Trắc nghiệm Giáo Lý – Lớp Vào Đời II

0

Xin giới thiệu 4 đề trắc nghiệm cuối năm – tóm lược nội dung của chương trình Phụng Vụ – Giáo Lý Hồng Ân của Giáo Phận Xuân Lộc dành cho Lớp Vào Đời II. Đáp án cho tất cả các câu là Đ (đúng)

BÀI TRẮC NGHIỆM I

Trong các câu sau, câu nào đúng với nội dung Giáo lý bạn đã học trong năm qua? Hãy viết chữ Đ trước câu đúng và S trước câu sai! 

  1. Phụng Vụ là việc thi hành chức vụ tư tế của chính Chúa Kitô, trong đó việc thánh hóa con người được mang ý nghĩa qua dấu chỉ khả giác và được thực hiện cách hữu hiệu khác nhau theo từng dấu chỉ, và trong đó, việc phụng tự công cộng vẹn toàn được thực thi nhờ nhiệm thể Chúa Kitô, nghĩa là gồm cả đầu cùng các chi thể của Người
  2. Phụng vụ là công việc của tất cả nhiệm thể Chúa Kitô gồm đầu và các chi thể.
  3. Phụng vụ là hành động của Chúa Kitô và toàn thể Hội Thánh, vì Chúa Kitô là đầu Hội Thánh. Hội Thánh là nhiệm thể Chúa Kitô.
  4. Năm Phụng vụ bắt đầu từ Chúa Nhật I Mùa Vọng
  5. Tâm điểm và đỉnh cao của năm Phụng vụ là Lễ Phục sinh với Tam Nhật Vượt Qua (Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy Tuần thánh).
  6. Giai đoạn I Mùa Vọng: từ đầu Mùa Vọng đến hết ngày 16 tháng 12, nhằm chuẩn bị tâm hồn các tín hữu hướng đến ngày Chúa Kitô quang lâm (trở lại lần thứ hai trong vinh quang, tức là ngày Cánh chung hoặc còn gọi là ngày tận thế)
  7. Hình ảnh mà Isaia loan báo trước về vai trò tiền hô cho Đấng Cứu Thế được thực hiện ở nhân vật Gioan Tiền hô.
  8. Sống tâm tình Mùa Vọng, ta mong chờ Chúa đến, luôn sẵn sàng và tỉnh thức
  9. Những mẫu gương của Mùa Vọng: Isaia, Gioan Tiền hô, Đức Maria.

10. Chúa Giêsu giáng sinh Belem, xứ Giuđê, trong một hoàn cảnh: Cha mẹ không tìm được nơi nào trong quán trọ, nên phải đặt Hài Nhi trong máng ăn của súc vật.

11. Khi mừng Lễ Giáng sinh, Giáo Hội vừa tưởng niệm biến cố Giáng sinh của Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, vừa Kitô hóa các lễ ngoại giáo (mừng thần Mặt Trời) vào ngày đông chí, được cử hành tại Roma ngày 25 tháng 12 (Sinh nhật của Chúa Kitô – Mặt trời) và tại Ai Cập ngày 6 tháng 1(Lễ Chúa tỏ mình ra cho muôn dân)

12. Phụng vụ cử hành 3 Thánh Lễ ngày Chúa Giáng sinh và mặc cho Lễ Nửa Đêm ý nghĩa: ánh sáng từ trời cao đã xé màn đêm xuống soi sáng nhân loại.

13. Tin Mừng theo Thánh Matthêu xác định “Ba Vua” chỉ là các vị đạo sĩ ở Phương Đông, hay đúng hơn là các nhà chiêm tinh, từ lâu họ đã theo dõi điềm trời và phát hiện ra một ngôi sao lạ chói ngời. Họ tin rằng có một vị vua Do Thái mới sinh ra…

14. Điều quan trọng nhất của Mùa Chay không phải là những hình thức bề ngoài, mà quan trọng là “nội tâm” biết quay về với Chúa: “Hãy xé tâm hồn chứ đừng xé áo”.

15. Mùa Chay bắt đầu từ thứ Tư Lễ Tro

16. Tuần Thánh là thời gian thánh thiêng để chúng ta tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Kitô

17. Trong suốt cuộc đời dương thế, Chúa Giêsu đã hoàn thành công trình cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách đặc biệt trong Mầu nhiệm Vượt Qua.

18. Mầu nhiệm Vượt Qua là cốt lõi niềm tin Kitô giáo, là nguyên lý và nguồn mạch sự sống lại của chúng ta mai sau.

19. Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày Chay Vượt Qua tưởng niệm cuộc thương khó khổ nạn của Chúa Giêsu. Sự chết của Người đem lại giá trị vĩnh cửu cho mọi người vượt không gian và thời gian

20. Thánh giá suy tôn & thờ lạy trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ được để công khai cho dân chúng thờ kính cho đến Đêm Phục sinh.

21. Tất cả sự rực rỡ và huy hoàng của Phụng vụ Kitô giáo được biểu lộ qua cử hành Đêm Phục sinh.  Giáo Hội hân hoan vì Chúa Kitô đã phục sinh. Người chiến thắng dứt khoát thần chết và ma quỷ, đem sự sống mới cho nhân loại và giải thoát con người khỏi vòng nô lệ tội lỗi, từ Adam cho tới ngày Cánh Chung.

22. Tám ngày sau lễ Phục sinh được gọi là Tuần Bát nhật Phục sinh, người ta gọi thời gian này là Lễ Phục sinh kéo dài được cử hành như các ngày lễ trọng kính Chúa.

23. Mùa Phục Sinh được xem là một “Đại Chúa Nhật” nên chi phối các cử hành khác.

24. Với mầu nhiệm phục sinh, Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta thiên chức của con người. Sự phong phú của nhân tính nơi Đức Giêsu được phát huy cực độ, Người trở thành hình ảnh đích thực của Thiên Chúa như Thiên Chúa muốn khi tạo dựng con người “giống hình ảnh Người”. Thiên chức con người cũng hoàn toàn được thể hiện nơi Đấng được Cha tôn vinh, vì những gì Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu thì Thiên Chúa cũng muốn thực hiện nơi chúng ta: một Eva mới, một Adam mới.

25. Trong mùa Thường niên Giáo Hội không cử hành một khía cạnh đặc biệt về mầu nhiệm Chúa Kitô, nhưng lại tôn kính chính mầu nhiệm Chúa Kitô trong toàn thể.

26. Giai đoạn II Mùa Thường Niên bắt đầu từ thứ hai sau Chúa nhật Hiện xuống và kết thúc trước giờ kinh chiều I của Chúa nhật I mùa Vọng.

27. Chúng ta được học hiểu, suy niệm và chiêm ngắm cuộc đời Đức Giêsu mật cách toàn vẹn: Lời Người rao giảng – Phép lạ người thực hiện – Tương quan của Người với Cha và với nhân loại.

28. Chu kỳ mùa nhấn mạnh vào việc mừng kính mầu nhiệm cứu độ. (Vd: Mùa Vọng: chuẩn bị mừng Chúa đến, Mùa Giáng Sinh: Mừng mầu nhiệm Nhập thể, Mùa Chay: chuẩn bị mừng Lễ Phục sinh, Mùa Phục sinh là thời gian mừng Màu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô)

29. Vì địa vị đặc biệt của Mẹ Maria và vì lợi ích cho các tín hữu, Hội Thánh tôn kính Mẹ trong những lễ như: Lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào đền thờ (02.02), Lễ Đức Mẹ Fatima (13.5), Lễ Đức Mẹ thăm viếng bà Elizabét (31.5), Lễ Đức Mẹ Mân côi (07.10), Lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ (21.11)…

30. Ngày mừng kính các Thánh thông thường là ngày các ngài qua đời còn gọi là sinh nhật trên trời.

31. Thánh Lễ là nơi mọi người tụ họp để tưởng niệm mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, là hiện tại hóa và tiến dâng lễ hy sinh độc nhất của Người lên Chúa Cha bằng hành vi phụng vụ của Hội Thánh.

32. Ngay từ những ngày đầu, cộng đoàn Hội Thánh đã ý thức tầm quan trọng của việc cử hành Thánh lễ như lệnh truyền của Đức Kitô. Và cho tới hôm nay, trong Thánh Lễ, Linh mục cử hành nhân danh Chúa Kitô cùng với cộng đoàn (Hội Thánh) – chúng ta là Kitô hữu đều có chức Tư tế chung của Chúa Kitô, nên được tham dự vào việc tôn thờ Thiên Chúa.

33. Thánh Lễ trở thành nguồn mạch, là đỉnh cao cho đời sống Kitô giáo, là lương thực thần linh cho con người được sống và sống dồi dào.

34. Phụng vụ Lời Chúa gồm: Các bài Kinh Thánh trích từ Cựu Ước và Tân Ước (Chúa Nhật và lễ trọng có 2 bài đọc), diễn giảng Lời Chúa, lời nguyện cộng đoàn

35. Nghi thức Kết lễ gồm: Phép lành – Giải tán cộng đoàn.

36. Phụng vụ Lời Chúa: Từ đầu cho đến hết lời nguyện giáo dân.

37. Nhờ năng rước lễ, chúng ta được tăng trưởng trong Đức Kitô, xa lánh tội lỗi, nên giống Chúa Kitô – nhiệt tâm loan báo Tin Mừng, và can đảm dấn thân cho các giá trị con người.

38. Các bài đọc Kinh Thánh luôn luôn được công bố ở giảng đài. Vì thế, người ta không đọc Lời Chúa từ ca đoàn vọng lên hay một nơi nào khác không phải là giảng đài. Cũng không đọc Lời Chúa cách tập thể, bởi vì Lời Chúa được một người công bố cho mọi người nghe, chứ không phải cùng đọc theo kiểu đọc kinh chung.

39. Chúa Kitô hiện diện diện đích thực trong Bí tích Thánh Thể từ lúc truyền phép và kéo dài bao lâu hình bánh hình rượu còn tồn tại. Do đó, sau mỗi lần truyền phép, linh mục đưa Bánh và Chén Thánh lên, người tín hữu tỏ lòng tôn thờ và cúi mình sâu thờ lạy Thánh Thể với Linh mục. Cũng vậy, khi đi ngang qua Nhà Tạm hay trước Mình Thánh Chúa, chúng ta phải tỏ lòng tôn kính và bái thờ cách kính cẩn.

40. Kinh Lạy Cha kết thúc bằng lời tung hô của tất cả cộng đoàn: “Vì Chúa là vua uy quyền và vinh hiển muôn đời”.

41. Bẻ Bánh xong, chủ tế mời gọi mọi người tiến đến lãnh nhận Mình Máu Chúa.

42. Mỗi người có thể rước lễ bằng hai cách, nhưng bằng cách nào thì cũng phải thực hiện nghiêm trang, kính cẩn và tôn trọng người khác.

43. Lịch sử ngày Chúa nhật khởi đầu và bám rễ sâu trong biến cố Phục sinh của Chúa Giêsu.

44. Hội Thánh hôm nay vẫn trung thành trong việc cử hành ngày Chúa nhật và mời gọi tín hữu ý thức đây là cử hành rất quan trọng, liên hệ tới nền tảng của Đạo và tới ơn Cứu độ chúng ta.

45. Ngày Chúa Nhật là ngày của Giáo Hội tập trung những sinh hoạt chủ yếu, ngày biểu lộ bên ngoài sự hiệp nhất của Giáo Hội và là ngày làm cho chúng ta ý thức Giáo Hội là dấu chỉ ơn cứu độ cho muôn dân.

46. Ngày Chúa Nhật là ngày đặc biệt so với mọi ngày trong tuần để con người thực hiện các dự án nhằm thăng tiến nhân loại và mở mang Nước Chúa.

47. Tất cả các bí tích đều do Chúa Giêsu thiết lập để làm phát sinh và gia tăng ân sủng trong linh hồn những người lãnh nhận cách xứng đáng, chứ không phải chỉ tượng trưng hoặc kỷ niệm suông.

48. Các Bí tích có mục đích thánh hóa con người, xây dựng thân thể Chúa Kitô, để chu toàn việc thờ phượng Chúa. Nhưng theo tính cách là những dấu hiệu, các Bí tích cũng có vai trò giáo huấn. Không những chúng giả thiết phải có đức tin, nhưng các Bí tích còn nuôi dưỡng, củng cố và bày tỏ đức tin bằng lời nói và những sự vật, bởi vậy mới gọi là các Bí tích của đức tin.

49. Trong Hội Thánh chỉ có 7 Bí tích mà thôi, trong số đó Bí tích Thánh Thể trở nên nguồn mạch và tột đỉnh của toàn thể đời sống Kitô hữu. Những Bí tích khác cũng như thừa tác vụ trong Hội Thánh đều gắn liền với Bí tích Thánh Thể và quy hướng về đó.

50. Các Á bí tích gồm ba loại: Lễ nghi làm phép người và đồ dùng, lễ nghi cung hiến người và đồ vật dành riêng cho việc thờ phượng, lễ nghi trừ tà.

51. Trừ tà là một hành vi phụng vụ, qua đó Giáo Hội nhân danh Chúa Kitô công khai nài xin Thiên Chúa bảo vệ người hay sự vật khỏi quyền lực Satan và giải thoát khỏi ách thống trị của nó. Chỉ những Linh mục nào được Đức Giám Mục cho phép đặc biệt và minh nhiên mới được phép trừ tà cách long trọng.

52. Vì sự kính trong đối với các nơi và vật đã được thánh hiến, làm phép để dùng vào việc phụng tự – không ai được phép dùng chúng vào làm việc phàm tục hay bất xứng, cho dù chúng thuộc quyền sở hữu của bất cứ cá nhân nào.

53. Trong kinh phụng vụ, hai chiều kích tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa con người đan kết với nhau trong lời nguyện của Giáo Hội, và đó chính là mục đích cuối cùng của giờ kinh.

  BÀI TRẮC NGHIỆM II

Trong các câu sau, câu nào đúng với nội dung Giáo lý bạn đã học trong năm qua? Hãy viết chữ Đ trước câu đúng và S trước câu sai! 

  1. Phụng vụ là một việc thánh, do chính Chúa Kitô thực hiện để tôn vinh Chúa Cha trong Hội Thánh của Người.
  2. Trong cử hành Phụng vụ, với tư cách là đầu, Chúa Kitô quy tụ chúng ta và Ngài hiện diện trong cộng đoàn phụng tự như vị chủ tọa, còn mỗi người chúng ta tuỳ theo nhiệm vụ làm công việc mình. Tất cả nhằm sự thăng tiến của Nhiệm thể Chúa Kitô là Giáo Hội.
  3. Cộng đoàn Phụng vụ gồm mọi thành phần trong Hội Thánh, những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội.
  4. Điều kiện để thành Phụng vụ: Cử hành nhân danh Giáo hội, cử hành bởi nguời được Giáo hội ủy quyền (dù cử hành một mình hay đọc riêng), cử hành theo đúng nghi thức của Giáo hội.
  5. Giai đoạn IIMùa Vọng: từ ngày 17 đến 24 tháng 12, kéo dài trong một tuần lễ, nhằm chuẩn bị trực tiếp mừng Đại lễ Giáng Sinh, để kính nhớ việc Con Thiên Chúa đã đến trần gian lần thứ nhất nơi máng cỏ Belem
  6. Gioan Tiền hô là con của bà Elizabeth. Khi lớn lên, ông vào hoang địa để chay tịnh cầu nguyện và rao giảng. Như các vị khổ tu trong sa mạc, ông mặc áo da thú, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng.
  7. Mùa Vọng muốn chúng ta trở thành những con người có thái độ sẵn sàng, sẵn sàng đối với ơn Chúa, khát khao sống đẹp lòng Chúa, sẵn sàng để đón giờ Chúa đến bất cứ lúc nào.
  8. ISAIA là vị ngôn sứ loan báo: “Từ gốc tổ Gie-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non.” (11:1), “Chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en. (“Is 7:13-14). Từ lời tiên báo đó, dân Chúa khát khao chờ mong Chúa đến.
  9. Chúa Giêsu sinh ra dưới thời Hoàng đế César – Augustô và Quirinio, sự việc xảy ra vào đúng lúc kiểm tra dân số.

10. Phụng vụ cử hành 3 Thánh Lễ ngày Chúa Giáng sinh. Lễ Rạng Đông mời gọi ta theo gót các mục đồng đi thờ lạy Hải Nhi mới sinh.

11. Mùa Giáng Sinh kết thúc vào Chúa Nhật Lễ Hiển Linh, hoặc Chúa nhật sau ngày 6 tháng 1

12. Con số 3 vị vua đến thờ lạy Hài Nhi Giêsu chỉ là theo truyền thống dân gian với một ông da đen, một ông da vàng, và một ông da trắng, tượng trưng cho các sắc dân trên thế giới.

13. Đối với các dự tòng phụng vụ Mùa Chay là thời kỳ chuẩn bị trực tiếp để lãnh nhận các Bí tích Khai Tâm vào Đêm Phục Sinh.

14. Con số 40 ngày chay tịnh của Mùa Chay chỉ mang nghĩa biểu tượng của nhiều sự kiện biến cố trong Kinh Thánh chứ không chính xác theo cách tính của toán học.

15. Mùa Chay kết thúc trước lễ Vọng Phục Sinh.

16. Trong Mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa Kitô đã tiêu diệt sự chết và tội lỗi, đã sống lại để ban cho ta nguồn sống mới.

17. Thứ Năm Tuần Thánh có 2 thánh lễ: Lễ Truyền dầu, lễ Tiệc ly

18. Hành vi rửa chân cho môn đệ của Chúa Giêsu cho thấy Người chấp nhận “mặc lấy thân nô lệ” và hình thức yêu thương này được diễn tả đến mức cao nhất: “Yêu thương đến cùng”, để mời gọi chúng ta theo gương Chúa phục vụ anh em.

19. Phụng vụ ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hoàn toàn quy hướng về mầu nhiệm Thập giá Chúa Kitô

20. Ngày Thứ Bảy Thánh, khi Chúa Giêsu được an táng trong mồ, Giáo Hội dừng trước mộ Chúa để suy niệm cuộc thương khó và sự chết của Người trong an bình và chờ đợi Chúa Phục sinh.

21. Mùa Phục sinh kéo dài 50 ngày bắt đầu từ Chúa Nhật Phục Sinh đến hết lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống

22. Trong cử hành phụng vụ Tuần Bát nhật Phục Sinh, các trình thuật về việc Chúa sống lại theo TM Gioan giữ một vị trí đặc biệt, và đến ngày thứ tám, luôn luôn đọc Ga 20, 19-31.

23. Mặc dù Lễ Thăng Thiên và lễ Hiện Xuống được mừng hai ngày riêng biệt nhưng liên hệ mật thiết với nhau, để nhấn mạnh sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh.

24. Phục sinh là một Tin Mừng, là một sự thật mà chúng ta phải làm chứng, mà sự thật là Thiên Chúa đã yêu thương thế gian (Ga 3,16); sự thật là Thiên Chúa đã giải phóng chúng ta, Ngài tái tạo tất cả trong Đức Kitô, để trở thành tạo thành mới và Thần Khí được đổ tràn đầy trên chúng ta.

25. Vì Mùa Vọng-Giáng Sinh; Chay và Phục sinh chỉ kéo dài trong một thời gian nhất định, nên trong năm phụng vụ còn khoảng ba mươi ba hoặc ba mươi tư tuần lễ nữa, thời gian này được gọi là Mùa Thường Niên

26. Giai đoạn I Mùa Thường Niên tiếp ngay sau mùa Giáng Sinh, bắt đầu từ thứ hai kế tiếp Chúa Nhật sau ngày 6 tháng giêng, và kéo dài đến hết thứ ba trước trước Mùa Chay.

27. Trong giai đoạn II của Mùa Thường niên có một số lễ trọng về Chúa trùng vào các ngày Chúa nhật, nên vào những Chúa nhật Thường niên, phải cử hành các lễ trọng về Chúa. Vd. Lễ Chúa Ba Ngôi, Lễ Mình Thánh Chúa, và Chúa nhật cuối cùngmùa Thường niên là lễ Chúa Kitô Vua. Điều này làm nổi bật ý nghĩa về Chúa trong năm Phụng vụ.

28. Trong Mùa Thường Niên, các cử hành Phụng vụ theo nhu cầu có một chỗ đứng khá rộng rãi: Có thể cử hành vào ngày Chúa Nhật các lễ ngoại lịch, hay lễ do nhu cầu tín hữu (Vd: Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Lễ Mân Côi …)

29. Phụng vụ chư thánh là mừng kính Đức Maria và các thánh, những thụ tạo đã sống cuộc đời công chính, thực thi đức ái. Các ngài là những gương sống đức tin cho mọi thế hệ – và bằng nhiều cách khác nhau

30. Người đáng được tôn kính nhất trong hàng ngũ các thánh là Mẹ Maria, Mẹ đã sống niềm tin các tuyệt hảo

31. Vì số ngày của năm phụng vụ giới hạn, nên việc mừng kính các Thánh trong Phụng vụ được sắp xếp theo tầm quan trọng của các ngài đối với Hội Thánh, còn các vị khác được chuyển về mừng kính đặc biệt hơn nơi các địa phương hay dòng tu.

32. Khi tưởng niệm biến cố Vượt Qua của Chúa Kitô, một đàng Giáo Hội xác tín vào giá trị cứu độ, đàng khác, Giáo Hội khám phá và tạ ơn Thiên Chúa vì lịch sử cứu độ đã hoàn tất viên mãn nơi biến cố Vượt Qua. Kỷ niệm này không mang ý nghĩa kỷ niệm thụ động hay nhớ nhung, nhưng là hồi tưởng lại các công trình của Thiên Chúa trong quá khứ, để rồi hiện tại hóa công trình đó trong đời sống đức tin, nhờ sự hiện diện của Chúa Kitô

33. Hội Thánh luôn cử hành Thánh Lễ, khi còn lữ hành trên trần thế để tạ ơn và dâng lời ca ngợi lên Chúa Cha vì mọi ơn Ngài ban qua công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.

34. Cần tham dự Thánh lễ cách ý thức, linh động, hữu hiệu, trọn vẹn, y phục xứng đáng và chuẩn bị tâm hồn để hiệp lễ cách sốt sắng. Tránh việc ngồi ở ngoài, nói chuyện, gây chia trí cho những người xung quanh.

35. Phụng vụ Thánh Thể gồm 3 phần: Chuẩn bị lễ phẩm – Kinh tạ ơn (Kinh nguyện Thánh Thể) và rước lễ

36. Phụng vụ Thánh Thể: Từ lúc dâng lễ vật cho đến hết lễ.

37. Vì cốt lõi của phụng vụ Lời Chúa là bài đọc Kinh Thánh nên không ai được phép thay đổi Lời Chúa bằng bất cứ bài đọc nhân loại nào

38. Bài diễn giảng thường do vị chủ tế đảm nhận, nhưng cũng có thể do một Linh mục đồng tế hay thầy Phó tế đảm trách, nhưng không bao giờ là Giáo dân.

39. Tham dự Thánh lễ là tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể, là cảm nếm trước bàn tiệc Nước Trời. Do đó, mỗi khi tham dự Thánh lễ, chúng ta sẽ rước Thánh Thể để nuôi dưỡng đời sống đức tin. Tuy nhiên vì Thánh Thể là Bí tích rất cao trọng nên phải chuẩn bị tâm hồn xứng đáng, nhất là sạch tội trọng.

40. Kinh Lạy Cha là lời kinh Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ cầu nguyện, đó là kinh chuẩn bị trực tiếp trước khi rước lễ. Khi người tín hữu nài van “xin cho chúng con lương thực hàng ngày” họ không những nài xin lương thực để nuôi sống đời sống vật chất, nhưng trước hết đó còn là lương thực Thánh Thể để nuôi dưỡng đời sống linh hồn.

41. Nghi thức bẻ bánh diễn tả Chúa Giêsu là tấm bánh duy nhất được ban phát bẻ ra cho muôn người, tham dự vào tấm bánh này là tham dự vào sự sống của Ngài, đồng thời cũng tạo nên sự hiệp thông duy nhất của Thân mình Ngài là Giáo Hội. Sự hiệp thông của người tín hữu trong Giáo Hội phát xuất từ việc tham dự vào Thánh Thể Chúa, chứ không phải do sự chọn lựa cá nhân và đồng thuận của mỗi chúng ta.

42. Rước lễ xong, nên dành ít phút thinh lặng để ca ngợi, thờ lạy và tạ ơn vì hồng ân Thánh Thể vừa lãnh nhận.

43. Mầu nhiệm Vượt Qua là nền tảng của ngày Chúa nhật Kitô giáo. Vì thế, Chúa nhật, ngày mừng Chúa Kitô Phục sinh, chính là ngày thứ nhất trong tuần theo lịch Công giáo và được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận.

44. Ngày Chúa nhật chiếm vị trí ưu tiên hơn mọi ngày trong tuần, vì đó là ngày của Chúa, ngày đặc trưng của người Kitô hữu, và là ngày lễ buộc

45. Ngày Chúa Nhật là ngày Chúa Thánh Thần, hồn sống của Hội Thánh cũng được ban cho Hội Thánh

46. Khi không thể tham dự Thánh lễ vì thiếu Linh mục hay vì lý do quan trọng nào khác, Giáo hội khuyên các Tín hữu nên hết sức có thể, tham dự cử hành Phụng vụ Lời Chúa … hoặc dành một thời giờ cần thiết để cầu nguyện cách riêng tư hoặc với gia đình

47. Các Bí tích thì hữu hiệu bởi vì chính Chúa Kitô hành động nơi các bí tích và qua các thừa tác viên. Vd. Khi một người lãnh nhận bí tích Rửa tội thì chính Chúa Giêsu rửa.

48. Tất cả các bí tích đều phải sử dụng dấu bên ngoài trước (nước, dầu, bánh rựơu…) hoặc qua trung gian vị Linh mục. Vì thế, người lãnh nhận cần phải có một đức tin trưởng thành, và có sự chuẩn bị xứng đáng.

49. Tầm quan trọng của Bí tích Thánh Thể và các Bí tích khác so với mọi cử hành khác hệ tại động tác thần linh do Chúa Giêsu thiết lập. Các Bí tích mang ân sủng, nghĩa là giá trị của Bí tích không lệ thuộc vào tư cách của thừa tác viên và người lãnh nhận, nhưng hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.

50. Phép lành dành cho người gồm các cử hành Phụng vụ để chúc lành cho một bậc sống (Vd Khấn Dòng, thánh hiến trinh nữ), hoặc một thừa tác vụ trong Hội Thánh (Vd: Nghi thức trao ban tác vu đọc sách và giúp lễ), hoặc cho con người trong những hoàn cảnh khác nhau (Vd nghi thức chúc lành cho các gia đình, cho bà mẹ sinh con…)

51. Thừa tác viên ban Á bí tích thông thường là những người có chức thánh, tuy nhiên vì tầm quan trọng của một số Á bí tích nên có những á bí tích được dành riêng cho Giám Mục như chúc phong Viện phụ, Khấn Dòng.

52. Giờ Kinh Phụng vụ là một cử hành phụng vụ xuất hiện từ lâu trong đời sống của Giáo Hội.

  BÀI TRẮC NGHIỆM III

Trong các câu sau, câu nào đúng với nội dung Giáo lý bạn đã học trong năm qua? Hãy viết chữ Đ trước câu đúng và S trước câu sai! 

  1. Trong Phụng vụ con người được thánh hóa khi liên kết với Chúa Kitô và cùng Người tôn vinh Chúa Cha.
  2. Trong 7 Bí tích, Bí tích Thánh Thể trở thành trung tâm và quan trọng nhất trong đời sống Phụng vụ của Hội Thánh.
  3. Toàn thể Dân Chúa được cử hành Phụng vụ vì nhờ Bí Tích Rửa Tội, mỗi chúng ta được tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô để cùng Người cử hành Phụng vụ. (Tư tế chung)
  4. Năm Phụng vụ kết thúc vào Thứ Bảy sau Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô Vua.
  5. Năm Phụng vụ gồm hai chu kỳ, mỗi chu kỳ có hai mùa: Chu kỳ Giáng sinh Gồm Mùa Vọng và mùa Giáng sinh. Lễ Giáng sinh là trung tâm của hai mùa này; Chu kỳ Phục sinh gồm Mùa Chay và mùa Phục sinh với Tam nhật Vượt Qua không những là trung tâm của Mùa Chay và Phục sinh mà còn là đỉnh cao của toàn năm Phụng vụ. Thời gian ngoài 2 chu kỳ trên được gọi là mùa Quanh năm hay mùa Thường niên.
  6. Ông Gioan Tiền hô rao giảng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần.”
  7. GIOAN TIỀN HÔ chuẩn bị con đường cho Chúa đến bằng việc sám hối canh tân đời sống: “Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối. Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: “Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham.” …. Cái rìu đã đặt sát gốc cây, bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa.” (Mt 3, 8-11)
  8. Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng mà các tổ phụ, ngôn sứ và muôn dân trông đợi đã làm người để chia sẻ thân phận con người và phục hồi phẩm giá của nhân loại.
  9. Phụng vụ cử hành 3 Thánh Lễ ngày Chúa Giáng sinh. Lễ Ban Ngày giới thiệu cho ta thấy “Một Con Trẻ đã sinh ra”, Ngài là EMMANUEL: Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

10. Đối với hối nhân, phụng vụ Mùa Chay là thời kỳ sám hối, đền tội để lãnh ơn tha thứ và hòa giải với Thiên Chúa.

11. Việc xức tro mở đầu Mùa Chay nhắm đến thái độ nội tâm của con người

12. Thời gian Mùa Chay kéo dài 40 ngày.

13. Vào ngày thứ Tư lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh mọi người ăn chay để biểu lộ tâm tình sám hối và hoán cải nhằm xứng đáng lãnh ơn tha tội.

14. Trong Mùa Chay, ta cần thực hiện việc trở lại bằng chay kiêng, thi hành bác ái và cầu nguyện

15. Tuần Thánh là thời gian thánh thiêng để chúng ta quyết tâm chừa bỏ tội vì tội đã gây nên cái chết của Chúa Kitô. Vì thế, người tín hữu sống tuần lễ sau cùng của Mùa Chay trong tinh thần sám hối sâu đậm hơn, để giao hòa với Chúa và anh chị em.

16. Tam nhật Vượt Qua là đỉnh cao của năm phụng vụ, nó không thuộc mùa phụng vụ nào, nhưng đứng trên mọi mùa Phụng vụ.

17. Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể và chức Linh Mục để lưu truyền hiến tế yêu thương mà chính Người là của lễ muôn đời.

18. Suy tôn & thờ lạy Thánh giá là chóp đỉnh của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nói lên khía cạnh cứu độ của Thánh giá và tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Vua và Con Thiên Chúa.

19. Cử hành Đêm Phục sinh được coi là tâm điểm của Tam Nhật Vượt Qua và quan trọng nhất trong năm Phụng vụ, đó là mẹ của mọi đêm canh thức.

20. Thời gian Mùa Phục sinh được cử hành trong niềm hân hoan phấn khởi, và được coi như là một ngày lễ duy nhất, hơn nữa như một “Đại Chúa Nhật” vì Chúa Kitô đã sống lại khải hoàn, Ngài đã chiến thắng thần chết và đem lại sự sống đời đời cho chúng ta.

21. Hai mốc điểm quan trọng mở đầu và kết thúc mùa Phục sinh là Lễ Phục sinh và Lễ Hiện xuống

22. Với mầu nhiệm Nhập thể, Ngôi Lời Thiên Chúa khởi đầu đi vào trần gian, nhờ Thánh Thần. Ngài trở thành một người như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi để chúng ta chiêm ngưỡng học theo lối sống như Người.

23. Trong năm phụng vụ, các mùa đặc biệt được hình thành chung quanh hai đại lễ Phục sinh và Giáng sinh là hai đại lễ về Chúa. Và khi sắp xếp các mùa phụng vụ đặc biệt chung quanh hai đại lễ này, Giáo Hội muốn chúng ta thấy tất cả năm Phụng vụ quy hướng vào mầu nhiệm Chúa Kitô, như là nền tảng và trung tâm để khám phá ra các mầu nhiệm khác.

24. Chúa Nhật thứ nhất Thường niên là Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, và Tuần lễ tiếp sau lễ này được gọi là Tuần I Thường niên, sau Tuần I thì đến Chúa nhật và Tuần II, Tuần III… cứ thế các Tuần nối tiếp nhau cho đến Mùa Chay.

25. Các mùa trong năm Phụng vụ đều quy chiếu về tâm điểm là Đức Kitô.

26. Mùa Thường niên còn được gọi là thời gian của Chúa Thánh Thần: Giáo Hội giúp người tín hữu khám phá tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng được Đức Giêsu xin Cha ban – để hướng dẫn và thánh hóa Hội Thánh. Chính Chúa Thần hướng dẫn chúng ta khám phá và biết thực hiện ý muốn của Thiên Chúa, và nâng đỡ đời sống đức tin của chúng ta.

27. Mùa Phụng vụ và việc mừng kính các Thánh không phải là hai chu kỳ biệt lập, nhưng là đan xen lẫn nhau để việc mừng kính các Thánh mang ý nghĩa đích thực. Nơi mỗi vị thánh biểu lộ khuôn mặt và đời sống của Chúa Kitô cách khác nhau…

28. Việc mừng kính các Thánh xuất phát từ lòng tôn kính các vị tử đạo đầu tiên trong Hội Thánh. Các tín hữu thời sơ khai rất kính trọng các vị tử đạo và coi các ngài là những chứng nhân đức tin.  Họ thường tụ tập nơi phần mộ của các ngài để cầu nguyện, nhất là trong ngày sinh nhật trên trời của các ngài…

29. Lịch phụng vụ sắp các lễ mừng kính theo ba loại: Lễ trọng, lễ kính, lễ nhớ.

30. Trong Thánh Lễ, Chúa Giêsu chính là của lễ, và Chúa Giêsu nhờ bàn tay linh mục, hiến dâng lên Chúa Cha lễ vật cứu độ là Mình Máu Người. Ngay trên bàn thờ một lần nữa diễn ra cách thực sự việc Chúa Giêsu dâng mình cứu chuộc chúng ta gọi là hiện tại hoá lễ  hy sinh độc nhất của Chúa Giêsu

31. Thánh Lễ bắt nguồn từ chính Lời của Đức Giêsu nói với các Tông đồ trong bữa Tiệc ly.

32. Hội Thánh lại luôn cử hành Thánh Lễ, khi còn lữ hành trên trần thế để tưởng niệm hy tế của Chúa Kitô và Hội Thánh, vì khi Hội Thánh cử hành Thánh Thể, cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu trở nên sống động hiện diện giữa cộng đoàn và đem lại ơn cứu độ cho mọi thời đại.

33. Thánh Lễ được chia làm 2 phần chính là Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh thể. Ngoài ra còn nghi thức đầu lễ và nghi thức kết lễ.

34. Nghi thức rước lễ (hiệp lễ) gồm: Kinh lạy Cha – Kinh dọn rước lễ và rước lễ – Lời nguyện hiệp lễ.

35. Thánh lễ gồm hai phần chính: Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Thánh Thể

36. Phụng vụ Lời Chúa không chỉ dẫn đưa con người từng bước đào sâu các chân lý mạc khải về mầu nhiệm cứu chuộc của Thiên Chúa, được loan báo trong Cựu Ước và hoàn tất trong Tân Ước nơi Đức Giêsu Kitô – mà còn dẫn họ đến nguồn sống là Lời Người, giúp cho người tín hữu đón nhận sự hiện diện của Chúa Kitô, để nghe Ngài giáo huấn và để lãnh lấy sự sống do Ngài ban tặng.

37. Kinh Tin Kính được tất cả cộng đoàn cùng đọc hay hát vào các ngày Chúa nhật và lễ trọng, cũng có thể đọc trong những lễ đặc biệt khá trọng thể. Không được phép biến kinh Tin Kính thành bài hát dành riêng cho ca đoàn hay nhóm người nào

38. Không nên lạm dụng rước lễ như một thói quen, máy móc. Trong cùng một ngày, người tín hữu được rước lễ hai lần, chỉ hai lần mà thôi và phải ở trong chính Thánh lễ mà họ tham dự.

39. Sau khi mọi người đọc Kinh Lạy Cha xong, vị chủ tế còn khai triển phần cuối của kinh này bằng cách đọc “Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an…” để nhấn mạnh lòng cậy trông của dân Chúa vào tình thương của Người trong khi chờ đợi ngày Chúa Kitô trở lại trong vinh quang.

40. Trước khi lãnh nhận Mình Thánh, mỗi người kính cẩn cúi mình sâu để tỏ lòng tôn kính và thờ lạy Chúa Kitô hiện diện trong Thánh thể.

41. Điều kiện rước lễ: Sạch tội trọng, giữ chay Thánh thể (tức kiêng ăn uống một giờ trước khi rước lễ, trừ trường hợp đau yếu hay lý do chính đáng khác).

42. Cử hành Thánh lễ là nét đặc trưng riêng của ngày Chúa nhật. Truyền thống siêng năng tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật của các Kitô hữu có rất sớm trong Giáo Hội như ta đọc thấy trong sách Công vụ, bởi vì họ nghĩ rằng khi tham dự Thánh lễ là họ được sống các mầu nhiệm đức tin.

43. Ngày Chúa Nhật là ngày của Chúa Kitô Phục sinh, Ngài sống lại để mang cho nhân loại sự sống mới, đồng thời trao ban Thánh Thần cho Giáo Hội.

44. Việc tham dự Thánh lễ Chúa nhật và các lễ buộc là nền tảng và ấn định toàn bộ cuộc sống người tín hữu, do đó, mọi tín hữu phải tham dự thánh lễ vào những ngày này, trừ khi có lý do quan trọng như đau yếu, chăm sóc trẻ sơ sinh, bị ngăn trở vì một lý do bất khả kháng… hay được Cha sở miễn chuẩn. Ai cố tình vi phạm luật tham dự thánh lễ ngày Chúa nhật và lễ buộc sẽ mắc tội nặng.

45. Khi một Bí tích được cử hành đúng như ý định của Hội Thánh thì quyền năng của Chúa Kitô và của Chúa Thánh Thần hành động trong và qua bí tích đó để ban những ân sủng mà mỗi bí tích nói lên Vd: đối với bí tích Rửa tội: tha tội tổ tông – tái sinh vào đời sống mới

46. Các á bí tích là những dấu chỉ thánh, được Giáo Hội thiết lập phỏng theo các bí tích, để nhờ đó biểu trưng hiệu quả, nhất là những hiệu quả thiêng liêng, và thông ban các hiệu quả đó nhờ lời bầu cử của Giáo Hội.

47. Á Bí tích do Giáo Hội thiết lập, không ban ân sủng như các Bí tích, nhưng nhờ lời chuyển cầu của Giáo Hội để giúp con người lãnh nhận các bí tích và cộng tác với ân sủng.

48. Phép lành trên nơi chốn là các cử hành phụng vụ nhằm nài xin Chúa xuống phúc lành trên các nơi thờ phượng (Vd nhà thờ, nhà nguyện…), nơi làm việc và nơi ở…

49. Giáo Hội cho giáo dân có thể được chủ sự một số á bí tích như chúc lành cho gia đình, làm phép nhà mới… Vì bất cứ ai đã được chịu phép Rửa tội cũng được mời gọi trở thành “một sự chúc lành” (St 12,2) và ban phép lành (Lc 6, 28; Rm 12, 14). Khi cử hành, họ phải dùng công thức riêng dành cho giáo dân, chứ không được dùng công thức dành cho người có chức thánh.

50. Giờ kinh Phụng vụ có mục đích thánh hóa toàn bộ chu kỳ thời gian ngày đêm và các sinh hoạt của đời sống con người.

51. Các giờ Kinh phụng vụ được chia thành 5 thời khắc khác nhau: Kinh Sách, Kinh Sáng, Kinh Trưa, Kinh Chiều, Kinh Tối.

52. Trong kinh Phụng vụ, chính Chúa Kitô hiện diện để thánh hóa và chuyển cầu cho chúng ta. Sự hiện diện của Chúa Kitô là một bảo chứng lời cầu của chúng ta luôn đẹp lòng Cha, và hiệp nhất các Kitô hữu. Chính vì sự hiệp nhất này, mà một người hay nhiều người đọc, họ không đọc với tính cách cá nhân, nhưng với tính cách cộng đoàn, vì tự bản chất giờ kinh phụng vụ thuộc về Giáo Hội.

 BÀI TRẮC NGHIỆM IV

Trong các câu sau, câu nào đúng với nội dung Giáo lý bạn đã học trong năm qua? Hãy viết chữ Đ trước câu đúng và S trước câu sai! 

  1. Phụng vụ gồm những dấu chỉ khả giác (cử chỉ, nghi lễ, lời đọc) mang ý nghĩa đích thực, qua những dấu chỉ này, Thiên Chúa ban ân sủng cho con người
  2. Ngoài 7 Bí tích, Phụng vụ còn bao gồm các cử hành khác như: Á bí tích, an táng. Giờ Kinh Phụng vụ và phép lành Mình Thánh Chúa.
  3. Các vị có chức thánh trong Hội Thánh là những người được tuyển chọn để trở thành chức tư tế thừa tác hầu cử hành phụng vụ nhân danh Chúa Kitô.
  4. Năm Phụng vụ giúp các tín hữu sống trọn vẹn mầu nhiệm Chúa Kitô, từ khi mong đợi Ngài giáng thế cho đến khi Ngài lên trời và sẽ trở lại trong vinh quang.
  5. Mùa Vọng là thời gian trước lễ Giáng Sinh, bắt đầu từ giờ Kinh Chiều I Chúa Nhật cuối tháng 11 và kết thúc trước giờ Kinh Chiều I Lễ Chúa Giáng Sinh. Gồm 4 tuần lễ. (CN IMV,  CN II MV…).
  6. Isaia là vị ngôn sứ loan báo về Đấng Mesia.Tiếng nói của ông được gióng lên suốt Mùa Vọng.
  7. Khi rao giảng: Đấng quyền thế hơn tôi, đến sau tôi, Gioan muốn ám chỉ về Đức Kitô Giêsu.
  8. Để đón Chúa, Gioan tiền hô mời gọi chúng ta sám hối, sửa lại tận gốc rễ lối sống của mình, uốn ngay thẳng đường cong queo, lối nghĩ quanh co, gian manh, không thật thà liêm chính lấp đầy các hố sâu tăm tối vì sống hận thù, ghét ghen, gây bất hòa…thiếu vắng ánh sáng tình yêu, Những hố sâu của việc chúng ta không chu toàn bổn phận trong việc học hành và sống đời Kitô hữu, bạt cho thấp núi đồi do tính ngạo nghễ, ngang ngược, tự kiêu, không biết lắng nghe Lời Chúa qua cha mẹ, thầy cô, các Giáo Lý Viên …
  9. ĐỨC MARIA là Trinh Nữ của Mùa Vọng, Mẹ hoàn toàn tín thác và thuận theo ý Chúa. Mẹ đã cộng tác vào ơn cứu độ nhờ lòng tin và sự vâng phục.

10. Khi mặc lấy bản tính nhân loại, Chúa Giêsu cho chúng ta được tham dự vào sự sống thần linh của Thiên Chúa, được trở thành con Thiên Chúa, và dẫn đưa chúng ta vào đời sống vĩnh cửu (x Ga 1, 9.12.18)

11. Mùa Giáng Sinh: Mùa Giáng Sinh bắt đầu từ Kinh Chiều I của lễ Giáng sinh

12. Đối với tín hữu, Phụng vụ Mùa Chay là thời gian chuyên chăm cầu nguyện, chay tịnh, thi hành bác ái và luyện tập nhân đức.

13. Con số 40 ngày trong Mùa Chay là thời gian 40 năm sống lang thang trong sa mạc của Dân Chúa (Ds 14,33), hoặc thời gian Môsê diện kiến Giavê trên núi Sinai (Xh 24,18), hoặc cuộc hành trình của Elia đến núi Horeb (1V 19,8) , hay theo Mt: Thần Khí dẫn Đức Giêsu vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. Người ăn chay ròng rã 40 đêm ngày (Mt 4,1-2).

14. Trong Mùa Chay, ta cần ý thức về tình trạng tội lỗi của mình và khiêm tốn tin tưởng vào lòng thương xót Chúa

15. Tuần Thánh là thời gian thánh thiêng để chúng ta hân hoan mừng Chúa Kitô phục sinh vì sự phục sinh của Chúa

16. Khi tham dự Tam nhật Vượt Qua, chúng ta sống mầu nhiệm chết và sống lại với Chúa Kitô

17. Thánh lễ Tiệc ly là Thánh Lễ đầu tiên do Chúa Giêsu cử hành và Người đã thực hiện một cách bí tích việc tự hiến thân mình mà Người sẽ thực hiện trong ngày thứ Sáu

18. Việc hôn kính Thánh Giá trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nói lên lòng tin và tình yêu của Giáo Hội và của mỗi chúng ta đối Thánh Giá.

19. Ngày Thứ Bảy Thánh, khi Chúa Giêsu được an táng trong mồ (Ga 19,42), Giáo Hội dừng trước mộ Chúa để cảm nhận tình yêu tới cùng của một Thiên Chúa làm người…

20. Mùa Phục sinh có tầm quan trọng đặc biệt trong cử hành phụng vụ Kitô giáo và lễ Phục Sinh –  ngày lễ đặc trưng của Kitô giáo và là tâm điểm của tất cả cử hành Phụng vụ.

21. Tất cả những ngày trong mùa Phục sinh đều biểu lộ niềm hân hoan của lễ Phục sinh, chẳng hạn như tiếng Alleluia trong các giờ kinh phụng vụ, không giữ chay tịnh trong suốt thời gian này. Mọi tâm tình đều quy hướng về Bí tích Thánh Tẩy, được coi là Bí tích đức tin đặt nền móng cho mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô.

22. Với mầu nhiệm Phục Sinh, Đức Giêsu hoàn tất ơn cứu độ, mở ra cho con người, cho Hội Thánh một con đường mới, dẫn tới Cha. Đức Giêsu là chứng tình yêu và sự trung tín vào TC. – cho những ai tin vào Người”. Câu: “Thiên Chúa cho Người sống lại” trong Tân Ước được hiểu như một cử chỉ yêu thương của Cha đáp lại lòng tin yêu vô điều kiện và cuộc hy tế dâng lên Cha của Đức Giêsu.

23. Năm nào Lễ Hiển Linh trùng vào Chúa Nhật ngày 7 hay 8 tháng Giêng, thì năm đó không có Chúa Nhật I Thường niên, và lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa sẽ được mừng vào thứ hai sau Chúa nhật Hiển Linh, còn tuần lễ sau lễ Hiển linh được gọi là Tuần I thường niên.

24. Nếu Mùa Vọng và Giáng sinh, Mùa Chay và Phục sinh cho ta thấy những nét chính yếu của bức họa về mầu nhiệm Chúa Kitô (Sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong nếp sống một gia đình thanh bạch, nghèo khó, Tử nạn và Phục sinh) thì những Chúa Nhật thường niên, Hội Thánh tôn kính Mầu nhiệm Chúa Kitô trong toàn thể, và khám phá sâu xa hơn từ việc loan báo Đấng Mesia trong Cựu Ước, đến việc Ngài xuất hiện.

25. Trong năm Phụng vụ có hai chu kỳ xen kẽ nhau, đó là chu kỳ mùa và chu kỳ kính thánh (Phụng vụ chư thánh).

26. Lịch sử việc mừng kính Đức Maria cũng như các thánh tiến triển từng bước theo thời gian. Đối với Mẹ Maria, các lễ trọng đều liên quan đến các tín điều: Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (01.01), Mẹ vô nhiễm (08.12), Mẹ lên trời (15.8)

27. Khi không còn các cuộc bách hại, các tín hữu lại khám phá ý nghĩa mới của việc tử đạo qua đời sống tu hành nhiệm nhặt của các ẩn sĩ, lòng bác ái vị tha của các trinh nữ, sự hy sinh của các vị mục tử… đời sống của các ngài cũng mang giá trị như một cuộc tử đạo âm thầm, trường kỳ…

28. Ngày nay khi cử hành Thánh lễ là Giáo Hội thi hành lệnh truyền mà Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ xưa. Vì Chúa muốn nối dài hiến tế thập giá trong thánh lễ, để liên kết chúng ta là chi thể của Người vào hiến tế độc nhất vô song của Người, tính chất hiến tế biểu lộ rõ nhất trong lời truyền phép mà mỗi ngày Linh mục diễn lại trong Thánh Lễ.

29. Hội Thánh luôn cử hành Thánh Lễ, khi còn lữ hành trên trần thế để chuyển cầu cho các tín hữu và toàn thể nhân loại, vì trong Thánh lễ, toàn thể Hội Thánh kết hiệp với Chúa Kitô trong việc hiến dâng và chuyển cầu cho toàn thể nhân loại, người còn sống cũng như kẻ đã qua đời, cũng như cho toàn thể vũ trụ được hưởng ơn phúc của Thánh Lễ.

30. Nghi thức đầu lễ gồm có: Dấu Thánh giá, lời chào và Ca nhập lễ – Lời chào khai mạc – Nghi thức sám hối và kinh “Xin Chúa thương xót” (hay rảy Nước thánh nếu là Chúa Nhật) – Kinh Vinh danh (Lễ trọng, lễ kính, Chúa nhật) – Lời nguyện nhập lễ.

31. Kinh nguyện Thánh thể là trung tâm của cuộc cử hành Thánh Thể

32. Phụng vụ Thánh Thể cho chúng ta tham dự vào Hy tế của Chúa Kitô trên Thập giá, cho chúng ta khám phá sự hiện diện của Người qua Thừa tác viên, với tư cách là vị chủ tọa cộng đoàn, qua dấu chỉ Bánh và Rựơu, qua vị trí trung tâm của bàn thờ, qua sức mạnh của lời Ngài và trong cộng đoàn phụng tự.

33. Dâng lễ vật là những cử chỉ rất ý nghĩa trong những thể kỷ đầu, nói lên lòng biết ơn của con người trước ơn huệ của Chúa, đồng thời cho thấy Thiên Chúa chúc lành cho vật chất và muốn con người đóng góp phần mình trong cử hành hy lễ Thánh Thể. Vì thế rất ý nghĩa khi dân Chúa tiến dâng lễ vật trong những dịp đặc biệt.

34. Nghi thức rước lễ (hiệp lễ) bắt đầu từ kinh Lạy Cha đến hết lời nguyện hiệp lễ. Nghi thức này là phần người tín hữu tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể, họ được mời gọi đến lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa Kitô, để được nuôi dưỡng và đón nhận sự sống đời đời của Ngài.

35. Lời cầu bình an và cử chỉ chúc bình an là dấu chỉ của việc hòa giải, tha thứ và hiệp nhất. Giáo Hội mời gọi chúng ta phải ý thức trước khi tham dự ThánhThể phải vượt qua chính mình để đến với anh em.

36. Khi Linh mục đưa Mình Thánh và nói: “Mình Thánh Chúa Kitô”, người tín hữu đáp “Amen”. Tiếng Amen này là lời tuyên xưng đức tin vào sự hiện diện của Chúa Kitô trong Thánh Thể và kính cẩn rước lấy.

37. Chỉ được phép rước lễ tối đa 2 lần trong một ngày, và phải ở trong thánh lễ, trừ trường hợp nguy tử.

38. Các Kitô hữu tiên khởi luôn ý thức tầm quan trọng của ngày Chúa nhật trong đời sống tôn giáo, đó là ngày của Chúa, ngày của Đức Kitô phục sinh.

39. Ngày Chúa Nhật là ngày đầu tiên của công trình sáng tạo trong bảy ngày, ngày đổi mới vạn vật và canh tân đời sống Kitô hữu

40. Ngày Chúa Nhật là ngày của con người để biểu lộ tình huynh đệ hiệp thông và bác ái, đồng thời là lúc con người nghỉ ngơi sau những ngày làm việc vất vả trong một tuần.

41. Giáo luật quy định: “Vào ngày Chúa nhật hay các ngày lễ buộc khác, tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ, và hơn nữa kiêng làm những công việc hay hoạt động làm ngăn trở việc thờ phượng Thiên Chúa, sự hưởng niềm vui riêng vào ngày của Chúa, hoặc sự nghỉ ngơi cần thiết cho tâm trí và thân xác”

42. Ân sủng của Bí tích là ân sủng của Chúa Thánh Thần, được Chúa Kitô ban riêng cho từng bí tích. Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh hóa, Ngài chữa lành và biến đổi những người lãnh nhận bí tích, làm cho họ nên giống Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, bằng cách kết hợp họ với Chúa Giêsu hơn.

43. Các á bí tích giúp con người chuẩn bị lãnh nhận hiệu quả chính yếu của bí tích và thánh hóa những hoàn cảnh khác biệt trong cuộc sống.

44. Các á bí tích được Giáo Hội thiết lập để thánh hóa một số thừa tác vụ trong Giáo Hội, hoặc một số bật sống, hoặc các hoàn cảnh đa dạng của đời sống Kitô hữu hoặc các vật hữu ích cho con người.

45. Phép lành trên sự vật nhằm phục vụ lợi ích thiêng liêng cũng như vật chất của đời sống con người. (Vd làm phép chuỗi mân côi, ảnh đeo, dụng cụ làm việc…)

46. Á bí tích cần thiết để chuẩn bị chúng ta lãnh nhận Bí tích cho xứng đáng. Việc siêng năng lãnh nhận các á bí tích hoặc kính trong người vật, nơi thánh đã được thánh hiến… nói lên tâm tình và thái độ khiêm tốn của con người trước Thiên Chúa.

47. Giờ Kinh Phụng vụ là lời ca ngợi của Giáo Hội không ngừng dâng lên Thiên Chúa vì các kỳ công Chúa đã thực hiện trong lịch sử loài người- là lời cảm tạ tri ân vì công trình cứu chuộc – là lời cầu xin cho toàn thể nhân loại, là sự giãi bày về thân phận đời người

48. Trong Phụng vụ giờ kinh, kinh sáng và kinh chiều là hai giờ then chốt của kinh nguyện hàng ngày, nên phải coi như giờ kinh chính yếu không được bỏ qua.

49. Trong Phụng vụ giờ kinh, kinh chiều cử hành vào lúc ban chiều khi ngày vừa xế bóng, để tạ ơn vì những gì Chúa đã thương ban, hoặc những việc lành chúng ta đã làm được. Hơn nữa, kinh chiều còn diễn tả tâm tình khẩn nguyện của dân Chúa như hương trầm tỏa bay trước thánh nhan để kính nhớ công trình cứu độ của Đức Giêsu Kitô

50. Trong Phụng vụ giờ kinh, kinh tối là lời kinh thống hối, tạ tội và phó thác trước khi nghỉ đêm, xin Thiên Chúa chúc lành và gìn giữ giấc ngủ bình an.

51. Trong Phụng vụ giờ kinh, kinh sáng khởi đầu một ngày mới, chúng ta dâng lên Thiên Chúa lời ca ngợi tán dương Đức Kitô Mặt Trời công chính ngự đến trần gian xoá tan bóng đêm tội lỗi, chiến thắng tử thần bằng cuộc phục sinh vinh hiển và đó chính là niềm hy vọng của người tín hữu.

52. Trong Phụng vụ giờ kinh, kinh tối diễn tả niền tin của người Kitô hữu vào Chúa Kitô là ánh sáng không bao giờ tắt. Chính Chúa Kitô sẽ xua tan bóng tối sự ác và gìn giữ chúng ta khỏi tay ác thần

 

Comments are closed.