Nhu cầu cần được tôn trọng

0

NHU CẦU CẦN ĐƯỢC TÔN TRỌNG

Một vài cảm nhận  của Sr. Têrêsa Phạm Thị Oanh, đặc trách Đào tạo của Hội Dòngtrong việc đào tạo tu sĩ trẻ hôm nay. 

Ơn gọi và sứ vụ của người tu sĩ là bước theo sát Đức Kitô [1], say mê Đức Kitô và say mê con người [2], tiếp nối sứ mạng loan báo Tin Mừng của Đức Kitô giữa lòng nhân loại qua mọi thời đại. Với mục đích trên, qua sự hướng dẫn của Giáo Hội và Thánh Bộ Tu sĩ  trong Giáo Luật Dòng tu, các văn kiện đời tu, sắc lệch, tông huấn, huấn thị, tất cả các Hội dòng tu nam nữ đều ý thức, đặt trọng tâm vào công việc đào tạo các tu sĩ  của mình. Vì thế, trong tu luật, hiến pháp, chỉ nam, qui chế của mỗi dòng  tu  đều ưu tiên đặt việc đào tạo lên hàng đầu vì đó là vấn đề sống còn, phát triển hay suy tàn của chính mình.

Nói chung, về lý thuyết, chương trình và kế hoạch đào tạo, dòng tu nào qua các công vụ tổng hội cũng đều cập nhật để có những văn bản đào tạo rất lý tưởng về 3 lãnh vực: nhân bản, tâm linh và trí thức cho các tu sĩ của mình. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta đã thực hiện như thế nào để các tu sĩ trẻ của chúng ta có được mức độ trưởng thành: sống an bình hạnh phúc trong cộng đoàn và thích nghi được với môi trường sứ vụ hôm nay? Trong bài viết này xin chia sẻ một vài cảm nhận khi đồng hành với các tu sĩ trẻ (chưa dám gọi là kinh nghiệm, chỉ là cảm thấy và ghi nhận những gì thiết thực). Đó là nhu cầu cần được tôn trọng của con người. Xin được trình bày theo 3 điểm chính sau:

–  Huyền nhiệm con người

–  Thiên Chúa tôn trọng con người

–  Nhu cầu cần được tôn trọng

I. HUYỀN NHIỆM CON NGƯỜI

Vũ trụ tràn đầy bí nhiệm! (Newton) Những kỳ quan trong thiên nhiên với qui luật vận hành của sự sống đang thể hiện quyền năng và tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Nếu chúng ta có được những giây phút thinh lặng để chiêm ngưỡng huyền nhiệm của vũ trụ và con người, chúng ta sẽ cảm thấy mình vừa bé nhỏ lại vừa cao cả, bất lực và quyền năng, tội nhân và thánh nhân. Nói cách khác vừa mang chiều kích giới hạn vừa mang chiều kích vô biên. Nhưng càng cảm nhận được sự giới hạn của mình, con người càng khao khát mở rộng tầm nhìn hơn để suy chiêm, cảm tạ và tôn trọng tác phẩm tuyệt vời của Thiên Chúa nơi bản thân và nơi tha nhân.

1. Chiêm ngưỡng

– Là một tạo vật trong vũ trụ, thể chất con người cũng kỳ diệu không thể diễn tả vì con người là một tiểu vũ trụ được kết hợp bởi các cơ quan: tim, phổi, gan, mật,…có những chức năng tinh vi tuyệt siêu, những nguyên tử nhỏ li ti với những âm, dương điện tử và trung hòa tử đang vận hành quanh trung tâm với tốc độ 297.000 km/s [3]

– Và hơn thế nữa đời sống tâm linh của con người thật bí nhiệm lạ lùng! Khoa tâm lý học, đặc biệt là ngành tâm lý trị liệu, luôn phải đối diện với những bế tắc và có những khám phá mới khi đi sâu vào vùng tâm linh, vô thức mênh mông kỳ diệu của con người. Riêng phương pháp hệ thống trị liệu còn cho thấy những mối tương quan mà mỗi người đang phụ thuộc đều có ảnh hưởng đến nhân cách và bản sắc của người ấy. Mỗi người đều mang trong mình những dấu ấn của gia đình, gia tộc và mạng lưới xã hội trong quá trình sống của mình.

– Đặc biệt, dưới cái nhìn đức tin, con người là hình ảnh của Thiên Chúa, con Thiên Chúa, có sự sống và phẩm chất của Thiên Chúa, được yêu thương và cứu độ một cách thật nhiệm mầu trong Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời nhập thể, chịu khổ nạn và phục sinh. Cũng trong Đức Kitô, ơn gọi thánh hiến được trao tặng cho những ai Người muốn. Nhờ đó, con người, một tạo vật rất nhỏ bé được mời gọi lập giao ước tình yêu với Thiên Chúa, trở nên một với Đức Kitô, để Thần Khí Đức Kitô hành động trong mình và qui tụ tất cả muôn loài hiệp nhất trong Đức Kitô. Tất cả đều là hồng ân và tất cả đều là huyền nhiệm của đức tin, không thể hiểu thấu!

2. Cảm nhận

– Nếu người xưa có câu: “Ngũ thập tri thiên mệnh”, thì đối với tôi khi bước vào tuổi 50, tôi cảm thấy có một cái gì đó quả thực đang thu hút tôi vào vùng trời huyền nhiệm. Ngắm cảnh thiên nhiên mầu xanh với núi đồi trùng điệp chạy dài bên cạnh bờ biển mênh mông, hay nhìn những vì sao lấp lánh trên không trung giữa trời đêm thanh vắng, tôi cảm thấy con người thật quá bé nhỏ trước sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa và tình yêu của Thiên Chúa quá bao la khi mời gọi con người thông hiệp với sự sống của Ngài!

– Trong bổn phận đồng hành với các em Học viện, tôi luôn trải qua từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thiên Chúa đã chọn gọi các em, đã tách các em ra khỏi sinh hoạt tự nhiên của gia đình, cộng đồng,…Tất cả các em đều là những người tình nguyện được thánh hiến cùng với hy lễ thánh thể. Sự hiện diện vui tươi, nhiệt tình của các em cho thấy cây linh đạo của Hội dòng cũng như cây đức tin trong lòng Giáo Hội đang nẩy mầm, vươn chồi tạo nên những ngành mới xanh tươi tràn đầy sinh lực! Rồi khi được lắng nghe hành trình ơn gọi của các em trải qua năm tháng, tôi thực sự cảm thấy ngụp lặn trong mầu nhiệm tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, ngay cả khi phải chứng kiến và cùng các em trải qua những cú sốc trước thách đố của thời đại. Trong tâm tình này, tôi càng cảm thấy bất lực và bất xứng khi đồng hành với các em, tôi càng mở lòng ra và hướng trọn tâm trí  của mình hòa nhịp với bản hòa tấu của muôn tạo vật để cảm tạ và ngợi khen tình yêu của Thiên Chúa. Vì chính Ngài đang điều hành chương trình cứu độ, còn tất cả mọi người đang được ban ân sủng để mở lòng ra với tình yêu của Ngài. Trong tâm tình phó thác tôi luôn cảm thấy bình an và hy vọng ngay giữa những thách đố của cuộc sống hằng ngày.

II. THIÊN CHÚA TÔN TRỌNG CON NGƯỜI

 Thiên Chúa là tình yêu, và Ngài đã thể hiện tình yêu của mình qua việc tôn trọng con người, ban cho con người quyền tự do và phẩm giá là con của Ngài. Trong suốt lịch sử cứu độ, từ nguyên tổ Adam cho đến mỗi người trong xã hội hiện đại, Thiên Chúa đã yêu thương vô điều kiện, tha thứ vô điều kiện và tôn trọng vô điều kiện. Trong Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã phục hồi nhân phẩm cho tất cả mọi người. Người không đến để cứu độ người công chính, nhưng để cứu độ tội nhân, Người đến để phục vụ và nâng mọi người lên chức vụ làm con Thiên Chúa.

1.  Thiên Chúa ban quyền  tự  do cho hai nguyên tổ Adam và Eva

– Khi được Thiên Chúa ban tự do, hai nguyên tổ của chúng ta được ở trong mối tương quan cá vị, thân tình với Thiên Chúa, có quyền chọn lựa tin cậy, yêu mến Thiên Chúa hay không; và có trách nhiệm về tất cả mọi tâm tình, thái độ và hành vi của mình. Kết quả là hai vị đã có quyết định sai lầm khi chọn tôn thờ mình thay cho Thiên Chúa.

– Và trong dòng lịch sử nhân loại, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tôn trọng quyền tự do của từng con người. Ngài lập giao ước với các tổ phụ, tiên tri, và với chúng ta, ban lời hứa yêu thương trung thành với dân Ngài và kiên nhẫn đón nhận  thái độ bất trung của chúng ta.

–  Như vậy, quyền tự do, quả là một ân huệ và thách đố! Nhưng nếu không có tự do sẽ không có tình yêu đích thực. Vì thế, cho dù biết rằng con người có thể dùng quyền tự do để chống lại mình, nhưng Thiên Chúa vẫn tôn trọng quyền tự do của từng người con để chúng ta hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự đáp trả của mình trước tình yêu của Thiên Chúa là Cha.

2. Chúa Giêsu tha thứ vô điều kiện cho Phêrô và Madalena

– Khi nhập thể sống giữa cộng đồng nhân loại, Chúa Giêsu tiếp tục mặc khải tình yêu của Thiên Chúa qua việc tôn trọng quyền tự do của mỗi người. Người tuyển chọn các môn đệ, dậy dỗ họ và toàn dân về Nước Thiên Chúa với sức hấp dẫn lạ lùng. Tuy nhiệt tình theo Chúa Giêsu nhưng trong bản năng giới hạn của mình, đứng trước mầu nhiệm thập giá, các môn đệ không thể hiểu nổi và đã chạy trốn. Riêng đối với Phêrô, ông đã sợ hãi đến nỗi công khai chối bỏ Chúa. Tuy nhiên sau khi sống lại, Chúa Giêsu vẫn không hề trách cứ ông điều gì, Người vẫn tín nhiệm đặt ông làm đá tảng và là mục tử chăn dắt đoàn chiên của Người là Giáo Hội.

– Đối với Madalena cũng thế, Chúa Giêsu đã tha thứ cho chị tất cả vì chị đã yêu nhiều. Ngoài ra, Chúa còn chọn chị làm người đầu tiên loan báo Tin Mừng phục sinh của Chúa. Như vậy, qua kinh nghiệm của thánh Phêrô và Madalena, phải chăng sau khi phạm tội, con người cảm thấy ngạc nhiên hơn trước tình yêu tha thứ vô điều kiện của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng đã hạ mình xuống để nâng loài người sa ngã lên tước vị làm con Thiên Chúa?

3. Thiên Chúa phục hồi phẩm giá cho chị phụ nữ ngoại tình và anh trộm lành

– Một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, bị lôi ra trước đám đông, để chờ những viên đá kết án, khinh chê ném cho đến chết. Trong tủi nhục và tuyệt vọng chị bị mang đến trước Chúa Giêsu. Thật lạ lùng! Chỉ một câu nói của Chúa, tất cả mọi người đều bỏ đi hết, chị được sống lại từ cõi chết. Hơn ai hết Chúa Giêsu hiểu được tâm trạng của Chị, Người không một lời trách cứ, nhưng đã phục hồi nhân phẩm cho chị, đưa chị vào cuộc sống tự do của người con: “Chị hãy về và đừng phạm tội nữa.”

– Được hiện diện trước Chúa Giêsu trong những giây phút cuối cùng trên thập giá sau một đời tội lỗi phi pháp, anh trộm lành đã khiêm tốn nhìn nhận con người thật của mình và mở lòng ra với tình yêu cứu độ của Chúa Giêsu. Thế là, ngay lập tức anh được hứa ban thưởng Nước Trời, được cùng với Chúa Giêsu về nhà Cha.

Qua những dẫn chứng trên chúng ta thấy: tất cả mọi người đều được  Thiên Chúa yêu thương và tôn trọng, và bất cứ ai cảm nhận mình được Thiên Chúa tôn trọng đều nhận ra tình yêu của Thiên Chúa, được ơn biến đổi và được sống trong an bình và hạnh phúc.

III. NHU CẦU CẦN ĐƯỢC TÔN TRỌNG

  Khi nói về quyền con người, Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh đến quyền sống, quyền tự do, quyền được tôn trọng vì tự bản chất tất cả mọi người đều có nhu cầu được tôn trọng, ngay từ khi còn là phôi thai trong lòng mẹ. Và đó là nhân quyền, là phẩm giá của con người. Các nhà tâm lý giáo dục đặc biệt nhấn mạnh đến nhu cầu cần được tôn trọng trong quá trình hình thành nhân cách cũng như trong khi trị liệu những nhân cách lệch lạc, vì con người chỉ được an bình và hạnh phúc, lành mạnh và phát triển khi được tôn trọng. Trái lại, khi không được đáp ứng nhu cầu được tôn trọng, nhân cách sẽ khủng hoảng, tự vệ, đối kháng, phân rã dẫn đến tâm bệnh. Do đó, đối với việc đào tạo trong Dòng, để các tu sĩ có được an bình nội tâm, an bình trong cộng đoàn và có thể là chứng nhân của niềm hy vọng thì nhu cầu “được tôn trọng” cần được lưu tâm một cách đặc biệt. Vì theo thần học thánh kinh, mỗi người cần được tôn trọng như là con Thiên Chúa, hình ảnh của Thiên Chúa; nhất là đối với những người nghèo hèn, tù tội, những người có vấn đề…, chúng ta cần phải tôn trọng như chính Chúa Giêsu ẩn mình, như thánh thể của Chúa.[4]  Với những ý nghĩa trên, xin được trình bày theo 3 ý sau đây:

–    Tôn trọng sự khác biệt cá nhân

–   Tôn trọng “thân chủ” vô điều kiện

–  Thể hiện sự tôn trọng  

1. Tôn trọng sự khác biệt cá nhân

–  Nhà phân tâm học Minuchin cho rằng: một người cùng một lúc thuộc về một tập thể nào đó, đồng thời họ cũng muốn giữ những nét cá biệt. Như vậy nơi con người có hai nhu cầu: vừa muốn thuộc về tập thể nhưng lại vừa muốn khẳng định bản thân. Ông Bernard Fourer, bác sĩ tâm lý, hệ thống trị liệu người Bỉ, đã đưa ra nhận định rằng: sức khoẻ là sự hài hòa giữa hai cực nội tâm và ngoại giới, cá nhân và tập thể. Do đó, bệnh lý là sự phình to, cường điệu của cực này và đè cực kia xuống.

– Qua ý kiến của các nhà tâm lý, chúng ta thấy rõ hơn nhu cầu cần tôn trọng sự khác biệt cá nhân trong đời sống cộng đoàn vì mỗi người mang trong mình nếp sống  văn hóa riêng của gia đình. Đó là quá trình cá nhân hóa được hội nhập vào tập thể cũng như một đứa trẻ có một biểu hiện về sự khẳng định bản thân , nếu phản ứng của cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình không chối bỏ, cắt đứt nhưng giúp thích ứng hài hòa, điều đó sẽ giúp đứa trẻ hội nhập và phát triển nhân cách lành mạnh. Theo các nhà tâm lý hệ thống thì trong một gia đình, hay một tập thể khi một cá nhân biểu lộ sự khác biệt thì các thành viên khác thường lo âu, phản ứng và thể hiện nhiều hình thức  cảnh giác cá nhân đó để tìm sự đồng thuận. Ví dụ như  khi có một ý kiến mới được đưa vào cộng đoàn, thì người khác thường nghĩ rằng: như thế là những cái cũ sai nên dễ phản ứng: lờ đi, phủ nhận hay chống đối ý kiến mới. Trong trường hợp này nếu được lắng nghe, giải thích, định hướng thì vấn đề sẽ tốt hơn là tự vệ. Theo Đức Gioan Phaolô II, nếu cộng đoàn được xây dựng như là một cộng đồng những ngôi vị [5], trong đó sự khác biệt được tôn trọng, cộng đoàn đó sẽ phong phú và phát triển rất mạnh. Trái lại, nếu nhu cầu khẳng định bản thân quá cao hay nhu cầu thuộc về cộng đoàn lấn át tất cả thì sẽ có những thành viên trong cộng đoàn bị bệnh thể lý và tâm lý. 

2. Tôn trọng “thân chủ” vô điều kiện

–  Nhà tâm lý trị liệu Carl Roger đã dùng danh từ “thân chủ” khi nói về những người đang có vấn đề cần được sự giúp đỡ vì ông đã đưa ra liệu pháp tâm lý: “thân chủ trọng tâm” đề nghị nhà trị liệu và tất cả những ai muốn giúp đối tượng nào đó có cuộc sống tốt hơn cần phải tôn trọng họ vô điều kiện. Đây cũng chính là đức tính hàng đầu của một nhân viên xã hội khi làm công tác xã hội với cá nhân. 

– Như vậy, Carl Roger đã cho thấy con người chỉ có thể lành mạnh hay phục thiện, khi được tôn trọng vô điều kiện. Phải chăng, nguyên tắc này các nhà tâm lý trị liệu đã học được nơi Đức Kitô, hay đã lắng nghe được tiếng nói của Thánh Thần từ đáy sâu trong nội tâm mình. Vì huyền nhiệm về một con người nào ai hiểu thấu, chúng ta chỉ có thể biết về nhau qua một vài sự kiện xẩy ra trong cuộc sống, còn tất cả những yếu tố, hoàn cảnh dẫn đến vấn đề đó như thế nào và bắt nguồn từ khi nào chúng ta biết rất ít.  Do đó, chúng ta cần tôn trọng khi cho rằng mọi người đều có lý do khi họ có những lời nói, thái độ, cách ứng xử có thể là tiêu cực và sẵn sàng lắng nghe họ.

– Tôn trọng một người vô điều kiện nghĩa là tôn trọng họ như họ đang là, tôn trọng họ khi phát hiện nơi họ chỉ một tia sáng, một chút sự sống. Chính sự tôn trọng khơi dạy sức mạnh nơi bản thân họ và đánh thức quan niệm của cả một hệ thống về họ. Điều này sẽ giúp thân chủ tìm được ý nghĩ của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai đối với hệ thống đó. Trong hướng nhìn này, nhiều nhà tâm lý xã hội khi đọc Tin Mừng đã phong Chúa Giêsu làm tôn sư tối cao của ngành mình. Đây cũng là điểm chúng ta cần nhìn lại khi đối xử với những thành viên được xem là có vấn đề trong cộng đoàn.

3. Thể hiện sự tôn trọng

–  Trong truyền thông chúng ta thể hiện sự tôn trọng nhau một cách cụ thể qua đối thoại, cởi mở, lắng nghe, thấu cảm, tha thứ và phuc vụ. Tất cả những yếu tố này cùng xây dựng mối tương quan trung thực và tôn trọng nhau, giúp nhau chấp nhận con người thực của mình để được chữa lành, đổi mới và phát triển vươn tới nhân cách của mình là con Thiên Chúa trong chi thể mầu nhiệm của Đức Kitô.

– Trong đời sống cộng đoàn, các tu sĩ trẻ của chúng ta chỉ có thể cởi mở khi được lắng nghe, và ngược lại chúng ta chỉ có thể được lắng nghe khi chúng ta đối thoại trong thái độ và lời nói tôn trọng các em. Nếu trong lắng nghe, chúng ta quan sát và đọc ra được những tín hiệu không lời, những chức năng của triệu chứng, hay đặt mình trong hoàn cảnh của các em, chúng ta sẽ có thể thấu cảm với các em, dễ dàng tha  thứ cho các em và phục vụ các em trong thái độ tôn trọng thực sự.  Vì khi càng hiểu nhau chúng ta càng dễ dàng tha thứ cho nhau.

– Bà Harriet Goldor Lerner, trong tác phẩm “Vũ Khúc Của Cơn Giận” đã cho chúng ta một nghệ thuật tôn trọng nhau ngay giữa những khó chịu, mâu thuẫn do những khác biệt gây ra. Theo bà, cơn giận không mang tính cách riêng tư nhưng ở trong một hệ thống, một mối tương giao với người khác, đặc biệt là quan hệ thân thiết như gia đình. Cơn giận cũng không hoàn toàn là một thái độ tiêu cực nhưng cơn giận là một tín hiệu, một thông điệp cho biết cần phải thay đổi cái gì đó trong mối tương giao. Vì thế, sau khi chúng ta đã thận trọng lắng nghe cơn giận của mình, chúng ta sẽ biết thay đổi bước nhảy của mình trong cách ứng xử, không để lập lại điệu vũ trách móc vô hiệu quả như cũ nữa. Bà Harriet đề nghị: trước một mâu thuẫn giữa hai người, làm thinh bất mãn hay nổi giận trách móc đều là hai thái độ lệch chuẩn: thái quá, bất cập. Quy luật chung để vệ sinh tinh thần là phải bộc lộ, nhưng phải học cách truyền đạt suy nghĩ của mình, biết chuyển cơn giận thành lời phát biểu rõ ràng về chính mình một cách quyết tâm nhưng dịu hòa, chỉ nói lên tình cảm của mình và dừng lại ở đó, tuyệt đối không đánh giá, chỉ trích, phê bình về cá tính hay ý định của người kia.

KẾT LUẬN

Làm sao để các tu sĩ trẻ của chúng ta có được mức độ trưởng thành: sống an bình hạnh phúc trong cộng đoàn và thích nghi được với môi trường sứ vụ hôm nay? Giáo Hội luôn mời gọi chúng ta trở về với Thánh Kinh và xuất phát lại từ Đức Kitô để học với Chúa nghệ thuật yêu thương và tôn trọng con người. Càng biết khiêm tốn, thinh lặng chiêm ngắm huyền nhiệm con người, huyền nhiệm ơn gọi, chúng ta càng say mê Chúa Giêsu và học nơi Chúa tâm tình say mê loan báo về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa cho con người. Nơi Đức Kitô, chúng ta nhận thấy rằng: yêu thương là tôn trọng và chính trong thái độ tôn trọng những khác biệt, tôn trọng vô điều kiện đối với mỗi người, Chúa Giêsu đã cho chúng ta cảm được thế nào là tình yêu, một tình yêu đem lại cho chúng ta sự bình an, niềm vui và niềm hy vọng, ngay giữa những hoàn cảnh bi đát nhất của cuộc sống. Với tâm tình đó, tôi cảm thấy rất hạnh phúc được ở trong một cộng đoàn với các tu sĩ trẻ. Hằng ngày tôi luôn ý thức dâng lên Thiên Chúa lời kinh Magnificat, cảm tạ ơn Chúa đã ban cho tôi những người bạn đồng hành đức tin vui tươi, năng động và đầy nhiệt huyết sáng tạo.

Hy vọng rằng qua những trải nghiệm được tôn trọng trong thời gian thụ huấn, các tu sĩ trẻ của chúng ta sẽ có được thái độ tôn trọng những người nghèo nhất trong những người nghèo và nhìn ra gương mặt của Chúa Giêsu trong sự khốn cùng của họ. Tuy nhiên nhu cầu được tôn trọng không chỉ cần cho các thụ huấn sinh, tất cả mọi người đều muốn hình ảnh của Thiên Chúa ở nơi mình được tôn trọng. Vì thế, các tu sĩ trẻ cũng cần lưu ý đến thái độ đối thoại, cởi mở, lắng nghe, thấu cảm, tha thứ và phục vụ của mình trong cộng đoàn đối với bậc cha mẹ, anh chị lớn tuổi, nhất là những thành viên trong nhà An dưỡng. Vì theo bà Harriet, trong vũ điệu của tình yêu, khi muốn người khác thay đổi, chúng ta hãy thay đổi bước nhảy của mình trước. Tất cả đều cần khởi đi từ tình yêu Đức Kitô, và sống như Đức Kitô: trở nên tấm bánh bẻ ra cho mọi người đang cần ơn cứu độ.

Sr. Têrêsa Phạm Thị Oanh, OP


[1] PC2a

[2] GP II, Sđiệp gửi Đại Hội Dòng Tu Thế Giới, tại Rôma, từ ngày 23-27.11.2004, số 4

[3] F.Lelotte Sj, Giải quyết vấn đề nhân sinh, tr.48

[4]x. Mt 25, 31-46

[5] x.Đức Gioan Phaolô II, Tông thư gia đình ,1994

Comments are closed.