Thiên Chúa trò chuyện với con người trong lịch sử trần thế

0

THIÊN CHÚA TRÒ CHUYỆN VỚI CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRẦN THẾ

CHỨNG TỪ CỦA THÁNH KINH CỰU ƯỚC

Cuộc gặp gỡ và đối thoại của Thiên Chúa dành cho con người luôn luôn gắn liền với các sự kiện lịch sử, được diễn ra trong thế giới và tuân theo “định luật nhập thể”. Thế nhưng, khẳng định này không phải là một chân lý hiển nhiên được nhận biết dễ dàng, ít là trước công đồng Vaticanô II, người ta không nhấn mạnh đến kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa và việc thực hiện chương trình đó trong lịch sử. Nhưng ngày nay, chỉ cần đọc lại các dữ liệu Kinh Thánh Cựu ước, trải qua các giai đoạn quan trọng trong lịch sử dân Israel, chúng ta sẽ nhận thấy trong bài này: cách thế Thiên Chúa ngỏ lời với con người trong các sự kiện lịch sử; mối tương quan giữa các sự kiệnlời nói, nghĩa là Lời Thiên Chúa xảy ra cùng một lúc, hoặc đi kèm hay theo sau các sự kiện; và Thiên Chúa cũng có thể hẹn hò với dân của Ngài trong những biến cố hay hoàn cảnh thường nhật của kiếp nhân sinh.

I. Nhìn chung về cách thế Thiên Chúa nói trong lịch sử

Lưu ý tới những cách thức hơn là nội dung của lời Thiên Chúa được nói với con người, chúng ta sẽ thấy qua các chứng từ trong Sách Thánh, lời Thiên Chúa không thể tách rời các sự kiện.

1. “Thiên Chúa phán” trong lịch sử

Câu nói này rất quen thuộc trong các sách Cựu ước và đặc biệt rõ ràng trong những trang đầu của sách Khởi Nguyên: “Thiên Chúa phán: phải có ánh sáng, tức thì liền có ánh sáng. Thiên Chúa phán: phải có …” (St 1, 3.6.11.14.20.24.26.28 tt). Muôn vật muôn loài bắt đầu hiện hữu bởi vì Thiên Chúa nói. Vũ trụ này hoàn toàn mắc nợ với lời sáng tạo của Chúa Tể trời đất về sự hiện hữu. Sách Thánh cũng nhiều lần khẳng định Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ bằng Lời của Người qua các Thánh Vịnh và các sách Khôn Ngoan: “Chúa dùng Lời Chúa mà tác thành vạn vật” (Kn 9, 1-2); “một Lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú” (Tv 33, 6) và kéo dài sang Tân ước: “Lúc khởi đầu đã có Lời, nhờ Lời mà muôn vật được tạo thành” (Ga 1, 1.3).

Trong xã hội loài người, lời nói có vai trò trao đổi, nhưng chưa phải là “sáng tạo”. Nhưng Lời Thiên Chúa là lời sáng tạo: trước khi Ngài nói, thế giới chỉ là hỗn mang, vừa khi Người phán một lời, thì muôn loài được dựng nên trong trật tự. Lời nói của Chúa rất hữu hiệu (x. Is 55,10-11), sống động và sắc bén hơn gươm hai lưỡi (x. Dt 4,12).

Tiếp theo, bước vào những giai đoạn khởi đầu và quan trọng của lịch sử Dân Thánh, Thiên Chúa đã nói trước hết với Abraham (St 12,1-3), rồi với Môsê (Xh 3) với Israel khi họ cùng cam kết với Giavê Thiên Chúa trong giao ước Sinai (Xh 19,3-8). Không chỉ có các tổ phụ và những nhân vật nổi bật trong lịch sử Israel, mỗi đời sống và sứ vụ của con người trong Dân Chúa cũng được Ngài mời gọi và phán dạy, mà Sách Thánh coi đó như những “ơn gọi”. Chúng ta chỉ cần nhắc lại một vài trường hợp trong sách các ngôn sứ thì cũng đủ gợi lên ơn gọi và sứ vụ của những con người này:

– Ngôn sứ Isaia: Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi thưa: “Dạ con đây, xin sai con đi”. Chúa phán: “Hãy đi nói với dân này rằng…” (Is 6,8-9)

– Ngôn sứ Amốt: Sư tử đã gầm lên: ai mà không sợ hãi? Đức Chúa là Chúa Thượng đã phán: ai chẳng nói tiên tri?(Am 3,8)

– Ngôn sứ Giêrêmia: Có lời Đức Chúa phán với tôi rằng: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi, Ta đặt ngươi là ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1,4-5).

– Ngôn sứ Isaia đệ nhị: Có tiếng nói: “Hãy hô lên!” Tôi thưa: “Phải hô lên điều gì?” “Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa tàn khi hơi thở Thiên Chúa thổi qua. Phải, dân là cỏ: cỏ héo, hoa tàn, nhưng lời của Thiên Chúa chúng ta đời đời bền vững” (Is 40,6-8).

Như vậy, trong lịch sử của vũ trụ thế giới, của dân Thiên Chúa, của mỗi người, lời của Chúa quyết định sự tồn tại cũng như ý nghĩa và căn nguyên của sự tồn tại đó. Đây chính là kinh nghiệm mà Israel đã sống và coi đó như “kinh tin kính” thường hằng của họ. Điều này cũng được thể hiện qua một số Thánh vịnh 29, 33, 147…

2. Lời Thiên Chúa và sự kiện lịch sử liên hệ mật thiết với nhau

Lời Thiên Chúasự kiện lịch sử không thể tách rời nhau như truyền thống Do Thái đã từng khẳng định. Một đàng, nhờ các “Ngôn sứ” (Lời của Chúa) Đức Chúa báo trước và quyết định các sự kiện, và một khi các sự kiện này được ghi chép trong sử ký nhân loại, thì lời ngôn sứ vẫn còn cống hiến cho những trang biên niên đó ý nghĩa sâu sa và sứ điệp của Thiên Chúa. Đàng khác, các sự kiện là nội dung của Lời Chúa, rất thường khi kích thích sự ngạc nhiên và cật vấn con người, để ta mở lòng ra mà tìm kiếm và lắng nghe lời của Chúa.

Trong sứ điệp gửi cho những kẻ bị lưu đày ở Babilon, ngôn sứ Isaia II, giống như các “thần học gia” của Cựu ước, nhấn mạnh đến sự liên kết giữa các biến cố và lời Thiên Chúa (Is 41,21-29; 43,8-13; 44,6-8; 45,20-25; 46,8-13; 48,1-19; 55,6-11). Ta đọc thử đoạn này:

Đức Chúa phán: Hãy trình bày vụ kiện của các ngươi!

Đức Chúa nhà Giacóp truyền: Hãy đưa ra luận chứng!

Chúng cứ đưa ra và báo cho chúng tôi rõ những gì sẽ xảy đến!

Đã có những điềm nào báo trước,

cứ nói đi rồi chúng tôi sẽ quan tâm, và biết rõ hậu vận thế nào;

hay là cứ để cho chúng tôi nghe những gì sẽ xảy đến (Is 41,21-22) 

II. Thiên Chúa nói trong kinh nghiệm thời Cựu ước

Các sách Cựu ước có thể được coi như tài liệu cho thấy Thiên Chúa tự mạc khải cho con người trong suốt dòng lịch sử 20 thế kỷ: từ thời tổ phụ Apraham cho đến biến cố Xuất hành, từ thời kỳ quân chủ đến cuộc lưu đày tại Babilon, và cuối cùng từ kinh nghiệm của Do Thái giáo đến ngưỡng cửa của Tân ước. Chúng ta sẽ thấy những sự kiện có ý nghĩa và cô đọng nhất, trong đó Thiên Chúa vén lên chiếc màn mầu nhiệm về bản thân và kế hoạch cứu độ của Ngài. Song song đó, Ngài cũng dùng những lời ngôn sứ để công bố và bày tỏ chính mình chung quanh các biến cố này.

1. Kinh nghiệm của các tổ phụ

a) Các sự kiện nằm ở ngay nguồn gốc của Dân Thiên Chúa được gắn liền với ba thế hệ của các tổ phụ người Aram: đó là Ápraham, Isaác và Giacóp. Trong khoảng 1 thế kỷ (tức là vào thế kỷ XIX tr. CN) các chi tộc này đã bắt đầu đi vào lịch sử nhân loại cách gián tiếp. Dữ liệu về các tổ phụ Aram có những nét căn bản sau đây:

– Họ đã sống trong hoàn cảnh của chế độ du mục và cảm nghiệm cuộc sống theo chiều kích tôn giáo, vì coi đó như tiếng gọi của Thiên Chúa.

– Họ đã trải qua rất nhiều truân chuyên đến nỗi xem như không thể vượt qua được: không có hậu duệ con cái, không được trú ngụ nơi quê cha đất tổ, những thảm kịch của gia đình… Nhưng họ đã giải quyết và khắc phục các nghịch cảnh đó nhân danh đức tin vào Thiên Chúa.

– Họ luôn trông đợi một mảnh đất, một lịch sử từ nơi Thiên Chúa, như ơn ban và dấu chỉ cho thấy Ngài luôn trung thành với những điều Ngài đã hứa. Sự mong chờ này luân chuyển thành một chuỗi những cuộc lên đường, từ thế hệ này tới thế hệ kia.

Cho dù những sự kiện này mãi về sau mới được kể lại trong các trang sách Sáng Thế (12-50), nhưng trải qua nhiều thế kỷ, các thế hệ con cháu của các tổ phụ đã luôn tưởng niệm, giải thích và sống ý nghĩa của các biến cố đó.

b) Lời ngôn sứ. Trong thời kỳ này chúng ta chỉ biết một phần ý nghĩa của lời Thiên Chúa nói với cha ông được trở nên sống động.

– Lời ngôn sứ, hiểu theo nghĩa rộng, có thể được coi là các đền đài của các tổ phụ, như Sikem, Bersabe, Betel, Mamrê và Hebron. Nơi đó nhắc nhớ những kinh nghiệm của các vị sáng lập dân Israel.

– Lời ngôn sứ, dưới công thức tuyên xưng đức tin, cũng là những bản văn phụng vụ mang chất giọng rất cổ điển của Israel. Chúng ta đọc lại phần thứ nhất của bản tuyên tín (credo) nhắm đến mạc khải của Thiên Chúa dành cho các tổ phụ:

“Ông tổ tôi là người Aram phiêu bạt, đã xuống Ai Cập và trú ngụ tại đó cùng với một số người ít ỏi; tại đó người đã trở thành một dân tộc lớn, mạnh và đông” (Đnl 26,5)

“Ðức Chúa, Thiên Chúa của Ísrael, phán thế này: “Thuở xưa, khi còn ở bên kia Sông Cả, cha ông các ngươi, cho đến Têrác là cha của Ápraham và của Nakho, đã phụng thờ các thần khác. Ta đã đem cha các ngươi là Ápraham từ bên kia Sông Cả mà dẫn đi khắp đất Canaan. Ta đã cho dòng dõi nó nên đông đúc và ban Isaác cho nó. Ta đã ban Gia-cóp và Êsau cho Isaác. Ta cho Êsau chiếm hữu núi Xêia. Còn Giacóp và các con thì xuống Ai Cập” (Gs 24,2-4).

Những biến cố của các tổ phụ và những lời giải thích cổ điển nhất sẽ là những chương đầu tiên nói về Thiên Chúa mạc khải trong lịch sử nhân loại, và sau này sẽ được lấy lại và viết ra thành văn bản, để hình thành nên sách Sáng Thế.

2. Kinh nghiệm Xuất hành

a) Các sự kiện. Giây phút thứ hai trong lịch sử dân Thiên Chúa chất chứa nhiều sứ điệp và mạc khải khởi đi từ Thiên Chúa, đó là biến cố xuất hành khỏi Ai Cập. Bối cảnh lịch sử và văn hóa của các sự kiện này là Ai Cập. Các biến cố này kéo dài khoảng nửa thế kỷ, từ năm 1250 đến năm 1200 tr. CN. Sau đây là một vài dữ liệu chính:

– Hoàn cảnh nô lệ và bị áp bức tại Ai Cập. Các bộ lạc của các tổ phụ bành trướng nhanh chóng và bị người Ai Cập coi là dân ngoại bang đầy nguy hiểm.

– Một loạt những tai ương đổ xuống trên đất Ai Cập. Ông Môsê coi chúng như những “roi đòn” của Thiên Chúa Israel giáng xuống trên họ.

– Biến cố kỳ công nhất và bất ngờ nhất trong tất cả các biến cố: dân Israel chạy trốn đến nỗi vượt qua Biển Đỏ và quân Ai Cập đuổi theo Israel nên đã bị ngậm chìm trong biển.

– Kết giao ước với Giavê trong sa mạc và trên núi Sinai. Bấy giờ Ngài trở thành Thiên Chúa của Israel.

b) Lời ngôn sứ. Song song với các biến cố của Xuất hành, ta không thể không nhấn mạnh tới vai trò trung tâm của Môsê như phát ngôn viên của Thiên Chúa, ngôn sứ của Thiên Chúa, Người đã “nói” về chính mình qua một loạt các sự kiện dày đặc. Chính truyền thống Do Thái sẽ luôn nhớ tới hình ảnh của ông, độc nhất và kiên quyết, để hiểu được Lời mà Thiên Chúa muốn ngỏ với dân của Ngài lúc bấy giờ (x. Xh 4,10-17; 20,18-21; Đnl 5,23-31; 18,15-18; 34,10-12; Hc 45,1-5).

Lời ngôn sứ trong giai đoạn này là những vang vọng của lời Thiên Chúa nói qua biến cố Xuất hành. Ta cần nhắc tới một vài nhóm cổ điển nhất:

– Phần thứ hai của công thức tuyên xưng đức tin (credo) mà chúng ta đã nhắc tới khi nói về các tổ phụ, giải thích biến cố Xuất hành:

“Bấy giờ chúng tôi đã kêu lên cùng Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông chúng tôi; Người đã nghe tiếng chúng tôi, đã thấy cảnh khổ cực, lầm than, áp bức chúng tôi phải chịu; Đức Chúa đã giang cánh tay mạnh mẽ uy quyền, đã gây kinh hồn táng đởm và thực hiện những dấu lạ điềm thiêng, để đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập. Người đã đưa chúng tôi vào đây, ban cho chúng tôi đất này, đất tràn trề sữa và mật” (Đnl 26, 7-9; x. Gs 24,5-7).

– Lối diễn tả của “Thập Ngôn” (và các bản văn khác) trong đó Giavê tự giới thiệu mình và hầu như đưa ra ý nghĩa nguyên thủy của danh thánh mầu nhiệm của Ngài như Đấng mạc khải, giải phóng và cứu độ: “Ta là Giavê Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ” (Xh 20,2; Đnl 5,6…)

– Những “lời ngôn sứ” khác xem ra thuộc về một thời kỳ trước khi các biến cố Xuất hành được viết ra. Ví dụ: Xh 19,3-6 (công thức phụng vụ canh tân giao ước); Ds 23,22; 24,8 (trong lời sấm của Balaam); Đnl 6,20-24 (nghi thức mừng lễ Vượt Qua trong gia đình).

– Trong số những giải thích cổ điển nhất về biến cố vượt Biển Đỏ, củng nên kể đến câu mở đầu của bài thánh thi Xh 15,1-8: “Tôi xin hát mừng Chúa / Ðấng cao cả uy hùng / Kỵ binh cùng chiến mã, / Người xô xuống đại dương”.

Như vậy biến cố Xuất hành khỏi Ai Cập, trong ánh sáng của vô số lời ngôn sứ được Thiên Chúa linh hứng, đã nhấn mạnh đến khuôn mặt thứ hai của Thiên Chúa Israel: “Giavê là Đấng giải phóng và cứu độ”. Bây giờ Dân Chúa biết rằng những hoàn cảnh bị áp bức và bị coi thường có thể trở thành những cơ hội để đón nhận đặc ân được gặp gỡ Đức Chúa giải phóng và cứu độ: ta chỉ cần hướng về Người, kêu cầu với Người.

3. Kinh nghiệm thời kỳ quân chủ

Sau ông Môsê là thời kỳ dân Israel chiếm đóng và định cư trên miền đất Canaan. Thời kỳ này kéo dài khoảng 2 thế kỷ mà mãi về sau sẽ được tóm tắt trong sách Thẩm Phán. Tiếp theo đó là thời kỳ của các vua chúa Israel: dân Chúa tổ chức theo mô hình quân chủ, không phải theo những đặc tính riêng của mình, mà theo tập tục của các dân nước lân cận. Trong khoảng 400 năm, từ vua Đavít tới cuộc lưu đày Babilon, nổi bật cấu trúc chính trị và xã hội trong Israel. Điểm nhấn mạnh duy nhất cần làm sáng tỏ về kinh nghiệm quân chủ: đó là cơ hội lớn thứ ba của mạc khải từ phía Thiên Chúa. Ngài tự mạc khải là Vua đích thực của Israel.

a) Các sự kiện. Có rất nhiều sự kiện đánh dấu lịch sử Israel từ thế kỷ XI (khoảng năm 1000 tr. CN) tới thế kỷ VI (lưu đày Babilon năm 587):

– Việc tổ chức xã hội và tôn giáo; thống nhất nhiều chi tộc thành một dân duy nhất; những cuộc phân chia các bộ lạc (nhất là Ephraim và Manasse) từ nhà Giuđa; vương quốc Samaria bị thất thủ (722) và sau đó đến lượt Giêrusalem (587).

– Các sự kiện trong cuộc đời và triều đại của vua Đavít được quan tâm nhiều nhất: những cám dỗ liên tiếp muốn biến Israel trở thành một vương quốc giống như các dân tộc khác đương thời; những lần Thiên Chúa can thiệp để bày tỏ Ngài là Chúa duy nhất, là Vua của Israel và cho thấy “Vương quốc” của Ngài sẽ được thiết lập cách kiên cố và vĩnh viễn trong tương lai. Có một sự kiện và một dữ liệu quan trọng nằm trong lịch sử mạc khải này: từ việc tuyển chọn đến việc chỉ định của Thiên Chúa về vai trò của hậu duệ vua Đa vít (x. 2Sm 7).

b) Lời ngôn sứ. Cũng có rất nhiều lời giải thích mang tính ngôn sứ liên quan đến kinh nghiệm quân chủ, nhưng chỉ có một sứ điệp được lặp đi lặp lại, đó là: Giavê sẽ là vị vua đích thật của Israel. Điều này sẽ còn tiếp tục xác định từ thời vua Đavít cho tới thời kỳ lưu đày Babilon:

– Lời ngôn sứ nguyên thủy có lẽ là lời của Nathan đối với Đavít, khi Thiên Chúa tuyên bố chính Ngài sẽ đưa ra sáng kiến xây dựng một “nhà” cho Đavít, và như vậy khẳng định Thiên Chúa chân thật của Israel là trọng tài của lịch sử, hiện tại và tương lai;

– Mãi về sau, vai trò vương đế trổi vượt của Thiên Chúa sẽ được bảo vệ và rao giảng bởi “đoàn thể ngôn sứ” và “những người của Chúa”, đó là: Êlia, Êlisê, Isaia, Amốt, Mikha…

– Ngôn sứ Isaia được coi là người phát ngôn chính xác nhất và sâu xa nhất về địa vị làm vua của Thiên Chúa. Các sự kiện lịch sử – và con cháu Đavít trên ngai vàng Giêrusalem – đã tạo ra những cơ hội để lặp lại sứ điệp Thiên Chúa là Vua và Chúa của lịch sử: cuốn sách nhỏ về Đấng Emmanuel (Is 7-12); sấm ngôn trên các dân tộc của Người (Is 13-23); ý nghĩa của một trong những can thiệp của Isaia mà chúng ta sẽ tường thuật (Is 29,13-16). Chẳng hạn như:

Chúa Thượng phán: “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm; chúng chỉ kính sợ Ta theo lệnh của người phàm, nhưng đó chỉ là sáo ngữ. Vì thế, Ta sẽ tiếp tục làm cho dân này phải sững sờ kinh ngạc vì bao nhiêu dấu lạ điềm thiêng. Bấy giờ sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan sẽ chuốc lấy thất bại, và trí thông minh của người thông minh sẽ tan thành mây khói” (Is 29,13-14).

Và dường như để giải thích thêm những lời sấm nghiêm khắc này chống lại thói tự phụ của con người mà tách xa Thiên Chúa, Isaia nói thêm:

Khốn thay kẻ nào đào sâu giấu kỹ,

không để cho Ðức Chúa thấy ý định của mình.

Khốn thay ai hành động trong bóng tối

và tự nhủ: “Ai thấy được, ai biết được ta?”

Chuyện các ngươi làm thật là quái gở:

Thợ gốm lại ngang hàng với đất sét sao?

Há sản phẩm lại nói về người sản xuất:

“Hắn đâu làm ra tôi”?

Há bình gốm lại nói về người thợ gốm:

“Hắn chẳng biết điều gì”? (Is 29,15-16)

Như vậy các biến cố thời quân chủ đã thiết lập nơi chốn và hình thức Thiên Chúa tự mạc khải chính mình: Thiên Chúa chủ động làm vua trên lịch sử. Các sự kiện và lời ngôn sứ sẽ phần nào hình thành nên bút tích, tâm linh (Người Tôi tớ của Giavê) và phụng tự (các thánh vịnh tôn vương).

4. Kinh nghiệm thời lưu đày Babilon

Một khúc ngoặt quyết định trong lịch sử và đức tin của Dân Chúa chắc chắn được thiết lập bởi sự thất thủ của Giêrusalem và cuộc lưu đày tha hương của nhiều miền trong vương quốc Giuđa. Thời kỳ lưu đày này kéo dài trong khoảng 50 năm, tính từ khi Giêrusalem bị phá hủy đến sắc chỉ của Kyrô (587-538 tr. CN). Trước đó, biến cố lưu đày đã bắt đầu từ vùng Galilê bị quân Assiri chiếm đóng năm 732 tr. CN; 10 năm sau đó, đến lượt thành thị Samaria chịu đồng số phận, đánh dấu sự kết liễu của một vương quốc: một phần bị bắt làm nô lệ, một phần phải chịu phát lưu.

a) Các sự kiện. Tại Giêrusalem ngôn sứ Isaia đã loan báo về các biến cố: Thiên Chúa sẽ trừng phạt sự kiêu căng của thành Samaria và dân cư của nó (Is 28). Nhưng khoảng một thế kỷ sau khi Samaria bị trừng phạt, ta cũng thấy vương quốc Giuđa và nhà của Đa vít đến hồi kết thúc. Các cuộc tấn công tiếp theo của Nabucôđônôsô thành Babilon sẽ xác nhận những mối sợ hãi của con người, những dự đoán, lời ngôn sứ, đặc biệt lời của người Thiên Chúa: Giêrêmia.

Và sự sụp đổ của Giêrusalem kéo theo sự sụp đổ của các truyền thống kỳ cựu trong lịch sử Israel, mặc dù bấy giờ đã liên hệ mật thiết với đức tin rồi. Đây là những suy sụp: triều đại của vua Đa vít, nền tự do trong “đất hứa”, đền thờ Giêrusalem.

Thời kỳ lưu đày Babilon trở thành thời gian Israel đặt ra các câu hỏi tại sao đối với Thiên Chúa của mình. Một chứng từ có ý nghĩa là sách Ai Ca của Giêrêmia.

b) Lời ngôn sứ vì thế là câu trả lời của Thiên Chúa cho dân Ngài. Những lời này cố gắng trình bày khuôn mặt mới mẻ của Thiên Chúa đến sững sờ và kinh ngạc. Chúng ta có thể tóm tắt vài dữ kiện tái xuất hiện về việc Thiên Chúa tự tỏ mình ra.

– Lưu đày là một biến cố do Thiên Chúa sắp đặt, là cơ hội để thanh tẩy dân Chúa: vì thế chính ý muốn của Ngài đặt để con đường trục xuất và nhập cư tại Babilon. Ví dụ: Gr 24 (thị kiến 2 thúng vả) và Gr 29 (lá thư gửi cho những người lưu vong tại Babilon)

– Sau kinh nghiệm đó, Thiên Chúa lại ràng buộc với số sót của dân Israel bằng những mối tương quan chính thức, vững vàng hơn, đầy thân tình của cuộc hôn ước (mô hình giao ước), của quyền tối thượng tuyệt đối trên lịch sử (mô hình vương đế).

– Điều kiện mới của “sự phân tán” và điều kiện của thiểu số không phải bất thường đến nỗi không thể gặp được Thiên Chúa: thậm chí dân Ngài vẫn có thể tìm thấy sự nâng đỡ của Chúa ngay “giữa dân ngoại” (xem sách TôbiaEster).

Từ các bản văn, người ta sẽ thu thập được các biến cốlời tiên tri trong thời gian lưu đày, mạc khải khuôn mặt của Thiên Chúa cho dân: Ngài là Đấng siêu việt; Đấng khơi gợi cái “tại sao” về bản thân và chương trình của Ngài. Ngài đã tỏ bày chính mình sau khi yêu cầu Israel chịu “thử thách” phần nào, để họ có được thái độ của người nghèo khó và sẵn sàng đón nhận Thiên Chúa.

5. Kinh nghiệm của Do Thái giáo

Thời kỳ này kéo dài hơn 4 thế kỷ, tính từ cuộc hồi hương cho đến ngày Đức Giêsu Kitô xuất hiện, với các sự kiện lịch sử và lời của Chúa.

a) Một số sự kiện lịch sử quan trọng trong thời kỳ này:

– Các biến cố lịch sử gắn liền với sự thống trị của quân ngoại xâm trên đất Israel: Ba Tư, Hy Lạp, La Mã cùng với dấu ngoặc đơn ngắn ngủi của sự tự trị.

– Sự vững chắc của một số hình thức cộng đoàn tôn giáo thiểu số Do Thái, sống ở bên ngoài quê hương xưa kia, như cộng đoàn Alêxandria của Ai Cập và cộng đoàn trong miền Mêsôpôtamia.

– Hơn các thời kỳ trước, thời kỳ này của Do Thái giáo có những cuộc tiếp xúc với văn hóa và lối sống mới, rất khác với những di sản của các tổ phụ và Môsê.

b) Lời của Chúa giải thích những kinh nghiệm này diễn ra trong các địa điểm và hình thức khác nhau. Lời ấy được vang lên trong mỗi ngày sống, có thể là:

–  Các bài đọc sách luật Tôra, những chỉ dụ và giáo huấn của Môsê và các tiên tri trong hội đường.

– Những can thiệp của người Thiên Chúa, các ngôn sứ sau thời lưu đày, như: Khácgai, Dacaria, Gioel, Malakia…

– Suy tư của các bậc “hiền nhân” những con người được nuôi dưỡng bằng Luật Chúa cách thâm sâu. Họ tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống nhân sinh và chương trình của Thiên Chúa ở trong lịch sử, rồi để lại sứ điệp của họ trong “các sách khôn ngoan”.

Nếu cần rút ra một ghi chú chung về các “lời ngôn sứ” của thời kỳ Do Thái giáo, chúng ta có thể chỉ ra ý nghĩa của con người vì ở trong tương quan với Thiên Chúa: mầu nhiệm của loài thụ tạo trong ánh sáng của Đấng là nguồn gốc và cùng đích tối hậu của con người và vạn vật.

III. Tóm kết: “Lời nói đi đôi với việc làm

Sau khi trình bày ngắn gọn những thời khắc trọng đại Thiên Chúa nói với con người trong các biến cố lịch sử thời Cựu ước, ta có thể ghi nhận một số điểm căn bản như sau.

1. Lời nói và việc làm tương tác lẫn nhau

Mạc khải mang tính lịch sử nghĩa là xảy ra bên trong chân trời của kinh nghiệm nhân sinh. Thiên Chúa tỏ mình ra tương ứng với những hoàn cảnh và các sự kiện mà dân Ngài đã sống. Hơn nữa, từ việc mạc khải, chúng ta biết được tại sao đã xảy ra những điều ấy: các biến cố không chỉ là cơ hội để Thiên Chúa “nói” với con người, mà còn do chính lời Thiên Chúa đã gây ra. Các biến cố là lời của Chúa! Trong khi đó lời ngôn sứ nghĩa là lời của con người giải thích các biến cố, cũng thuộc về hành động linh hứng của Thiên Chúa và cũng là lời Thiên Chúa.

Các biến cố lịch sửlời ngôn sứ không phải là hai đường lối khác nhau, nhưng là hai hình thức liên kết mật thiết với nhau mà Thiên Chúa đã dùng để tỏ mình ra và chương trình của Ngài cho chúng ta. Công đồng Vaticanô II đã xác định rõ mối liên hệ đó:

“Nhiệm cục mạc khải này được thực hiện bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau, theo nghĩa là các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu độ biểu lộ và củng cố cả giáo huấn lẫn những thực tại được diễn tả bởi các lời; còn các lời thì công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong đó” (Dei Verbum 2)

Các Sách Thánh được hình thành sau này sẽ là chứng từ của Lời Thiên Chúa, dụng cụ đặc quyền để con người tiếp xúc với ngôn từ của Thiên Chúa. Và một khi được công bố, Lời vẫn tiếp tục nói với con người luôn mãi trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống (x. Is 40,8).

2. Lời Thiên Chúa là hành động

Trong xã hội loài người, lời nói có vai trò trao đổi, nhưng chưa phải là “sáng tạo”. Còn  Lời Thiên Chúa là lời sáng tạo: trước khi Ngài nói, thế giới chỉ là hỗn mang, vừa khi Người phán một lời, thì muôn loài được dựng nên có trật tự. Lời của Chúa rất hữu hiệu (x. Is 55,10-11), sống động và sắc bén hơn gươm hai lưỡi (x. Dt 4,12). Lời của Chúa không chỉ là “tiếng nói” nhưng trở thành hiện thực, nghĩa là diễn ra hành động. Điều này ám chỉ cho toàn thể lịch sử mạc khải: lịch sử này bắt đầu với lời tạo dựng (St 1,2 tt), và sẽ kết thúc khi nào mọi lời Thiên Chúa được hoàn tất (Kh 17,17) trong Đức Kitô, Người “vừa là Đầu vừa là Cuối” (Kh 1,17).

3. Lời Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô

Việc phân tích “lời nói” và “việc làm” là do giới hạn về phía chúng ta, còn về phía Thiên Chúa thì cả hai khía cạnh đều được gói ghém trong thuật ngữ “Lời Thiên Chúa” (Verbum Domini, Dabar Yahweh). Lời Thiên Chúa mang nhiều ý nghĩa và cấp độ trong ngôn ngữ thần học sáng (x. Verbum Domini 7), đồng thời cũng diễn tả sự liên kết không thể tách rời giữa hai hình thức Thiên Chúa tự mạc khải trong lịch sử nhân loại. Lời Thiên Chúa đó đã từng được âm vang trong toàn thể thụ tạo như cuốn sách thiên nhiên, trong lịch sử cứu độ, qua các ngôn sứ, và đạt tới tầm mức viên mãn trong sứ điệp cuối cùng của Thiên Chúa nói với con người là mầu nhiệm Nhập Thể, Chết và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, Ngài vốn là Lời vĩnh cửu, Con Một Chúa Cha, được sinh ra từ trước muôn đời (Ga 1,1). Khi tới thời gian ấn định, Lời hằng hữu đó đã trở nên Lời mặc lấy xác phàm (Ga 1,14) một trẻ thơ Giêsu nhỏ bé nằm lọt trong máng cỏ, được sinh ra bởi Đức trinh nữ Maria. Trong cái chết thập giá, Lời nhập thể trở nên Lời im tiếng, thinh lặng, vì đã “nói” cho đến lúc im tiếng, không giữ lại bất cứ điều gì, để trao ban sự sống cho bạn hữu mình (Ga 15,13). Trong mầu nhiệm cao cả này, Đức Giêsu trở thành Lời của Giao ước mới và vĩnh cửu được đóng ấn trong máu của Ngài (Mt 26,28 và ss). Nhưng sau khi Phục sinh, Ngài trở thành Lời ánh sáng cho trần gian: “Lời Ngài là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119). Giờ đây khi sống với Ngài và nhờ Ngài chúng ta có thể sống trong ánh sáng (x. Verbum Domini 11.12).

Sr. Maria Đinh Thị Sáng, O.P

Tài liệu tham khảo:

Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Dei Verbum, 18-11-1965; ĐGH Bênêđitô XVI, Tông huấn Verbum Domini, 30-9-2010; Antonio Marangon, “Il carattere storico della rivelazione biblica” trong Credere Oggi 2/1981, tr. 17-29.

Comments are closed.