Mến Chúa, yêu người

0

MẾN CHÚA, YÊU NGƯỜI

Chúa Nhật XXXI Thường Niên, Năm B 

Luật Chúa tóm gọn trong 2 điều: “Mến Chúa, yêu người”. Tuy hai điều, bốn chữ (tiếng Việt), nhưng cũng chỉ là một: “Yêu”. Nghe chừng rất đơn giản, và nghe quá quen tai, thế mà sao khó thể hiện quá!

Vâng, “biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”.

Thánh Gioan phân tích: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4:20). Rất thực tế. Yêu thì phải thật, chứ không thể yêu ảo. Thánh nhân tái xác định: “Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4:21). Rất hợp lý, rất lô-gích.

Thật ra Chúa Giêsu đã từng nói đến việc “mến Chúa, yêu người”, nói đúng ra là Ngài đang trách mỗi chúng ta, trách thật: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân” (Mt 15:8-9; Mc 7:6-7). Cũng về ý “mến Chúa, yêu người”, một lần khác Chúa Giêsu xác định: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa! lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7:21).

Những lời nói nghe chừng “nhẹ” mà “nặng” lắm, giản dị mà phức tạp, “xoa” mà “đau” quá! Khi nói đến “luật” thì luôn liên quan “quyền”, nói đến “quyền” thì thường liên quan sự “cạnh tranh”.

Thời Cựu ước, Vua Đariô (người Mê-đi, lên ngôi vua năm 62 tuổi) quyết định đặt trên vương quốc của ông 120 thống đốc để họ cai trị toàn vương quốc dưới quyền 3 tể tướng (tương đương “thủ tướng” ngày nay), trong đó có ông Đanien. Họ phải phúc trình mọi việc cho 3 vị này để nhà vua khỏi bị thiệt hại. Ông Đanien vượt hẳn các tể tướng và thống đốc, nhờ có một thần khí siêu phàm, nên vua có ý định đặt ông đứng đầu cả vương quốc. Do đó, các tể tướng và thống đốc cố tìm cách bắt lỗi ông Đanien về việc triều chính.

Người Việt có câu: “Con gà tức nhau tiếng gáy”. Con gà như thế thì con người cũng vậy, ai “gáy” hay thì người khác thường cảm thấy “xốn” mắt. Chúa Giêsu bị ghét và bị giết chết nhục nhã cũng chỉ vì Ngài là “cái gai” trong mắt người khác. Người ghét không ai xa lạ là chính những người thân thiết nhất của mình: “Ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình” (Mt 13:57; Mc 6:4; Lc 4:24; Ga 4:44). Quá phũ phàng! Đời là thế! Thật vậy, chỉ có người giỏi mới khả dĩ công nhận tài năng của người giỏi.

Ông Đanien “trổi vượt” hơn người khác nên bị ghét, âu cũng là lẽ thường. Trung thần Chu Văn An đã “điểm mặt” 7 nịnh thần nên bị họ triệt tới cùng. Xưa đã vậy, nay cũng thế. Người đời “kèn cựa” nhau đã đành, người theo đạo Chúa cũng chẳng hơn gì! Thậm chí người thời nay còn tinh vi hơn nhiều!

Ghét thì rất ghét, nhưng họ đã không thể tìm được một cớ hay một thiếu sót nào để bắt lỗi, vì ông Đanien vốn là người trung tín; họ đã không tìm được điều gì sơ suất hay thiếu sót nơi ông. Vì thế, những người ấy mới nói với nhau: “Chúng ta sẽ chẳng tìm được một cớ nào để bắt lỗi tên Đanien này đâu, trừ phi tìm lý do tôn giáo để hại y” (Ðnl 6:6). Quá thâm độc!

Con người ngày nay vẫn đang lăn vào “vết xe cũ”, nhưng theo “phong cách” tân kỳ hơn, thế mà vẫn “hãnh diện”. Có lẽ vì thế mà Thiên Chúa soi sáng cho Giáo hội biết phải Tân Phúc Âm hóa, xét lại đức tin của chính bản thân mình trước rồi mới nói tới người khác!

Ông Đanien là hiện thân của những người “ăn ngay ở lành”. Những con người ấy vẫn kiên cường tín thác vào Chúa: “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con” (Tv 18:2). Họ luôn tin yêu và tâm sự với Chúa: “Lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con; lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ” (Tv 18:4).

Trước mặt người đời, họ là kẻ bị lép vế, bị thua thiệt, bị khinh miệt, bị ghen ghét, bị xa tránh, bị trù dập, nhưng họ vẫn âm thầm cầu nguyện và nương tựa vào Chúa. Họ hiên ngang nói: “Chúa cho đôi chân này lanh lẹ tựa chân nai, Ngài đặt tôi đứng vững trên đỉnh núi” (Tv 18:46). Ngay trong gian truân, họ vẫn tuyên tín: “Đức Chúa vạn vạn tuế! Chúc tụng Ngài là núi đá cho tôi trú ẩn. Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi” (Tv 18:47). Đúng như tác giả Thánh vịnh chia sẻ kinh nghiệm: “Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Ngài đã lập. Chúa hằng ưu ái Đấng mà Ngài đã xức dầu tấn phong, là Đa-vít cùng dòng dõi đến muôn đời” (Tv 18:51).

Thánh Phaolô nói: “Trong dòng tộc Lêvi, có nhiều người kế tiếp nhau làm tư tế, bởi vì họ phải chết, không thể giữ mãi chức vụ đó. Còn Đức Giêsu, chính vì Ngài hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Ngài tồn tại mãi mãi. Do đó, Ngài có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Ngài mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Ngài hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7:23-25). Đó chính là vị Thượng Tế mà chúng ta cần đến: “Một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân và được nâng cao vượt các tầng trời” (Dt 7:23-26).

Thư gởi giáo đoàn Do Thái xem chừng không ăn nhập gì, vì nói tới chức tư tế, nói tới thừa tác vụ. Nhưng không, rất “ăn nhập” đấy. Tại sao? Tư tế là những người có trách nhiệm củng cố đức tin cho giáo đoàn. Cây càng cao, gió càng lay. Tất nhiên. Vì thế, Chúa hỏi Phêrô không chỉ 1 lần mà hỏi tới 3 lần: “Anh có mến Thầy hơn các anh em này không?” (Ga 21:15). Đó cũng là câu hỏi hằng ngày Chúa Giêsu vẫn hỏi mỗi người trong chúng ta. Mỗi người có cách trả lời khác nhau, nhưng đó là điều kiện Chúa đòi hỏi từng người phải thực hiện nghiêm túc, nhất là trong Năm Đức Tin này, để chứng tỏ lòng tin của mình.

Rất dễ đọc: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài”, nhưng vấn đề không chỉ là thuộc lòng và đọc như vẹt, mà là thể hiện lời tuyên tín đó một cách sống động bằng hành động cụ thể. Không dễ đâu, tôi ơi!

Thánh Phaolô giải thích: “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Ngài, Ngài đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ. Vì Luật Môsê thì đặt làm thượng tế những con người vốn mỏng giòn yếu đuối, còn lời thề có sau Lề Luật, lại đặt Người Con đã nên thập toàn cho đến muôn đời” (Dt 7:27-28).

Đức Kitô đã hiến tế, chúng ta cũng phải hiến tế. Chúa Giêsu đã hóa thành tấm bánh nuôi sống chúng ta, thì chúng ta cũng phải CẦM LẤY, TẠ ƠN, BẺ RA và TRAO TẶNG chính Tấm-Bánh-Cuộc-Đời-Mình cho người khác, nhất là trao cho những con người bé mọn.

Có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Xa-đốc tranh luận với nhau. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Ngài và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” (Mc 12:28). Đức Giêsu trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ítraen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12:29-31).

Nghe có vẻ “đã tai” nên ông kinh sư nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Ngài ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ” (Mc 12:32-33). Chắc hẳn chúng ta cũng mang tâm trang như ông kinh sư này, cũng thấy rất thú vị và hợp lý, nhưng NGHE và CHẤP NHẬN là một chuyện, còn THỰC HIỆN lại là chuyện khác. “Khoảng cách” đó vừa gần vừa xa.

Thấy ông kinh sư trả lời khôn ngoan như vậy, Đức Giêsu bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” (Mc 12:34). Nói “mến Chúa” quá dễ, nói “yêu người” cũng quá dễ”. Tất cả chỉ là “chuyện nhỏ”. Vấn đề quyết định cuối cùng phải là THỰC HÀNH điều mình nói để chứng tỏ ĐỨC TIN, vì “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2:26). Đó mới là… “chuyện lớn”.

Lạy Thiên Chúa, chúng con cảm tạ Ngài đã ban cho chúng con đức tin vào Ngài qua Đức Kitô, xin giúp chúng con giữ vững và thể hiện đức tin qua từng động thái hằng ngày, bằng cách thật lòng chia sẻ mọi nỗi đau của tha nhân, nhất là những con người nhỏ bé nhất đang ở bên cạnh chúng con mọi nơi, mọi lúc. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Comments are closed.

Mến Chúa yêu người

0

MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI

Suy Niệm Chúa Nhật 31 Thường Niên – Năm B

I. LỜI CHÚA: Mc 12:28-34

Có một người trong các kinh sư đã nghe Đức Giê-su và những người thuộc nhóm Xa-đốc tranh luận với nhau. Thấy Đức Giê-su đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” Đức Giê-su trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” Ông kinh sư nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu và hy lễ.” Đức Giê-su thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: “Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!” Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa.

II. SỐNG LỜI CHÚA

“Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?” Vị kinh sư muốn hỏi Đức Giêsu một điều răn quan trọng nhất nhưng câu trả lời của Đức Giêsu lại nói về hai điều răn: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.” Khi nối kết bổn phận kính mến Chúa và yêu thương người lại với nhau, Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hai giới răn không thể tách rời nhau. Đây là điểm trọng tâm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa nên tất cả những ai tin nhận Thiên Chúa là Cha đều được mời gọi yêu thương mọi người như anh em; vì Thiên Chúa muốn: trong cùng một gia đình mọi người đều được hưởng hạnh phúc của người con. Chúng ta có thể học kinh nghiệm này nơi Đức Giêsu, nơi các thánh và kinh nghiệm sống đức tin của những người tốt lành.

1. Kinh nghiệm của Đức Giêsu

Khi nhập thể giữa lòng trần thế, Đức Giêsu thể hiện tình yêu trọn vẹn đối với Cha. Người vâng theo thánh ý của Cha trong mọi giây phút sống của cuộc đời: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4,34). Và thánh ý của Chúa Cha là muốn mọi người được lãnh nhận ơn cứu độ nên đối với Đức Giêsu, yêu mến Chúa Cha tức là phải yêu anh em. Hay nói cách khác, khi Đức Giêsu nhận gánh lấy tội nhân loại, hy sinh chịu chết trên thập giá, Người đã yêu mến Chúa Cha hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực của Người.
Cả cuộc đời Đức Giêsu là giảng dạy về tình yêu của Cha và thể hiện tình yêu của Cha đối với dân chúng: chữa lành cho tất cả những bệnh nhân đến với Chúa, cho người mù được thấy, kẻ điếc được nghe, người phong hủi được sạch, khử trừ ma quỉ và nuôi sống đám đông đói khát. Đặc biệt, Người yêu thương các tội nhân, những người bị đẩy ra ngoài xã hội. Người đã thẳng thắn tuyên bố: “Con Người đến để đi tìm và cứu những gì đã hư mất”. Tình yêu cứu độ của Chúa thể hiện rõ nhất trong lời cầu nguyện trên thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”, và “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha”

2. Kinh nghiệm của các thánh

Chiêm ngắm Mẹ Maria và đọc tiểu sử của từng vị thánh, chúng ta đều thấy: một khi các vị đã sống đức tin, cảm nhận được thực tại Thiên Chúa hiện diện và yêu thương, được sống trong tương quan thân mật với Thiên Chúa, các ngài sẵn sàng từ bỏ mọi sự, vét rỗng mình đi để mở lòng ra đón nhận ân huệ của Thiên Chúa. Đồng thời, các vị say mê giới thiệu tình yêu Thiên Chúa cho anh em mình, đặc biệt những người nghèo khổ.
–  Đức Maria là hình ảnh nổi bật nhất. Sau khi thưa tiếng “xin vâng”, Mẹ đón nhận Đức Giêsu và ở lại trong Người. Ngay sau đó Mẹ chỗi dậy lên đường đi thăm viếng chị họ đang mang thai trong lúc tuổi già, chia sẻ niềm vui cứu độ và ở lại giúp đỡ, phục vụ chị trong thời gian sinh nở.
– Chúng ta cũng có thể chiêm ngắm đời sống thánh nữ Mônica. Trong cầu nguyện, càng cảm sâu, hiểu thấu về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, thánh nữ càng kiên trì, giúp cho chồng và con trở về với đức tin Công Giáo. Cuối cùng, khi chồng được ơn chết lành, và con trở nên một vị thánh, mẹ Mônica cũng đã được Giáo Hội tôn phong là thánh để nêu gương cho chúng ta về đời sống hết lòng kính mến Chúa và yêu thương những người thân trong gia đình.
– Đời sống của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và Mẹ Têrêsa Calcutta, cũng luôn cân bằng hai vế của giới răn mến Chúa yêu người. Các ngài càng yêu Chúa trên hết mọi sự, các ngài càng hy sinh, cầu nguyện cho anh em nhân loại nhận biết Chúa hay dấn thân phục vụ Chúa nơi những người nghèo nhất trong những người nghèo.

3. Kinh nghiệm sống đức tin của những người tốt lành

Trong kinh nghiệm đời thường, những tâm hồn bình an, hay những gia đình hạnh phúc, đều cho ta tấm gương về đời sống đức tin nơi Thiên Chúa và mối tương quan yêu thương giữa đời thường. Đó là những người đã sống Lời Chúa dạy. Tin Mừng Mát-thêu và Mác-cô đã dừng lại ở câu trả lời của Chúa Giêsu về hai điều răn quan trọng nhất là kính mến Chúa và yêu thương người. Tin Mừng Luca còn giải thích rõ hơn nữa khi vị kinh sư tiếp tục hỏi Chúa: “Ai là cận nhân của tôi?”, và Chúa Giêsu đã minh hoạ cho ông qua dụ ngôn về người Samari tốt lành, gặp một người bị nạn đã chạnh lòng thương. Rồi ông xuống lừa, tới gần, lấy dầu và rượu đổ lên vết thương và băng bó lại, mang nạn nhân về quán trọ săn sóc, và còn gửi tiền nhờ người chủ quán tiếp tục phục vụ…
Đó là cung cách sống đạo mà Giáo Hội muốn các tín hữu thể hiện lòng yêu mến Thiên Chúa ngay trong môi trường sống cụ thể của mình. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã viết: “Chỉ có việc phục vụ tha nhân mở mắt cho tôi thấy điều Thiên Chúa làm cho tôi và Ngài đã yêu tôi như thế nào” (Tđ. Thiên Chúa là Tình Yêu, số 18). Trong thư Mục Vụ 2006, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã hướng dẫn: “Khi trung thành cầu nguyện chung với nhau, thánh hóa ngày Chúa nhật, duy trì bầu khí trên thuận dưới hòa, nhường nhịn lẫn nhau giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái, gia đình anh em sẽ trở nên chứng từ hùng hồn cho đạo thánh Chúa.”

Lạy Chúa Giêsu, Chúa muốn chúng con luôn biết thể hiện đức tin qua đức ái và diễn tả lòng chúng con yêu mến Chúa qua việc thực thi công bình, quí yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Chúa.

Sr. Têrêsa Phạm Thị Oanh, OP

Comments are closed.