đó các sản phẩm có giá thành rẻ của một số nước, tại đó luật lệ hữu hiệu về lao động không có, hay quá yếu kém khi áp dụng, được đem bán tại những nơi khác trên thế giới với những lợi nhuận to lớn dành cho các xí nghịệp chuyên môn trong kiểu sản xuất không biên giới này.
Hệ thống tiền tệ và tài chánh thế giới mang nặng dấu ấn bởi sự giao động quá đáng của các biện pháp hối đoái và lãi xuất, gây tổn hại cho cán cân chi trả và tình trạng nợ nần của các nước nghèo.
Các kỹ thuật và việc chuyển nhượng ngày nay trở thành một vấn đề chính yếu trong những cuộc trao đổi quốc tế, với những tổn hại nghiêm trọng. Không thiếu gì những nước  đang phát triển bị từ chối cung cấp các kỹ thuật cần thiết hay chỉ được chuyển nhượng một vài kỹ thuật không ích lợi gì cho họ
Các tổ chức quốc tế, theo ý kiến của nhiều người, thì dường như đang ở vào một thời điểm lịch sử cần phải xét lại kỹ lưỡng và sửa chữa cấp thời những cơ cấu điều hành, những chi phí hành chánh và tính cách hữu hiệu. Dĩ nhiên một tiến trình tế nhị như vậy không thể thành công nếu không được mọi người cộng tác. Phải vượt lên trên những tranh chấp chính trị và phải từ bỏ ý định sử dụng những Tổ chức này vào các mục đích riêng tư, trong khi lý do tồn tại duy nhất của những Tổ chức này chính là lợi ích chung.
Các Thể chế và các Tổ chức hiện có đã làm việc đắc lực cho lợi ích các dân tộc. Tuy nhiên, đứng trước một giai đoạn mới và khó khăn hơn của việc phát triển đích thực, nhân loại ngày nay cần đến một mức độ tổ chức cao hơn với đẳng cấp quốc tế, để phục vụ cho các xã hội, các nền kinh tế và văn hóa của toàn thế giới.
44- Phát triển trước hết đòi hỏi một óc sáng kiến từ phía các nước cần phát triển (81). Mỗi nước phải hành động theo những trách nhiệm riêng của mình, chứ đừng mong đợi tất cả từ các nước được ưu đãi hơn, bằng cách hợp tác làm việc với các nước khác ở trong cùng một hoàn cảnh. Mỗi nước phải khai thác và sử dụng hết sức có thể phạm vi tự do riêng của mình. Mỗi nước phải có khả năng đưa ra những sáng kiến đáp ứng cho những vấn đề xã hội riêng của mình. Mỗi nước cũng phải nhận ra những nhu cầu thực sự của mình, cũng như những quyền lợi và bổn phận phải chu toàn. Việc phát triển các dân tộc được bắt đầu và phải tìm thấy cách thức thi hành thích hợp nhất trong cố gắng của mỗi dân tộc cho sự phát triển riêng của mình, với sự hợp tác của các dân tộc khác.
Trong ý nghĩa ấy, điều quan trọng là các nước đang phát triển phải giúp cho mọi công dân được triển nở, nhờ tham dự vào một nền văn hóa đã được nghiên cứu sâu rộng hơn và một sự thông tin tự do. Tất cả những gì có thể giúp cho việc xóa nạn mù chữ và giáo dục căn bản được đào sâu và hoàn chỉnh, đều là một đóng góp trực tiếp cho việc phát triển đích thực, như thông điệp Populorum Progressio đã đề ra (82), mặc dù mục tiêu ấy còn xa mới đạt được tại nhiều vùng trên thế giới.
Để tiến bước trên con đường này, các nước phải tự mình nhận ra những ưu tiên và phải thấy rõ những nhu cầu của mình, tùy theo những hoàn cảnh riêng của dân chúng, khung cảnh địa lý và các truyền thống văn hóa.
Một số nước sẽ phải gia tăng sản xuất lương thực, hầu luôn có sẵn những gì cần thiết cho của ăn và cho cuộc sống. Trên thế giới hôm nay, biết bao nhiêu người đã trở thành nạn nhân của cái đói, nhất là trẻ em. Có những nước đã nêu gương,  mặc dù không phát triển một cách đặc biệt, nhưng đã thành công trong việc đạt tới mục tiêu tự túc lương thực, thậm chí còn trở thành những nước xuất khẩu lương thực.
Có những nước khác cần cải tổ một số những cơ cấu bất công và cách riêng những thể chế chính trị của họ để thay thế những chế độ thối nát, độc tài và chuyên chế bằng những chế độ dân chủ đề cao việc tham gia. Đó là một tiến trình chúng tôi mong thấy được phổ biến và tăng cường, bởi vì sự khỏe mạnh của một cộng đồng chính trị – được biểu lộ qua việc tự do tham gia vào trách nhiệm của mọi công dân  trong những công việc chung, nhờ sự vững chắc của luật pháp, nhờ sự tôn trọng và thăng tiến nhân quyền – là một điều kiện cần thiết và là một đảm bảo chắc chắn cho việc phát triển “toàn bộ con người và toàn thể mọi người”.
45- Những điều đã nói chỉ được thực hiện với sự cộng tác của mọi người, cách riêng của cộng đồng quốc tế, trong khuôn khổ của một tình liên đới bao gồm tất cả thế giới, bắt đầu những nước bị cô lập nhất. Thế nhưng các nước đang phát triển có bổn phận chính họ phải thực thi tình liên đới với nhau và với những nước bị bỏ rơi nhất trên thế giới.
Thật đáng mong ước, chẳng hạn những nước cùng một khu vực địa lý thiết lập những hình thức cộng tác giúp họ bớt lệ thuộc vào những nước sản xuất hùng mạnh hơn;  họ mở cửa cho các sảm phẩm trong vùng; họ nghiên cứu xem những sản phẩm của mình có thể tạm thời bổ túc cho nhau không; họ liên kết để cung cấp những tiện ích mà mỗi nước không thể tổ chức được; họ mở rộng sự hợp tác sang lãnh vực tiền tệ và tài chánh.
Sự lệ thuộc lẫn nhau đã là một thực tại trong nhiều nước ấy. Thừa nhận sự lệ thuộc này, bằng cách làm cho nó trở nên tích cực hơn, là một giải pháp đương đầu với sự lệ thuộc quá đáng vào các nước giàu hơn và mạnh hơn,  một giải pháp nằm trong chính đòi hỏi của sự phát triển đáng mong ước, không chống đối ai, nhưng bằng cách khám phá và gia tăng tối đa giá trị những khả năng riêng của mình. Những nước đang phát triển thuộc cùng một vùng địa lý, nhất là những nước thuộc thành phần được gọi là “phía Nam”, có thể và phải thành lập – như người ta đang bắt đầu với những thành quả đầy hứa hẹn – những tổ chức mới cấp vùng, được điều hành bởi những tiêu chuẩn bình đẳng, tự do và tham gia vào liên minh giữa các quốc gia.
Tình liên đới quốc tế  đòi hỏi, như một điều kiện thiết yếu,  sự tự trị và tự do định đoạt về mình, ngay cả ở bên trong những tổ chức, như những tổ chức vừa mới được trình bày. Nhưng đồng thời cũng đòi hỏi phải sẵn sàng chấp nhận những hy sinh vì lợi ích của cộng đồng thế giới.
VII- KẾT LUẬN
46- Các dân tộc và các cá nhân đều khao khát được giải phóng; việc tìm kiếm sự phát triển toàn diện là dấu chỉ cho thấy họ ước muốn vượt qua những trở ngại chồng chất, ngăn cản không cho  họ được hưởng một “cuộc sống xứng đáng với con người hơn”.
Mới đây, trong suốt thời gian sau khi công bố thông điệp Populorum Progressio, tại một số nơi thuộc Giáo hội công giáo, đặc biệt là tại Châu Mỹ La Tinh, thấy phổ biến một cách thức mới để tiếp cận những vấn đề nghèo khổ và chậm phát triển, lấy việc giải phóng làm phạm trù căn bản và làm nguyên lý đầu tiên để hành động. Những giá trị tích cực, cũng như những sai lạc và những nguy cơ sai lạc nối kết với cách suy tư và xây dựng thần học, đã được Huấn quyền của Giáo hội cảnh báo đúng lúc (83).
Nên nói thêm rằng khát vọng giải phóng cho con người và xã hội khỏi mọi hình thức nô lệ là một điều cao quí và có giá trị. Đó là mục tiêu chính đáng của việc phát triển, hay đúng hơn của việc giải phóng và phát triển, nếu xét tới mối liên hệ chặt chẽ giữa hai thực tại ấy.
Một sự phát triển hoàn toàn có tính cách kinh tế không thể nào giải phóng con người, trái lại cuối cùng nó càng làm cho con người bị nô lệ hơn. Một sự phát triển không hội nhập những chiều kích văn hóa, siêu việt và tôn giáo của con người và xã hội, thì càng ít góp phần vào việc giải phóng đích thực, nếu không nhận biết những chiều kích đó và không hướng tới chúng như những mục tiêu riêng của mình. Con người chỉ hoàn toàn tự do khi là chính mình, với đầy đủ các quyền lợi và bổn phận; người ta cũng phải nói như vậy về toàn thể xã hội.
Trở ngại chính yếu phải vượt qua để đạt tới một sự giải phóng đích thực, chính là tội lỗi và những cơ cấu phát sinh từ đó dần dần gia tăng là tràn lan. (84).
Sự tự do Đức Kitô dùng để giải phóng chúng ta (x Ga 5,1) thúc đẩy chúng ta hoán cải hầu trở thành tôi tớ của mọi người. Như vậy tiến trình phát triển và giải phóng  được cụ thể hóa qua việc thực thi tình liên đới, nghĩa là thực thi tình yêu thương và phục vụ tha nhân, nhất là những người nghèo khổ nhất : “Ở đâu vắng bóng chân lý và tình yêu thương, thì tiến trình giải phóng sẽ dẫn đến việc bóp chết một thứ tự do đã mất đi mọi điểm tựa” (85).
47- Trước những kinh nghiệm đáng buồn của những năm vừa qua và trước bức tranh mà phần lớn mang tính cách tiêu cực của thời buổi hiện nay, Giáo hội phải mạnh mẽ xác quyết rằng có thể vượt  qua những trở ngại ngăn cản sự phát triển, vì thái quá hay vì bất cập, và hãy tin tưởng vào một sự giải phóng đích thực. Niềm tin tưởng và khả năng ấy, xét cho cùng, đều được xây dựng trên ý thức của Giáo hội về lời Chúa hứa bảo đảm rằng lịch sử hiện tại không khép lại nơi mình, nhưng được mở ra đón nhận Nước Thiên Chúa.
Giáo hội cũng tin tưởng vào con người, trong khi vẫn thừa nhận con người có thể hư hỏng, vì Giáo hội biết rằng – dù mang lấy di sản tội lỗi và chính tội lỗi mỗi người có thể vấp phạm – con người vẫn có đầy đủ những đức tính và một năng lực, vẫn có cái “tính bản thiện” (x St 1,31), vì là hình ảnh của Đấng Tạo Hóa, được hưởng nhờ ơn cứu độ của Đức Kitô, “Đấng bằng một cách nào đó đã kết hợp mình với mọi người (86), và vì tác động hữu hiệu của Chúa Thánh Thần “đầy tràn” thế giới” (Kn 1,7).
Vì thế không thể biện minh cho thái độ thất vọng, bi quan và thụ động. Dù có cay đắng, thì cũng vẫn phải nói rằng nếu như người ta có thể phạm tội vì ích kỷ, vì quá ham hố lợi lộc và quyền bính,  thì người ta cũng có thể vấp phạm những sai lỗi vì sợi hãi, vì do dự và  thực ra chỉ vì hèn nhát, khi phải chạm trán với những nhu cầu cấp bách của những đám đông bị nhận chìm trong cảnh chậm phát triển. Tất cả chúng ta đều được mời gọi, ngay cả bị bó buộc, phải giải quyết sự thách đố khủng khiếp của mười năm cuối cùng trong ngàn năm thứ hai, chẳng qua vì tất cả chúng ta đều bị những hiểm nguy sắp xảy ra đe dọa : một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, một cuộc chiến tranh không biên giới, chẳng có người thắng cũng như chẳng có kẻ thua. Đối diện với mối đe dọa này, sự phân biệt người  giàu và người nghèo, hay nước giàu và nước nghèo, ít có giá trị, nếu đó không phải vì trách nhiệm lớn lao nhất đè nặng trên những người nhiều của và nhiều quyền hơn.
Tuy nhiên, một lý do như vậy không phải là lý do duy nhất cũng không phải là lý do chính yếu. Điều phải để ý tới, đó chính là phẩm giá con người, mà Đấng Tạo Hóa đã trao phó cho chúng ta để bảo vệ và thăng tiến đồng thời tất cả chúng ta, nam cũng như nữ, đều là những người có trách nhiệm nặng nề và đều là những con nợ đối với vấn đề này trong mọi hoàn cảnh của lịch sử. Tình trạng hiện nay, như nhiều người đã biết với ít hay nhiều rõ ràng, dường như không tôn trọng phẩm giá ấy. Mỗi người trong chúng ta đều được mời gọi góp phần vào cuộc vận động ôn hòa này để đạt được sự phát triển trong hòa bình, để cứu vãn thiên nhiên và thế giới chung quanh chúng ta. Chính Giáo hội cũng cảm thấy mình có liên hệ sâu xa trong con đường này và Giáo hội hy vọng sẽ có được kết quả tốt đẹp.
Vì thế, noi gương Đức Thánh Cha Phaolô VI trong thông điệp Populorum Progressio, tôi muốn ngỏ lời một cách đơn sơ và khiêm tốn với tất cả mọi người, nam cũng như nữ không phân biệt, để sau khi xác tín tính cách nghiêm trọng của giờ phút hiện tại và ý thức về trách nhiệm bản thân của mình, thì bằng nếp sống cá nhân và gia đình, bằng việc sử dụng của cải, bằng việc tham gia của người công dân, bằng việc đóng góp vào những quyết định kinh tế và chính trị, cũng như bằng chính việc dấn thân riêng của mình vào những bình diện quốc gia và quốc tế, họ đem ra thực hành những biện pháp dựa trên tình liên đới và yêu thương, ưu tiên dành cho những người nghèo khổ, những biện pháp do đòi hỏi của những hoàn cảnh và nhất là của phẩm giá con người, vốn là hình ảnh bất diệt của Thiên Chúa Đấng Sáng Tạo, một hình ảnh giống nhau nơi mỗi người chúng ta.
Trong những cố gắng đó, con cái Giáo hội phải là những mẫu gương và phải là những người hướng dẫn, bởi vì, theo chương trình Chúa Giêsu đã công bố tại hội đường Nagiarét, họ được mời gọi  “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, {…} công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Cần nhấn mạnh  đến vai trò trổi vượt của người giáo dân, nam cũng như nữ, như Thượng Hội Đồng Giám Mục mới đây đã nhắc nhở. Họ được báo cho biết làvới lòng nhiệt thành Kitô giáo họ phải làm cho những thực tại trần thế trở nên sinh động  và giữa những thực tại ấy họ phải sống như những chứng nhân và như những người kiến tạo hòa bình và công lý.
Tôi muốn đặc biệt gửi đến những người, nhờ bí tích Rửa tội và việc tuyên xưng cùng một kinh Tin Kính, đang cùng với chúng tôi tham gia vào sự hiệp thông đích thực, mặc dù chưa trọn vẹn. Tôi chắc chắn rằng nỗi lo âu được tỏ bày trong bức thư này, cũng như những lý do làm cho bức thư này thêm phấn khởi, vốn là những điều quen thuộc đối với họ, bởi vì chính Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô đã gợi lên. Chúng ta có thể tìm thấy ở đây một lời mời gọi mới, đó là hãy cùng nhau làm chứng cho những gì chúng ta đã xác tín về phẩm giá con người, được Thiên Chúa tạo dựng, được Đức Kitô cứu độ, được Chúa Thánh Thần thánh hóa và được mời gọi sống một cuộc sống xứng hợp với phẩm giá trong thế giới này.
Tôi xin gửi đến những ai cùng chia sẻ với chúng tôi di sản của Abraham, “tổ phụ chúng ta trên đường đức tin” (x Rm 4,11-12) (88) và truyền thống  Cựu Ước, đó là những người Do Thái. Tôi xin gửi đến những ai, như chúng tôi, tin vào Thiên Chúa công bằng và thương xót, đó là những người Hồi Giáo. Tôi cũng xin gửi lời mời gọi này đến tất cả các tín đồ của những tôn giáo lớn trên thế giới.
Cuộc gặp gỡ ngày 17 tháng 10 năm ngoái tại Assisi, quê hương thánh Phanxicô, để cầu nguyện và dấn thân cho hòa bình – mỗi người trung thành với những xác tín tôn giáo của mình – đã làm cho mọi người thấy về một phương diện nào đó thì hòa bình và điều kiện cần thiết để đạt tới hòa bình, sự phát triển “toàn bộ con người và toàn thể mọi người” cũng là một vấn đề tôn giáo, và về một phương diện nào đó thì việc thực hiện trọn vẹn hòa bình và phát triển cả hai đều tùy thuộc vào sự trung thành của chúng ta đối với ơn gọi  của người tín hữu, nam cũng như nữ. Bởi vì việc thực hiện ấy trước hết tùy thuộc vào Thiên Chúa.
48- Giáo hội biết rằng không một thành tựu vật chất nào có thể được đồng hóa với Nước Thiên Chúa, nhưng mọi thành tựu chỉ phản chiếu, và trong một ý nghĩa nào đó, cho thấy trước vinh quang của nước mà chúng ta đang mong đợi vào ngày lịch sử kết thúc, khi Chúa trở lại. Thế nhưng, niềm mong đợi này không bao giờ có thể biện minh cho thái độ thờ ơ đối với con người trong hoàn cảnh cá nhân cụ thể và trong đời sống xã hội, quốc gia và quốc tế, bởi vì cả hai đều chi phối lẫn nhau, nhất là ngày nay.
Những gì người ta có thể và phải chu toàn nhờ cố gắng liên đới của mọi người và nhờ ơn Chúa ban vào một lúc nào đó của lịch sử để làm cho đời sống trở nên xứng đáng với con người hơn, thì dù bất toàn và nhất thời, cũng không có gì bị mất đi hay trở thành vô ích. Công Đồng Vaticanô II đã đề cập tới điều đó trong một đoạn văn thật rõ ràng của hiến chế Gaudium et Spes : “Sau khi đã theo mệnh lệnh Chúa và nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta phổ biến trên trái đất các giá trị về nhân phẩm, về hiệp thông huynh đệ và tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp do bản tính và hoạt động con người đem lại, chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng là gặp lại sau khi chúng được thanh tẩy khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và được biến đổi, nghĩa là khi Đức Kitô giao lại cho Chúa Cha vương quốc vĩnh cửu và đại đồng {…}. Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này rồi” (89).
Hiện nay, Nước Thiên Chúa đã hiện diện nhất là nhờ việc cử hành Bí tích Thánh Thể, là hy lễ của Chúa. Trong việc cử hành này, những hoa trái của ruộng đất và lao công con người – bánh và rượu – được biến đổi cách mầu nhiệm, nhưng thực sự và theo bản thể, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần và lời đọc của thừa tác viên, trở thành Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa và Con Đức Maria, nhờ Ngài Nước Cha được hiện diện giữa chúng ta.
Của cải trần gian và sự nghiệp do bàn tay chúng ta làm ra – bánh và rượu – được dùng để chuẩn bị cho ngày Nước vĩnh viễn đến, bởi vì nhờ Thánh Thần, Chúa đón nhận những lễ vật ấy nơi bản thân để dâng hiến mình cho Chúa Cha và dâng hiến chúng ta làm một với Ngài trong việc tái diễn hy lễ duy nhất của Ngài, như một thể hiện trước Nước Thiên Chúa và như một lời loan báo ngày hoàn tất sau cùng của Ngài.
Như vậy, nhờ Thánh Thể, là bí tích và hy lễ, Chúa kết hợp chúng ta lại với Ngài và kết hợp chúng ta lại với nhau, bằng những mối liên hệ bền chặt hơn mọi kết hợp tự nhiên; và Ngài sai chúng ta đi khắp thế giới, sống hợp nhất để, bằng đức tin và hành động, làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa, chuẩn bị cho Nước Chúa trị đến và thể hiện trước Nước ấy trong bóng tối của thời buổi hiện nay.
Khi tham dự vào Thánh Thể, chúng ta được mời gọi khám phá qua bí tích này ý nghĩa sâu xa của việc chúng ta làm trong thế giới nhằm cổ võ việc phát triển và hòa bình, cũng như  được mời gọi đón nhận từ bí tích ấy sức mạnh để luôn dâng hiến bản thân một cách quảng đại, theo gương Đức Kitô, Đấng đã hy sinh mạng sống mình cho các bạn hữu (x Ga 15,13). Như sự dấn thân của Đức Kitô và trong sự hợp nhất với Ngài, sự dấn thân của chúng ta sẽ không vô ích, nhưng chắc chắn sẽ được nên phong phú.
49- Trong năm Thánh Mẫu tôi đã công bố để các tín hữu công giáo luôn hướng nhìn về Đức Maria hơn nữa, Mẹ là Đấng đi trước chúng ta trong hành trình đức tin và trong tình mẹ chăm sóc, Mẹ sẽ bầu cử cho chúng ta trước Người Con của Mẹ, là Đấng Cứu Độ chúng ta, tôi muốn phó thác cho Mẹ và phó thác cho lời bầu cử của Mẹ tình thế khó khăn của thế giới hiện nay, những cố gắng chúng ta đang làm hay sẽ làm, thường phải trả giá bằng những đau khổ to lớn, hầu góp phần vào việc phát triển đích thực của các dân tộc, mà vị tiền nhiệm của tôi, Đức Phaolô VI đã đề nghị và loan báo.
Theo lòng đạo đức Kitô giáo, chúng tôi dâng lên Đức Trinh Nữ Rất Thánh những hoàn cảnh cá nhân khó khăn để Mẹ bày tỏ cho Con của Mẹ, nhờ đó Ngài sẽ xoa dịu và biến đổi những hoàn cảnh ấy. Thế nhưng chúng tôi cũng dâng lên Mẹ những tình trạng xã hội và cả cuộc khủng hoảng quốc tế với những phương diện đầy lo âu của cảnh cùng khốn, thất nghiệp, thiếu ăn, chạy đua vũ trang, chà đạp nhân quyền, những tình trạng hay những đe dọa xung đột từng phần hay toàn phần. Tất cả những điều ấy, với tình con thảo, chúng tôi muốn đặt dưới “ánh mắt xót thương” của Mẹ và trong niềm tin tưởng và cậy trông, chúng tôi xin lặp lại một lần nữa khúc hát xa xưa : “Lạy Đức Mẹ Chúa trời. Ngài xiết bao thánh thiện. Này chúng con chạy đến. Tìm nương ẩn nơi Ngài. Lúc sa vòng gian khổ. Khi gặp cảnh phong trần. Lời con cái nài van. Xin Mẹ đừng chê bỏ. Nhưng xin hằng giải thoát. Khỏi ngàn nỗi hiểm nguy. Ôi vinh diệu ai bì. Trinh Nữ đầy ơn phước”.
Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh, Mẹ chúng ta và Nữ Vương chúng ta, Mẹ là người đã quay lại nói với Chúa Giêsu : “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Mẹ cũng là người chúc tụng Chúa Cha vì : “Ngài đã hạ bệ những kẻ quyền thế và nâng cao những người khiêm nhường. Ngài cho người đói khát được no đầy và đưa người giàu có trở về tay không” (Lc 1,52-53). Trong tình mẹ chăm sóc, Mẹ sẽ nghiêng mình nhìn đến những khía cạnh cá nhân và xã hội của đời sống con người trên trái đất (91).
Trước tôn nhan Chúa Ba Ngôi Cực Thánh, tôi xin phó dâng cho Mẹ Maria những gì tôi đã trình bày trong bức thư này để mời gọi mọi người suy nghĩ và tích cực cổ võ cho một sự phát triển đích thực của các dân tộc, như lời nguyện trong thánh lễ cầu cho ý chỉ đó đã nói lên : “lạy Chúa, Chúa đã muốn cho mọi dân tộc có cùng một nguồn gốc và Chúa muốn qui tụ họ trong một gia đình duy nhất, xin Chúa cho mọi người nhận biết nhau như anh em và trong tình liên đới, lo cho mọi dân tộc được phát triển, để mọi quyền của con người được công nhận và cộng đồng nhân loại được sống trong bình đẳng và bình an.
Để kết thúc, tôi xin dâng lên lời nguyện này nhân danh tất cả các anh chị em, những người tôi gửi đến một phép lành đặc biệt, như dấu chỉ của lời chào thăm và cầu chúc.
                                                                                             Ban hành tại Rôma,
                                                             Cạnh đền thờ Thánh Phêrô,
                                                             Ngày 30 tháng 12 năm 1987.
                                                     Năm thứ  mười triều đại giáo hoàng của tôi.
                                                                      GIOAN-PHAOLÔ II.
GHI CHÚ
1- Lêo XIII, Tđ Rerum Novarum (15.5.1891) : Leonis XIII P.M. Acta, XI,  Roma 1892, trang 97-144.
2- Piô IX, Tđ Quadragesimo anno (15.5.1931) : AAS 23 (1931), trang 177-228; Gioan XIII, Tđ Mater et Magistra (15.5.1961) : AAS 53 (1961), trang 401-464; Phaolô VI, Tt Octogesima Adveniens (14.5.1971) : AAS 63 (1971), trang 404-4341; Gioan-Phaolô II, Tđ Laborem Exercens (14.9.1981) : AAS 73 (1981), trang 577-647; Piô XII đã công bố một sứ điệp truyền thanh (1.6.1941), nhân kỷ niệm năm thứ 50 thông điệp của Đức Lêo  XIII : AAS 33 (1941) trang 195-205.
3- Xem Cđ Vat II, Hiến chế về mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum, số 4.
4- Phaolô VI, Tđ Populorum Progressio (26.3.1967) : AAS 59 (1967), trang 257-299.
5- Xem L’Observatore Romano, 25.3.1987.
6- Xem Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị về tự do Kitô giáo và giải phóng Libertatis conscientia (22.3.1986), số 72 : ASS 79 (1987), trang 586; Phaolô VI, Tt Octogesima adveniens (14.5.1971) số 4 : AAS 63 (1971), trang 403-404.
7- Xem Tđ Redemptoris Mater (15.3.1987) số 3 : AAS 79 (1987), trang 363-364; Bài giảng lễ ngày 1.1.1987 : L’Observatore Romano 2.1.1987.
8- Tđ Populorum Progressio, trích dẫn các tài liệu Cđ Vat II 19 lần, trong đó 16 lần rút từ Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes.
9- Gaudium et Spes, số 1.
10- Tài liệu đã dẫn số 4;  Xem Tđ Populorum Progressio số 13, quyển C, trang 263-264.
11- Xem Gaudium et Spes, số 3; Tđ Populorum Progressio số 13, quyển C, trang 264.
12- Xem Gaudium et Spes, số 63; Tđ Populorum Progressio số 9, quyển C, trang 261-262.
13- Xem Gaudium et Spes, số 69; Tđ Populorum Progressio số 22, quyển C, trang 269.
14- Xem Gaudium et Spes, số 57; Tđ Populorum Progressio số 41, quyển C, trang 77.
15- Xem Gaudium et Spes, số 19; Tđ Populorum Progressio số 41, quyển C, trang 277-278.
16- Xem Gaudium et Spes, số 86; Tđ Populorum Progressio số 48, quyển C, trang 281.
17- Xem Gaudium et Spes, số 69; Tđ Populorum Progressio số 14-21, quyển C, trang 264-268.
18- Xem Dẫn nhập của Tđ Populorum Progressio, quyển C, trang 257.
19- Tđ Rerum Novarum của Lêo XII với chủ đề chính là “Thân phận người lao động” : Leonis XIII P.M. Acta, XI, Rôma 1892, trang 97.
20- Xem Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị về tự do Kitô giáo và giải phóng Lebertatis conscientia (22.3.1986), số 72 : AAS 79 (1987), trang 586; Phaolô VI, Tt Octogesima adveniens (14.5.1971) số 4 : AAS 63 (1971), trang 403-404.
21- Xem Tđ Mater et Magistra (15.5.1961) : AAS 53 (1961), trang 440.
22- Gaudium et Spes, số 63.
23- Tđ Populorum Progressio số 3, quyển C, trang 263-258; Xem số 9, quyển C, trang 261.
24- Xem tlđd số 3, quyển C, trang 258.
25- Xem tlđd số 48. quyển C, trang 281.
26- Xem tlđd số 14, quyển C, trang 264 : “Sự phát triển không được giản lược vào việc lớn mạnh đơn thuần về kinh tế. Một sự phát triển đích thực phải mang tính cách toàn diện, nghĩa là thăng tiến mọi người và toàn diện con người”.
27- Tlđd, số 87, quyển C, trang 299.
28- Xem tlđd , số 53, quyển C, trang 283.
29- Xem tlđd, số 76, quyển C, trang 295.
30- Hai thập niên đó là những năm 1960-1970 và 1970-1980. Chúng ta hiện đang ở vào thập niên thứ ba 1980-1990.
31- Từ ngữ “thế giới thứ tư” được dùng không những để nói về những nước chậm tiến, mà nhất là còn nói về những khu vực rất nghèo hay quá túng cực tại những nước có lợi tức cao hay trung bình.
32- Cđ Vat II, Hiến chế tín lý về Giáo hội Lumen gentium, số 1.
33-  Xem Tđ Populorum Progressio số 33, quyển C, trang 273.
34- Chúng ta biết rằng Tòa Thánh đã tham gia vào việc cử hành Năm quốc tế này bằng một văn kiện đặc biệt của Ủy ban Giáo Hoàng “Công lý và Hòa bình” : Bạn đã làm gì cho người anh em không chỗ nương thân ? Giáo hội và vấn đề nhà ở (ngày 27 tháng 12 năm 1987).
35- Xem Phaolô VI, Tt Octogesima Adveniens (14.5.1971), số 8-9 : AAS 63 (1971), trang 406-408.
36- Tập nghiên cứu về kinh tế thế giới năm 1987 do Liên Hiệp Quốc ấn hành chứa đựng nhiều dữ kiện về các vấn đề này (trang 8-9). Tỷ lệ thất nghiệp trong các nước phát triển  với nền kinh tế thị trường đã tăng từ 3% năm 1970 lên 8% năm 1986. Số người thất nghiệp hiện nay là 29 triệu.
37- Td Larorem Exercens (14.9.1981) số 18 : AAS 73 (1981), trang 624-625.
38- Để phục vụ cộng đồng nhân loại; một cái nhìn đạo đức về vấn đề nợ nần quốc tế (27.12.1986).
39- Tđ Populorum Progressio số 4, quyển C, trang 283-284 : “Các nước đang phát triển sẽ không còn bị đè nặng do những món nợ mà rỏ ràng là dịch vụ đang làm tiêu tan những món tiền kiếm được. Mức lãi xuất và thời hạn vay mượn phải được điều chỉnh lại, để cả hai phía đều có thể chấp nhận được, đồng thời phải cân bằng các món tiền trợ cấp nhưng không, các khoản cho vay không lấy lời hay lấy lời rất ít và thời gian để trả dần”.
40- Xem phần “Giới thiệu văn kiện Để phục vụ cộng đồng nhân loại : một cái nhìn đạo đứv về vấn đề nợ nần quốc tế (27.12.1986).
41- Xem Tđ Populorum Progressio số 53, quyển C, trang 283.
42- Để phục vụ cộng đồng nhân loại  (27.12.1986). III.2.1.
43- Xem Tđ Populorum Progressio số 20-21, quyển C, trang 267-268.
44- Bài giảng gần Drogheda, Ái Nhĩ Lan (29.9.1979), số  5 : AAS 71 (1979), II trang 1097.
45- Xem Tđ Populorum Progressio số 37, quyển C, trang 275-276.
46- Th Familiaris Consortio (22.11.1981), đặc biệt số 30 : AAS 74 (1982) trang 115-117.
47- Xem Nhân quyền. Tuyển tập các tài liệu quốc tế, Liên Hiệp Quốc, Nữu Ước 1983; Gioan-Phaolô II, Tđ Redemptor Hominis (4.3.1979), số 17 : AAS 71 (1979), trang 296.
48- Xem Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gauđum et Spes; Phaolô VI, Td Populorum Progressio, số 76,  quyển C, trang 294-295 : “ Diệt trừ đói khổ và chống lại bất công là cách cổ võ tốt nhất cho sự  tiến bộ về nhân bản và về tinh thần của mọi người, cũng như cho lợi ích chung của nhân loại. Hòa bình {…}được xây dựng ngày qua ngày, trong việc theo đuổi một trật tự được Thiên Chúa muốn, bao gồm một nền công lý hoàn hảo hơn giữa người với nhau”.
49- Xem Th Familiaris Consortio (22.11.1981), số 6 : AAS 74 (1982), trang 88 : “…Lịch sử không đơn thuần là một sự tiến bộ nhất thiết tiến về cái hay hơn, tốt hơn, nhưng là một diễn biến của tự do, và hơn thế nữa còn là một cuộc chiến giữa những mối tự do đối nghịch nhau…”.
50- Chính vì thế trong bản văn của Thông điệp này, người ta thích dùng chữ “phát triển” thay vì chữ “tiến bộ”, hầu mang lại cho chữ  “phát triển” một ý nghĩa  đầy đủ nhất.
51- Tđ Populorum Progressio số 19, quyển C, trang 266-267 : “Có thêm của cải, đối với các dân tộc cũng như đối với mỗi người, không phải là mục đích tối hậu. Mọi sự triển nở đều có hai mặt {…}Việc quá kiếm tìm để có thêm của cải làm trở ngại cho việc triển nở con người và chống lại với vẻ cao cả đích thực của con người; đối với các quốc gia cũng như dối với mỗi người, tính hà tiện là hình thúc rõ ràng nhất của tình trạng kém phát triển về luân lý”; Xem Phaolô VI, Tt Octogesima adveniens (14.5.1971), số  9 : AAS 63, (1971), trang 407-408.
52- Xem Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes, số 35; Phaolô VI, Diễn từ đọc truớc Ngoại giao đoàn (7.1.1965), số 9 : AAS 57 (1965), trang  232.
53- Xem Tđ Populorum Progressio số 20-21, quyển C, trang 267-268.
54- Xem Tđ Laborem Exercens (16.9.1981) số 4 : AAS 73 (1981), trang 584-585; Phaolô VI Tđ Populorum Progressio số 15, quyển C, trang 265.
55- Xem Tđ Populorum Progressio số 42, quyển C, trang 278.
56- Xem Praeconium pascale, Sách lễ Roma, phát hành 1975, trang 272 : “Tội Adong đã được tẩy xóa nhờ sự chết của Đức Kitô. Ôi, Tội hồng phúc vì đã cho chúng ta một Đấng Cứu chuộc cao sang như thế”.
57- Cđ Vat II, Hiến chế tín lý về Giáo hội Lumen Gentium, số 1.
58- Xem chẳng hạn thánh Basiliô Cả, Regulae fusius tractatae, interropgatio XXXVII, 1-2 : PG 31, 1009-1012; Theodoret ce Cyr, De Providentia, Oratio VII PG 83, 665-666; Thánh Augustinô, De Civitate Dei, XIX, 17 : CCl 48,  683-685,
59- Xem chẳng hạn thánh Gioan Kim Khẩu, trong Phúc âm theo thánh Matthêu, bài giảng 50, 3-4 : PG 58, 508-510; Thánh Ambrôsiô De Officiis Ministrorum, cuốn II, XXVIII, 136-140 : PL 16, 139-141; Possidius, Vita S. Augustini Episcopi, XXIV, PL 32, 53-54.
60-  Tđ Populorum Progressio số 23, quyển C, trang 268 : “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được ? (1Ga 3,17). Chúng ta biết các Giáo phụ của Hội Thánh đã mạnh mẽ xác định về thái độ những người giàu sang phải có khi đứng trước những người túng thiếu”.  Trong số trước, Đức Thánh Cha đã trích dẫn số 69 của Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes của Cđ Vat II.
61- Xem Tđ Populorum Progressio số 47, quyển C, trang 280 : “…Một thế giới ở đó tự do không phải là một danh từ trống rỗng và ở đó người nghèo khổ Lagiarô có thể ngồi cùng bàn với người giàu”.
62- Xem Tlđd, số 47 : Quyển C, trang 280 : “Cần xây dựng một thế giới, ở đó mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quốc gia, đều có thể sống một cuộc sống  xứng hợp với con người một cách đầy đủ, thóat khỏi cảnh nô lệ do con người đem lại…”; cũng xem Cđ Vat II Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes số 29 : Sự bình đẳng căn bản là một trong những lý do tại sao Giáo hội vân luôn chống lại mọi hình thức kỳ thị chủng tộc.
63- Xem bài giảng tai Val Visdende, Ý (12.7.1987), số 5 : L’Osbservatore Romano, 13-14.7.1987; Phaolô VI, Tt Octogesima adveniens (14.5.1971), số 21: AAS 63 (1971), trang 416-417.
64- Xem Cđ Vat II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes, số 25.
65- Th Reconciliatio et Paenitentia (2.12.1984), số 16 : “Thật vậy, khi Giáo hội nói đến những tình trạng tội lỗi, hoặc khi Giáo hội tố giác một số tình trạng hoặc một số thái độ chung của một nhóm người lớn hay nhỏ, hoặc ngay cả thái độ của toàn thể các nước  hay khối các nước, như là những tội xã hội, thì Giáo hội ý thức và tuyên bố rằng những tội xã hội ấy là kết quả, là sự tích lũy và chất chứa nhiều tội cá nhân. Đây là tội hoàn toàn cá nhân, do những người xúi giục hay chấp nhận sự bất công, và tệ hơn nữa còn khai thác sự bất công ấy; do những người có quyền để làm một việc gì khả dĩ đẩy xa, khử trừ, hay ít nhất hạn chế một vài tệ trạng xã hội, nhưng đã né tránh không làm vì thờ ơ, vì lo sợ mà im lặng, vì đồng lõa nhưng giả vờ hoặc vì vô tâm; do những người tìm cách bào chữa quan điểm cho rằng không còn cách nào thay đổi được thế giới và cũng do những người không muốn cố gắng và ngại hy sinh với những lý do siêu nhiên này khác. Những trách nhiệm phải thực sự là của những con người cụ thể. Một tình trạng – hay một định chế, một cơ cấu xã hội – tự nó không phải là chủ thể của các hành vi luân lý, vì thế tự bản chất, nó không thể là tốt hay xấu”. AAS 77 91985), trang 217.
66- Xem Tđ Populorum Progressio số 42, quyển C, trang 278.
67- Xem Phụng vụ các giớ kinh, Thứ ba tuần ba Mùa thường niên, Kinh chiều.
68- Xem Tđ Populorum Progressio số 87, quyển C, trang 299.
69- Xem Tlđd số 13, 81, quyển C, trang 263-264, 296-297.
70- Xem Tlđd số 13, quyển C, trang 263.
71- Xem Diễn văn khai mạc Đại hội Giám mục Châu Mỹ La Tinh lần thứ ba (28.11979) : AAS 71 (1979), trang 189-196.
72- Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị về tự do Kitô giáo và giải phóng Lebertatis Conscientia (22.3.1986), số 72 : AAS 79 (1987). Trang 585; Phaolô VI Tt Octogesima Adveniens (14.4.1971), số 4 : AAS 63 91971), trang 403-404.
73- Xem Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes. Phần II, chương V, đoạn II : “Sự thiết lập các cộng đồng quốc tế” (số 83-90).
74- Xem Gioan XXIII Td Mater et Magistra (15.5.1961) : AAS 53 (1961), trang 440; Tđ Pacem in Terris (11.4.1963), phần IV : AAS 55 (1963), trang 291-296; Phaolô VI, Tt Octogesima Adveniens (14.5.1971), số 2-4 : AAS 63 (1971), trang 402-404.
75- Xem Tđ Populorum Progressio số 3-9 quyển C, trang 258-261.
76- Tlđd số 3, quyển C, trang 258.
77- Xem Tđ Populorum Progressio số 47, quyển C, trang 280. Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị về tự do Kitô giáo và giải phóng Lebertatis Conscientia (22.3.1986), số 68 : AAS 79 (1987). Trang 583-584.
78- Xem Cđ Vat II Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes số 69; Phaolô VI Td Populorum Progressio, số 22, quyển  C, trang 268; Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Giáo huấn về tự do Kitô giáo và giải phóng Libertatis Conscentia (22.3.1986), số 90, quyển C, trang 594. Thánh Tôma Aquinô Tổng luận Thần học, IIa IIe, câu hỏi 66, điều 2.
79- Xem Diễn văn khai mạc Đại hội Giám mục châu Mỹ La Tinh lần thứ ba (28.1.1979) : AAS 71 (1979), trang 189-196; Diễn văn cho nhóm Giám mục Ba Lan về viếng mộ hai Thánh Tông Đồ (17.12.1987), số 6 : L’Observatore Romano (18.12.1987).
80- Bởi vì Chúa muốn đồng hóa với họ (Mt 25,31-46) và bởi vì Ngài đặc biệt chăm sóc đến họ (x Tv 12,6; Lc 1,52-53).
81- Tđ Populorum Progressio số 55, quyển C, trang 284 : “Chính {…} những người đàn ông và những người đàn bà này cần phải được giúp đỡ và cho họ xác tín rằng chính họ cần phải thực hiện sự phát triển riêng của mình và dần dần tìm được những phương cách thực hiện”; Xem Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes, số 86.
82- Tđ Populorum Progressio số 35, quyển C, trang 274 : “Giáo dục căn bản là mục tiêu đầu tiên của chương trình phát triển”.
83- Xem Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Huấn thị về một vài khía cạnh “thần học giải phóng”, Libertatis nuntius (6.8.1984), Lời nói đầu : AAS 76 (1984), trang 876-877.
84- Xem Th Reconcilio et paenitentia (1.12.1984), số 16 : AAS 77 (1985), trang 213-217; Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Giáo huấn về tự do Kitô giáo và giải phóng Libertatis Conscentia (22.3.1986), số 38, 42 : AAS 79 (1987), trang 569-571.
85- Thánh bộ Giáo lý Đức tin, Giáo huấn về tự do Kitô giáo và giải phóng Libertatis Conscentia (22.3.1986), số 24 : AAS 79 (1987), trang 564.
86- Xem Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes, số 22; Gioan-Phaolô II, Tđ Redemptor Hominis (4.3.1979), số 8 : AAS 71 (1979), trang 272.
87- Tđ Populorum Progressio số 5, quyển C, trang 259 : “Chúng tôi nghĩ rằng (chương trình này) có thể và phải liên kết những người thiện chí với những con cái công giáo và những anh em Kitô hữu chúng tôi”.  Cũng xem số 81-83.87, quyển C, trang 296-298.299.
88- Xem Cđ Vat II, Tuyên ngôn về những liên lac của Giáo hội và các tôn giáo ngoài Kytô giáo Nostra aetate, số 4.
89- Gaudium et Spes số 39.
90- Xem Cđ Vat II, Hiến chế tín lý về Giáo hội Lumen Gentium, số 58; Gioan-Phaolô II, Tđ Redemptoris Mater (25.3.1987). số 5-6 : AAS 79 (1987), trang 165-167.
91- Xem Phaolô VI, Th Marialis cultus (2.2.1974) số 37 : AAS 66 (1974), trang 148-149; Gioan-Phaolô II, Bài giảng kính Đức Maria tại Zapopan, Mexicô (30.01.1979), số 4 : AAS 71 (1979), trang 230/
92- Lời nguyện trong thánh lễ “Cầu cho sự phát triển các dân tộc” : Sách lễ Rôma, ấn bản 1975, trang 820.

Comments are closed.